Luận văn Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô lên chỉ số giá chứng khoán Việt Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM  
------------  
NGUYỄN VĂN NHỦ  
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ  
VĨ MÔ LÊN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM  
------------  
NGUYỄN VĂN NHỦ  
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ  
VĨ MÔ LÊN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM  
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG  
MÃ SỐ: 60340201  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS. TS NGUYỄN VĂN SĨ  
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi  
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn được điều tra trung thực.  
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.  
TP. Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2013  
Tác giả  
NGUYỄN VĂN NHỦ  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
APT: Arbitrage Pricing Theory  
CAPM: Capital Asset Pricing Model  
CP: Cổ phiếu  
CK: Chứng khoán  
COP: Giá dầu thô thế giới  
CPI: Chỉ số giá tiêu dùng  
DN: Doanh nghiệp  
DV: Dịch vụ  
EPS: Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu  
ER: Tỷ giá hối đoái  
HNX: Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội  
HOSE: Sở giao dịch chứng khoán TP. HCM  
IIP: Chỉ số sản xuất công nghiệp  
IR: Lãi suất  
GDP: Tổng sản lượng kinh tế quốc dân  
NĐTNN: Nhà đầu tư nước ngoài  
NHNN: Ngân hàng nhà nước  
TTCKVN: Thị trường chứng khoán Việt Nam  
VNI: Chỉ số giá chứng khoán Việt Nam  
GP: Giá vàng  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
Bảng 4.1: Kết quả kiểm định ADF Level  
Bảng 4.2: Kết quả kiểm định ADF ở sai phân bậc 1  
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa DVNI và COP  
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa DVNI và CPI  
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa DVNI và DER  
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa DVNI và DGP  
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa DVNI và IIR  
Bảng 4.8: Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa DVNI và DIR  
Bảng 4.9: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến độc lập  
Bảng 4.10: Kết quả hồi quy sử dụng ma trận phương sai Newwey-West  
MỤC LỤC  
Tóm tắt  
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với mô hình phân tích hồi quy  
đa biến (phương pháp bình phương bé nhất) để phân tích mối quan hệ giữa biến chỉ  
số giá CK Việt Nam và các biến kinh tế vĩ mô bao gồm chỉ số sản xuất công nghiệp,  
lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất, giá vàng và giá dầu thô thế giới thông qua chuỗi  
dữ liệu thời gian, kiểm định nghiệm đơn vị (Unit Root Test - ADF), kiểm định nhân  
quả Granger, phân tích ma trận hệ số tương quan, kiểm định phương sai thay đổi  
(kiểm định White), kiểm định tự tương quan (Breusch-Godfrey). Kết quả kiểm định  
Granger cho thấy trong các biến độc lập nghiên cứu chỉ có chỉ số sản xuất công  
nghiệp, lạm phát và tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đến chỉ số giá chứng khoán, ở  
chiều ngược lại chỉ số giá chứng khoán không có tác động đến các biến này trong  
khi các biến còn lại không có mối quan hệ tương quan với chỉ số giá chứng khoán.  
Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan cho thấy xảy ra hiện tượng tự tương  
quan với biến phụ thuộc, và để khắc phục hiện tượng này, tác giả đã sử dụng ma  
trận phương sai Newwey-West để chạy lại mô hình hồi quy. Kết quả cho thấy trong  
6 biến kinh tế vĩ mô cũng chỉ có các biến chỉ số sản xuất công nghiệp, lạm phát và  
tỷ giá hối đoái là có tác động đến chỉ số giá chứng khoán một cách có ý nghĩa thống  
kê, trong đó biến chỉ số sản xuất công nghiệp có tác động cùng chiều và hai biến  
còn lại có tác động ngược chiều với chỉ số giá chứng khoán. Các biến tỷ giá hối  
đoái, giá vàng và giá dầu thô thế giới mặc dù dấu của hệ số hồi quy phản ánh đúng  
xu hướng tác động ngược chiều của các biến này đến chỉ số giá chứng khoán nhưng  
kết quả cho thấy tác động của các biến này đến chỉ số giá chứng khoán là không có  
ý
nghĩa  
thống  
kê.  
 
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU  
1.1 Lý do lựa chọn đề tài:  
TTCKVN đã trải qua những thay đổi lớn kể từ phiên giao dịch đầu tiên ngày  
28/7/2000, thời điểm chỉ có 2 doanh nghiệp niêm yết 2 loại cổ phiếu (REE và SAM)  
với số vốn 270 tỷ đồng và một số ít trái phiếu Chính phủ. Theo đó, vai trò của  
TTCKVN ngày càng tăng dần, trở thành một kênh dẫn vốn chính của nền kinh tế thị  
trường hiện đại, giúp gia tăng nguồn lực tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam,  
từ đó cho phép nâng cao sức mạnh kinh tế của đất nước. Cuối năm 2006, tổng vốn  
hóa của TTCK đạt 13,8 tỷ USD, chiếm 22,7% GDP và đến quý 2 năm 2010 đạt hơn  
40 tỷ USD, chiếm 39% GDP. Mặc dù vậy, quá trình phát triển của TTCKVN là  
không ổn định. Trong 5 năm đầu chập chững từ 2000 đến 2005, chỉ số VNI lúc cao  
nhất cũng chỉ đạt 300 điểm (và thấp nhất chỉ còn 130 điểm) nhưng đến giai đoạn  
năm 2006, TTCK phát triển đột phá: trong vòng một năm, chỉ số Vn-Index tăng hơn  
500 điểm, từ 300 điểm cuối 2005 lên 800 điểm cuối 2006 và đến năm 2007,  
TTCKVN chứng kiến giai đoạn bùng nổ khi chỉ số VNI đạt đỉnh 1.170,67 điểm.  
Nhưng sự tăng trưởng của TTCK không kéo dài được lâu khi thị trường rơi vào giai  
đoạn sụt giảm mạnh từ 2008 trở về sau cùng với xu thế chung của nền kinh tế do  
cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra, và đến nay chỉ số VNI chỉ còn khoảng  
500 điểm. Trong bối cảnh TTCKVN chịu tác động mạnh từ cuộc suy thoái kinh tế,  
một câu hỏi quan trọng đặt ra là liệu sự phát triển của TTCK trong những năm qua  
và sự suy thoái trong hiện tại có chịu tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô trong  
nước và thế giới. Việc tìm ra những nguyên nhân tác động đến TTCK, từ đó đưa ra  
những giải pháp thích hợp sẽ giúp chúng ta định hướng tốt cho TTCK phát triển ổn  
định và bền vững. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về mối liên hệ giữa chỉ số  
giá CK và các biến kinh tế vĩ mô, tuy nhiên tất cả các nghiên cứu đều đưa ra kết  
luận khác nhau tùy thuộc vào mô hình và phương pháp nghiên cứu của họ. Riêng ở  
Việt Nam cũng đã có một vài nghiên cứu trước đó về ảnh hưởng của các nhân tố vĩ  
mô trong nước đến chỉ số giá CK Việt Nam, riêng bài nghiên cứu của tác giả, ngoài  
 
2
việc nghiên cứu tác động của các yếu tố vĩ mô thường thấy như chỉ số sản xuất công  
nghiệp, chỉ số lạm phát, lãi suất và tỷ giá hối đoái tác giả còn nghiên cứu thêm 3  
yếu tố kinh tế vĩ mô khác đó là đầu tư trực tiếp nước ngoài, giá vàng và giá dầu thô  
thế giới.  
1.2 Tổng quan các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số giá chứng khoán  
Có thể chia các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số giá CK thành các nhóm sau đây:  
Nhân tố kinh tế: là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến CK như lợi nhuận doanh  
nghiệp, tỷ suất sinh lợi nội bộ, quyết định chi trả cổ tức, chỉ số P/E, EPS… và  
những nhân tố vĩ mô ảnh hưởng gián tiếp như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, lãi  
suất, tỷ giá, cung tiền, giá xăng dầu, giá vàng, chính sách thuế của Chính phủ.  
Nhân tố phi kinh tế: bao gồm sự thay đổi trong cơ cấu quản lý hành chính, chiến  
tranh, thiên tai và những thay đổi khác do thiên nhiên gây ra.  
Nhân tố thị trường: bao gồm những nhân tố thị trường hay nhân tố nội tại của thị  
trường như sự biến động của cung cầu, hay những thông tin liên quan đến TTCK sẽ  
ảnh hưởng đến giá của từng CP từ đó ảnh hưởng đến chỉ số giá CK.  
Các nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến chỉ số giá chứng khoán  
- Tăng trưởng kinh tế:  
Khi nhìn vào sự tăng hay giảm chỉ số giá CK ta có thể rút ra kết luận về mức độ suy  
thoái hay tăng trưởng của một nền kinh tế. Cụ thể, trong thời kỳ nền kinh tế phát  
triển, giá cả CK tăng cao, nguồn cung CK dồi dào do các doanh nghiệp cần vốn để  
phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Ngược lại, khi nền kinh tế suy  
thoái, các doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, gặp khó khăn về tài chính, lợi tức  
cổ phiếu giảm đi và CK cũng bị mất giá nghiêm trọng. Điều này là do mọi sự thay  
đổi trong các hoạt động kinh tế thực đều được phản ánh một cách đầy đủ và kịp thời  
vào giá CK, khi giá CK thay đổi chứng tỏ đã có một sự thay đổi trong nền kinh tế.  
Có thể nói giá CK, đặc biệt là chỉ số giá CK đại diện cho toàn thị trường chứng  
   
3
khoán là sự phản ánh tổng hòa những vấn đề thuộc về vi mô, cơ bản của doanh  
nghiệp niêm yết và những vấn đề thuộc tầm vĩ mô của nền kinh tế.  
Fama (1990), Schwart (1990) và Barro (1990) cho thấy sự thay đổi trong giá CK có  
thể được giải thích bởi dòng tiền trong tương lai của hoạt động kinh tế thực, mà  
dòng tiền đó lại có mối tương quan cao với tăng trưởng kinh tế. Hassapis (2002)  
nghiên cứu mối quan hệ giữa giá CK và tăng trưởng kinh tế và đã kết luận có mối  
quan hệ dương giữa 2 biến này. Còn theo kết luận của Ibrahim (2003) thì có mối  
quan hệ dương trong dài hạn giữa chỉ số giá CK và sản lượng công nghiệp ở  
Malaysia. Cuối cùng, Merikas (2006) cũng nhận thấy có mối quan hệ dương giữa  
chỉ số giá CK với tăng trưởng GDP ở Đức  
- Tỷ giá hối đoái:  
Tỷ giá hối đoái có tác động đến TTCK trên cả 2 giác độ là môi trường tài chính và  
chính bản thân hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh  
nghiệp nhập nguyên liệu hay tiêu thụ sản phẩm ở nước ngoài.  
Tỷ giá hối đoái tăng cao đã tác động tới thị trường chứng khoán khá nhiều, các  
nguồn vốn nước ngoài được đầu tư nhiều vào thị trường chứng khoán nhưng việc tỷ  
giá hối đoái tăng mạnh đã làm nảy sinh lý do khiến các nhà đầu tư nước ngoài rút  
vốn khỏi thị trường, một lượng vốn lớn nhanh chóng bị rút khỏi thị trường sẽ làm  
giá chứng khoán giảm và điều này sẽ tác động làm tăng lãi suất do kỳ vọng lạm  
phát sẽ tăng. Nếu lãi suất tăng sẽ trở thành gánh nặng cho nền kinh tế và ngược lại.  
Tuy nhiên, ảnh hưởng của tỷ giá lên hoạt động của doanh nghiệp là khác nhau: một  
đồng nội tệ mạnh (tỷ giá giảm) sẽ có lợi cho doanh nghiệp nhập khẩu trong khi đó  
doanh nghiệp xuất khẩu lại hưởng lợi khi tỷ giá tăng (đồng nội tệ giảm giá). Tương  
tự, khi đồng nội tệ mất giá có thể làm tăng hoặc giảm giá trị của doanh nghiệp tùy  
vào doanh nghiệp này là nhập khẩu hay xuất khẩu. Ở góc độ vi mô, tỷ giá hối đoái  
thay đổi sẽ ảnh hưởng đến giá trị danh mục của các công ty trong nước và đa quốc  
gia và mối quan hệ giữa sức mạnh của đồng nội tệ và chỉ số giá CK được dự đoán là  
ngược chiều nhau.  
 
4
- Lạm phát:  
Lạm phát là một trong những yếu tố vĩ mô quan trọng của nền kinh tế và nó cũng là  
yếu tố quyết định lợi tức của doanh nghiệp. Lạm phát tăng thường là dấu hiệu cho  
thấy sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ không bền vững, lãi suất sẽ tăng lên, khả  
năng thu lợi nhuận của DN bị hạ thấp khiến giá cổ phiếu giảm. Lạm phát cao còn  
làm giảm lượng tiền thực lưu thông trong nền kinh tế khiến cầu về hàng hóa giảm  
đi, góp phần giảm cầu CK và giá CK giảm. Bên cạnh đó, lạm phát tăng dẫn đến chi  
phí của việc phát hành CK cũng như chi phí của việc giữ tiền và chi phí đầu tư tăng  
lên ngay khi có lạm phát, còn giá các sản phẩm của doanh nghiệp lại thay đổi chậm  
hơn. Tất cả điều này làm giảm dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp và làm  
giảm giá CK. Lạm phát càng thấp thì càng có nhiều khả năng cổ phiếu sẽ tăng giá  
và ngược lại. Do vậy, mối quan hệ giữa hai biến này được kỳ vọng sẽ ngược chiều  
nhau.  
- Lãi suất:  
Lãi suất là giá cả mà người đi vay phải trả cho việc sử dụng vốn (hay thuê mượn  
vốn) của người cho vay trong một khoảng thời gian nhất định. Khi vay mượn vốn  
được thực hiện trong một thị trường tự do thì lãi suất phản ánh những thay đổi của  
thị trường, nó được xem là loại giá cơ bản của thị trường tài chính và có ảnh hưởng  
quan trọng đến các hoạt động kinh tế và tài chính. Khi lãi suất tăng làm tăng chi phí  
cơ hội của việc giữ tiền và vì vậy tạo sự đánh đổi giữa việc đầu tư cổ phiếu với các  
CK hưởng lãi suất, do đó cầu đầu tư CK giảm dẫn dễn giá CK giảm. Mặt khác, khi  
lãi suất tăng, chi phí vay vốn tăng làm khả năng đầu tư của doanh nghiệp bị hạn  
chế, lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp sẽ giảm đi đáng kể và do đó giá CK cũng  
sẽ giảm theo. Do vậy, mối quan hệ giữa lãi suất và chỉ số giá CK được dự đoán sẽ  
ngược chiều nhau  
- Giá dầu thô thế giới  
Dầu thô là nguồn nguyên liệu đầu vào không thể thiếu được trong sản xuất công  
nghiệp, và do vậy giá dầu được xem xét đến như một tác động của hoạt động kinh tế  
thực. Việt Nam là một nước nhập khẩu dầu lớn và giá dầu có tác động lớn đến nền  
     
5
kinh tế Việt Nam. Bất kỳ sự thay đổi nào trong giá dầu cũng đều có thể dẫn đến sự  
thay đổi của TTCK và ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của NĐT. Ngoài ra, khi giá  
dầu tăng sẽ dẫn đến chi phí vận chuyển, chi phí sản xuất và nhiên liệu tăng, từ đó  
ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Giá nhiên liệu tăng  
cũng phát đi tín hiệu về việc tăng lạm phát và làm giảm mức chi tiêu của người tiêu  
dùng. Vì vậy, rủi ro tài chính của việc đầu tư tăng lên khi có sự dao động lớn trong  
giá dầu và đối với một nước nhập siêu dầu như Việt Nam, một sự tăng lên trong giá  
dầu thế giới sẽ dẫn đến sự tăng lên tương ứng trong chi phí sản xuất, giảm các hoạt  
động kinh tế thực và do đó làm giảm dòng tiền tương lai, giảm giá CK và tác động  
xấu đến TTCK.  
- Giá vàng  
Vàng là một kênh đầu tư thay thế cho nhà đầu tư Việt Nam. Khi giá vàng tăng, nhà  
đầu tư Việt Nam có khuynh hướng đầu tư vào CK ít hơn làm cho giá CK giảm  
xuống. Do đó, mối quan hệ giữa giá vàng và chỉ số giá CK được kỳ vọng là ngược  
chiều nhau.  
Những nhà đầu tư đã đúng trong việc đa dạng hóa tài sản tốt ngay từ ban đầu hẳn  
hiểu rõ rằng khi chứng khoán không thể đứng vững thì các lớp tài sản khác có thể  
đến để giải cứu. Và vàng là thứ nổi bật nhất trong các lớp tài sản đó.  
Có một sự thật là vàng và chứng khoàn thì không song hành cùng nhau. Vì thế, khi  
chứng khoán dự định đi lên, vàng sẽ đi xuống và ngược lại. Và điều này tạo cho nhà  
đầu tư đủ cơ hội để kiếm lời từ các tài sản còn lại khi những cái khác bị thua lỗ.  
1.3 Ý nghĩa khoa học của đề tài  
Tính cấp thiết của đề tài  
Thị trường chứng khoán đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, và tính cấp thiết  
của đề tài này cũng xuất phát từ đây, thể hiện ở:  
   
6
- TTCK giữa nhiệm vụ quan trọng trong việc huy động vốn và khuyến khích  
đầu tư, do vậy đề tài này hữu dụng trong việc chỉ ra tác động của một số  
nhân tố đến VNI  
- Nó giúp nhà đầu tư xác định những nhân tố kinh tế cơ bản nào họ cần tập  
trung quan tâm khi đầu tư CK và tạo lợi thế nhất định trong việc ra quyết  
định đầu tư của họ.  
- Kết quả phân tích cũng sẽ cho thấy tính hiệu quả của TTCK Việt Nam, từ đó  
đưa ra giải pháp thích hợp để hướng TTCK phát triển hiệu quả hơn  
Luận văn đưa ra một số đóng góp chính như sau:  
- Hệ thống hóa các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số giá CK.  
- Đánh giá thực trạng, những mặt tích cực và hạn chế của TTCK Việt Nam.  
- Xem xét tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá CK Việt Nam.  
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả của TTCK Việt Nam.  
1.4 Mục tiêu nghiên cứu  
Xem xét mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán Việt Nam và 6 yếu tố kinh  
tế vĩ mô bao gồm chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP), chỉ số giá tiêu dùng  
(CPI), lãi suất (IR), tỷ giá hối đoái (ER), giá vàng (GP) và giá dầu thô thế  
giới (COP)  
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu:  
• Chỉ số giá chứng khoán Việt Nam  
• Sự tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán Việt  
Nam.  
- Phạm vi nghiên cứu:  
• TTCK Việt Nam  
   
7
• Chỉ số giá CK Việt Nam giai đoạn từ tháng 1/2005 đến tháng 5/2013  
• Chỉ số sản xuất công nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng, lãi suất ngân hàng, tỷ  
giá hối đoái, giá vàng trong nước và giá dầu thô thế giới giai đoạn từ  
tháng 1/2005 đến tháng 5/2013.  
8
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY  
2.1 Christopher Gan, Minsoo Lee, Hua Hwa Au Yong, Jun Zhang 1 với Tương  
tác giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô và TTCK: Bằng chứng từ New Zealand  
(Investment management and Financial Innovations, Vol. 3 No. 4, 2006)  
Nghiên cứu mối quan hệ trong dài hạn giữa chỉ số giá CK New Zealand và một  
nhóm 7 nhân tố kinh tế vĩ mô bao gồm lạm phát (CPI), lãi suất dài hạng (LT), lãi  
suất ngắn hạn (ST), tỷ giá hối đoái (EX), tổng sản phẩm quốc dân (GDP), cung tiền  
(M1) và giá bán lẻ xăng dầu trong nước (ROIL) với số liệu quan sát hàng tháng từ  
tháng 1/1990 đến tháng 1/2003 thông qua kiểm định đồng liên kết. Đặc biệt, tác giả  
sử dụng kiểm định Likelihood Johansen và kiểm định nhân quả Granger để xác định  
liệu chỉ số giá CK New Zealand có phải là chỉ báo hàng đầu của các biến số vĩ mô  
hay không. Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng sử dụng hàm phản ứng đẩy và phân tích  
FEVD để khảo sát mối liên hệ năng động trong ngắn hạn giữa chỉ số giá CK New  
Zealand. Hàm phản ứng đẩy cho thấy cú sốc xảy ra với CPI có tác động ngược  
chiều đến chỉ số giá NZSE40 trong suốt giai đoạn nghiên cứu và đạt mức tối đa vào  
tháng thứ tư. Kết quả này phù hợp nghiên cứu của Chen và cộng sự (1986).  
Kiểm định đồng liên kết Johansen chỉ ra rằng tồn tại mối quan hệ trong dài hạn giữa  
chỉ số NZSE40 và các biến vĩ mô được kiểm định. Kết quả kiểm định nhân quả  
Granger cho thấy chỉ số giá NZSE40 không phải là một chỉ báo hàng đầu về sự thay  
đổi của các yếu tố vĩ mô, bởi TTCK New Zealand là tương đối nhỏ so với TTCK  
của những nước phát triển. Cuối cùng, với sự giải thích sáng tạo, kết quả IRF cho  
thấy tác động của một cú sốc đến tỷ giá hối đoái, lạm phát, lãi suất dài hạn và tổng  
sản phẩm quốc dân lên chỉ số NZSE40 trong bài nghiên cứu này là phù hợp với kết  
quả thực nghiệm ở các TTCK khác. Kết quả kiểm định FEVD cho thấy chỉ số giá  
NZSE40 có thể được giải thích bởi lãi suất dài hạn, lãi suất ngắn hạn, cung tiền và  
tổng  
sản  
phẩm  
quốc  
nội.  
1 Christopher Gan, Minsoo Lee, Hua Hwa Au Yong, Jun Zhang, 2006. Macroeconomic Variables  
and Stock Market Interactions: New Zealand Evidence.  
   
9
Nhìn chung, chỉ số giá NZSE40 được quyết định bởi lãi suất, cung tiền và tổng sản  
phẩm quốc gia thực giai đoạn 1990-2003. Kết quả nghiên cứu đề xuất rằng nhận  
thức đầu tư ở New Zealand là sự pha trộn của những TTCK phát triển khác như  
Korea, Mỹ và Nhật. Do vậy, những nhà đầu tư quan tâm đến việc đầu tư vào New  
Zealand nên chú ý đến các biến vĩ mô nói trên thay vì tỷ giá hối đoái và chỉ số lạm  
phát.  
2.2 Benjamin M. Tabak 2 với Mối quan hệ năng động giữa giá chứng khoán và  
tỷ giá hối đoái: Bằng chứng của Brazil (Working Paper Series No. 124, 2006)  
Nghiên cứu mối quan hệ năng động giữa giá CK và tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế  
Brazil, sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị và kiểm định đồng liên kết, các mô hình  
cho phép hiện tượng nội sinh, để kiểm tra mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến  
này. Tác giả thực hiện kiểm định nhân quả tuyến tính và phi tuyến sau khi xem xét  
cả tính biến động và độc lập tuyến tính. Kết quả là không tồn tại mối quan hệ trong  
dài hạn nhưng có quan hệ nhân quả tuyến tính Granger từ giá CK tới tỷ giá hối đoái,  
kết quả này phù hợp với cách tiếp cận danh mục đầu tư: giá CK tác động đến tỷ giá  
hối đoái với mối tương quan âm. Ngoài ra, tác giả tìm thấy bằng chứng của quan hệ  
nhân quả phi tuyến Granger từ tỷ giá hối đoái đến giá CK và kết quả này phù hợp  
với cách tiếp cận truyền thống: tỷ giá hối đoái tác động đến giá CK.  
2.3 Ahmet Buyuksalvarci 3 với bài nghiên cứu Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế  
vĩ mô đến giá cả chứng khoán: Bằng chứng từ Thổ Nhĩ Kỳ (European Journal  
of Social Science, 2010)  
Sử dụng mô hình lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá để nghiên cứu ảnh hưởng của  
7 nhân tố kinh tế vĩ mô bao gồm chỉ số giá tiêu dùng, lãi suất, giá vàng, chỉ số sản  
xuất công nghiệp, giá dầu, tỷ giá hối đoái và cung tiền đến chỉ số giá chứng khoán  
Istabul trong giai đoạn từ 1/2003 đến 3/2010. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng lãi  
suất, chỉ số sản xuất công nghiệp, giá dầu và tỷ giá hối đoái biến động ngược chiều  
2 Benjamin M. Tabak, 2006. The Dynamic Relationship between Stock Prices and Exchange Rate:  
Evidence for Brazil  
3Ahmet Buyuksalvarci, 2010. The Effects of Macroeconomic Variables on Stock Returns: Evidence  
from Turkey  
   
10  
với chỉ số chứng khoán Istabul trong khi cung tiền có biến động cùng chiều. Ngoài  
ra, lạm phát và giá vàng có ảnh hưởng không đáng kể đến lợi nhuận của CK.  
4
2.4 Terfa Williams Abraham với Phản ứng của thị trường chứng khoán đối  
với các biến kinh tế vĩ mô tại nền kinh tế Nigeria (CBN Journal of Applied  
Statistics Vol. 2 No. 1, 2011)  
Nghiên cứu mối quan hệ giữa chỉ số giá CK tổng hợp và các biến số kinh tế vĩ mô  
được lựa chọn bao gồm lạm phát, lãi suất và tỷ giá hối đoái ở Nigeria. Tác giả sử  
dụng mô hình hiệu chỉnh sai số và kết quả cho thấy tồn tại mối tương quan âm có ý  
nghĩa trong ngắn hạn giữa TTCK và mức tái chiết khấu tối thiểu (MRR). Kết quả  
cũng cho thấy sự ổn định của tỷ giá hối đoái trong dài hạn có tác động tích cực đến  
TTCK. Mặc dù kết quả đối với trái phiếu kho bạc và lạm phát không có ý nghĩa,  
nhưng kết quả đã chỉ ra mối tương quan âm trong ngắn hạn giữa các biến này với  
giá CK, nghĩa là giữ lạm phát và lãi suất trái phiếu kho bạc ở mức thấp sẽ nâng cao  
hiệu quả của TTCK Nigeria.  
2.5 Mohd Yahya Mohd Hussin, Fidlizan Muhammad, Mohd Fauzi Abu,  
Salwah Amirah Awang 5 với Các biến kinh tế vĩ mô và TTCK Malaysia: Một  
phân tích chuỗi thời gian (Journal of Bussiness Study Quarterly 2012 Vol. 3  
No. 4, 2012)  
Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự phát triển của TTCK và các biến số kinh tế vĩ mô  
trong bối cảnh kinh tế Malaysia thông qua mô hình ước lượng VAR, sử dụng số liệu  
theo tháng từ tháng 4/1999 đến tháng 10/2007. Các biến nghiên cứu bao gồm chỉ số  
giá Kuala Lumpur Syariah, chỉ số sản xuất công nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng, cung  
tiền (M3), lãi suất và tỷ giá hối đoái. Phát hiện của bài nghiên cứu là chỉ số giá CK  
Islamic có mối đồng liên kết với các biến kinh tế vĩ mô, trong đó mối tương quan là  
âm có ý nghĩa với các biến chỉ số sản xuất công nghiệp và chỉ số giá tiêu dùng trong  
khi mối tương quan là dương có ý nghĩa với các biến cung tiền (M3) và tỷ giá hối  
4 Terfa Williams Abraham, 2011. Stock Market Reaction to Selected Macroeconomic Variables in  
the Nigerian Economy  
5 Mohd Yahya Mohd Hussin, Fidlizan Muhammad, Mohd Fauzi Abu, Salwah Amirah Awang,  
2012. Macroeconomic Variables and Malaysian Islamic Stock Market: A Time Series Analysis  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 75 trang yennguyen 21120 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô lên chỉ số giá chứng khoán Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_phan_tich_anh_huong_cua_cac_yeu_to_kinh_te_vi_mo_le.pdf