Tóm tắt Luận văn Quan niệm “Lễ” của Khổng Tử với việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT tỉnh Bình Định hiện nay

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
LÊ XUÂN CẢM  
QUAN NIỆM “LỄ” CỦA KHỔNG TỬ VỚI VIỆC  
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC  
PHỔ THÔNG TỈNH BÌNH ĐỊNH HIỆN NAY  
Chuyên ngành : Triết học  
Mã số  
: 60.22.03.01  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ  
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN  
Đà Nẵng - Năm 2015  
Công trình được hoàn thành tại  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN HỒNG LƯU  
Phản biện 1: TS. TRẦN NGỌC ÁNH  
Phản biện 2: PGS.TS. LÊ VĂN ĐÍNH  
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt  
nghiệp thạc sĩ Khoa học Xã hội và Nhân văn họp tại Đại học Đà  
Nẵng vào ngày … tháng … năm 2015  
Có thể tìm luận văn tại:  
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng  
1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài.  
Tư tưởng Nho giáo mặc dù có nhiều điểm hạn chế nhưng nó  
vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay chứng tỏ nó vẫn còn nhiều  
những giá trị tốt đẹp, phù hợp mà chúng ta cần phải nghiên cứu, học  
hỏi. Người đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển của Nho giáo là  
Khổng Tử với một hệ thống quan điểm về bản thể luận và đặc biệt là  
quan điểm về nhân sinh thể hiện trong quan niệm về chính trị xã hội  
và luân lý đạo đức. Quan niệm “Lễ” của Khổng Tử là một trong  
những nội dung quan trọng trong quan niệm về chính trị xã hội và  
luân lý đạo đức. Quan niệm về “Lễ” của Khổng Tử chứa đựng nhiều  
yếu tố tích cực, tiến bộ vì, nếu xã hội có Lễ thì xã hội mới ổn định và  
phát triển, Lễ là tiêu chuẩn để đánh giá mối quan hệ đối xử giữa  
người với người. Lễ không chỉ là lễ giáo đơn thuần, mà là điển  
chương, là pháp luật, nếp sống…mang ý nghĩa đạo đức và văn hóa  
rộng lớn trong xã hội.  
Trong những năm qua, giáo dục và đào tạo ở nước ta đã tạo  
một môi trường giáo dục toàn diện tạo điều kiện cho học sinh lĩnh  
hội kiến thức, phát triển tài năng đồng thời hoàn thiện nhân cách,  
phẩm chất đạo đức. Tuy nhiên, môi trường giáo dục học đường hiện  
nay đang bị xâm hại nghiêm trọng, đặc biệt là vấn đề đạo đức học  
sinh nói chung và học sinh bậc THPT nói riêng. Một bộ phận học  
sinh THPT có biểu hiện hành vi suy nghĩ lệch lạc và suy thoái về mặt  
đạo đức.  
Thực tế từ việc giảng dạy bậc THPT tại tỉnh Bình Định, tôi  
nhận thấy quan niệm “Lễ” của Khổng Tử cho đến nay vẫn có giá trị  
trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh nói chung cũng như học  
sinh bậc THPT tại Bình Định nói riêng nhằm khôi phục những giá trị  
2
chuẩn mực về nhân cách, đạo đức cho học sinh, đặc biệt là một bộ  
phận học sinh THPT tỉnh Bình Định lệch chuẩn như hiện nay. Đó là  
lý do tôi chọn làm luận văn cao học với đề tài: “Quan niệm “Lễ”  
của Khổng Tử với việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT tỉnh  
Bình Định hiện nay”.  
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
2.1. Mục đích nghiên cứu  
Trên cơ sở làm rõ quan niệm “Lễ” của Khổng Tử, đánh giá  
những giá trị tích cực và hạn chế trong quan niệm “Lễ” của Khổng  
Tử, đồng thời vận dụng những giá trị trong quan niệm “Lễ” của  
Khổng Tử để đưa ra những giải pháp và một số kiến nghị nhằm giáo  
dục đạo đức cho học sinh bậc THPT tại tỉnh Bình Định hiện nay.  
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
+ Làm rõ quan niệm “Lễ” của Khổng Tử.  
+ Phân tích tình hình giáo dục và thực hiện “Lễ” của học  
sinh THPT tỉnh Bình Định hiện nay.  
+ Vận dụng quan niệm “Lễ” của Khổng Tử vào việc giáo  
dục đạo đức cho học sinh THPT tỉnh Bình Định hiện nay.  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu quan  
niệm “Lễ” của Khổng Tử để từ đó rút ra ý nghĩa quan niệm “Lễ” đối  
với việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT tỉnh Bình Định hiện  
nay.  
Phạm vi nghiên cứu: Tư tưởng của Khổng Tử bàn đến nhiều  
vấn đề khác nhau về thế giới, con người, chính trị - xã hội, giáo  
dục…nhưng ở đây luận văn chỉ đề cập đến tư tưởng trong quan niệm  
“Lễ” của Khổng Tử và vận dụng những giá trị tích cực của nó vào  
3
việc giáo dục đạo đức cho học sinh bậc THPT trên địa bàn tỉnh Bình  
Định hiện nay.  
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu  
Luận văn nghiên cứu dựa trên các tác phẩm, công trình  
nghiên cứu về Khổng Tử và quan niệm “Lễ” của Khổng Tử, các  
công trình nghiên cứu về đạo đức học sinh hiện nay, đồng thời dựa  
trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,  
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục đạo đức, phẩm  
chất, nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội  
nhập quốc tế.  
Để đạt được những kết quả tốt, trong đề tài này tôi đã dùng  
phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời sử  
dụng các phương pháp lịch sử và logic, phương pháp phân tích và  
tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp  
kế thừa, nghiên cứu các tư liệu, tài liệu và kết quả của các công trình  
khoa học…  
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài  
1. Luận văn phân tích một cách khách quan, khoa học quan  
niệm “Lễ” của Khổng Tử.  
2. Liên hệ thực tế tình hình giáo dục đạo đức học sinh bậc  
THPT trên địa bàn tỉnh Bình Định. Trên cơ sở đó vận dụng những  
giá trị tích cực, phù hợp trong quan niệm “Lễ” của Khổng Tử để đưa  
ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm giáo dục đạo đức học sinh  
THPT trên địa bàn tỉnh Bình Định hiện nay.  
3. Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy  
và học tập một số nội dung về giáo dục đạo đức học sinh tại các  
trường THPT.  
4
4. Luận văn cũng có thể làm tài liệu tham khảo và cung cấp  
các luận cứ cho việc đưa ra các mục tiêu, nội dung, biện pháp đối với  
công tác giáo dục đạo đức học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Bình  
Định trong thời gian tới.  
6. Bố cục của đề tài  
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham  
khảo, nội dung luận văn gồm 03 chương, 09 tiết.  
5
CHƯƠNG 1. QUAN NIỆM “LỄ” CỦA KHỔNG TỬ  
1.1. Cơ sở hình thành quan niệm “Lễ” của Khổng Tử.  
1.1.1. Hoàn cảnh kinh tế - chính trị - xã hội Trung Quốc  
cổ đại với việc hình thành quan niệm “Lễ” của Khổng Tử.  
Thời Xuân Thu (770 – 403 TCN), có nghĩa là từ đời Chu  
Bình vương tới cuối đời Chu Uy Liệt vương; thời kỳ Chiến Quốc  
(403 – 221 TCN) từ đời Chu Ân vương đến khi Tần diệt Tề và thống  
nhất Trung Quốc.  
Về kinh tế: Công cụ bằng sắt xuất hiện làm cho năng suất lao  
động tăng cao. Cùng với sự phát triển nông nghiệp thì thủ công  
nghiệp và thương nghiệp cũng phát triển theo.  
Về chính trị - xã hội: Dưới thời Xuân Thu, xã hội lúc nào  
cũng rơi vào tình trạng hết sức hỗn độn.  
Chính vì vậy, trong thời kỳ này xuất hiện rất nhiều học  
thuyết của các nhà tư tưởng nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn  
chính trị - đạo đức của xã hội, trong đó có học thuyết của Khổng Tử,  
lấy nhân, nghĩa, lễ, trí để dạy người, lấy cương thường mà hạn chế  
nhân dục để xây dựng con người có đạo lý đúng đắn, đưa ra đường  
lối trị nước và xây dựng xã hội lý tưởng.  
1.1.2. Cuộc đời và sự nghiệp của Khổng Tử.  
Khổng Tử (551 - 479 TCN) là người sáng lập ra học thuyết  
Nho, ông là nhà tư tưởng vĩ đại của Trung Quốc cổ đại. Khổng Tử  
sinh ra tại ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ (nay là huyện Khúc  
Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc).  
Ông đã đào tạo rất nhiều thế hệ học trò, theo thống kê,  
Khổng Tử có khoảng 3000 học trò nhờ công lao dạy dỗ của ông mà  
thành tài, có địa vị quan trọng trong xã hội lúc bấy giờ, vào bậc cao  
6
hiền được 72 người (thất thập nhị hiền), trong đó Nhan Hồi và Tăng  
Sâm là giỏi hơn cả. Do đó, Khổng Tử được tôn vinh là Vạn Thế Sư  
Biểu ( người thầy tiêu biểu của muôn đời).  
1.2. Nội dung cơ bản quan niệm “Lễ” của Khổng Tử.  
1.2.1. Khái niệm “Lễ” của Khổng Tử.  
Thời kỳ Tây Chu, đời Chu Công, quan niệm “Lễ” đã có hai  
nghĩa: nghĩa cũ là tế lễ, có tính chất tôn giáo; nghĩa mới là pháp điển  
phong kiến do Chu Công chế định, có tính cách chính trị, dùng để  
duy trì trật tự kỷ cương trong xã hội. Sau dùng rộng ra ý nghĩa của  
Lễ nói đến cả phong tục tập quán. Qua đời Đông Chu, nhất là từ  
Khổng Tử, quan niệm “Lễ” có một nội dung mới, nội dung luân lý,  
chỉ sự kỷ luật về tinh thần: người có Lễ là người biết tự chủ, khắc kỷ.  
Quan niệm “Lễ” dù có thể hiểu theo khía cạnh nào, theo từng  
thời kỳ phát triển của lịch sử thì vẫn lấy quan niệm “Lễ” của Khổng  
Tử làm tiền đề lý luận, bởi mục đích của Nho gia nói chung và của  
Khổng Tử nói riêng đều giáo dục con người tuân theo các quy tắc,  
chuẩn mực đạo đức xã hội lúc bấy giờ, nhằm ổn định trật tự trong xã  
hội, tạo điều kiện cho xã hội phát triển.  
1.2.2. Nội dung quan niệm “Lễ” của Khổng Tử.  
Thứ nhất, Lễ là những quy định về nghi thức tế lễ.  
Lễ ở đây có tính chất tôn giáo, mô tả hoạt động tế tự của nó  
cũng như các nghi thức tiết lễ khác. Nhiều chương trong sách “Lễ  
ký” đã thảo luận về kiểu dáng lễ phục, mô tả đồ tế, nghi thức tang lễ.  
Quan niệm về Lễ ngoài việc bàn đến vấn đề nghi thức sùng bái tôn  
giáo, còn vô hình chung bàn đến cả các vũ điệu nông thôn, săn bắn,  
yến ẩm và các vấn đề xã giao thông thường khác.  
Thứ hai, Lễ là đường lối trị nước và luật lệ quốc gia.  
7
Trong xã hội tồn tại các mối quan hệ vua - tôi, cha - con, vợ  
- chồng, bạn bè, ngoài ra còn có người thân kẻ sơ, có việc phải việc  
trái. Cho nên, theo Khổng Tử, phải có Lễ để phân định cho rõ ràng  
những trật tự ấy, chỉ có Lễ mới làm cho con người giữ đúng chuẩn  
mực của mình trong các mối quan hệ xã hội ấy.  
Như vậy, Lễ dùng để phân biệt tôn ti, trật tự, phép tắc để tổ  
chức mối quan hệ luân lý trong gia đình, xã hội, thậm chí “Lễ” còn  
được xem là chuẩn mực đạo đức chung của con người.  
Thứ ba, Lễ là chuẩn mực đạo đức của con người trong xã  
hội.  
Lễ là chuẩn mực đạo đức trước hết phải thể hiện trong gia  
đình, đặc biệt là cha mẹ đã sinh ra mình, tiếp theo đó là chuẩn mực  
đạo đức thể hiện trong cách ứng xử của những người có chức quyền,  
bạn bè trong xã hội.  
Thứ tư, Lễ là công cụ tiết chế hành vi của con người.  
Khổng Tử cho rằng, bản tính con người vốn không thiện  
không ác, con người trở nên bất thiện là do không có Lễ. Chính vì  
thế, phải lấy Lễ để điều khiển hành vi của con người ta có chuẩn mực  
đạo đức trong các mối quan hệ giữa người với người.  
1.2.3. Vai trò quan niệm “Lễ” của Khổng Tử.  
Quan niệm “Lễ” của Khổng Tử là đạo lý, là phép tắt, là hành  
vi chính trị, qua đó giúp con người duy trì, phân rõ tôn ti trật tự trong  
gia đình, ngoài xã hội, quốc gia. Lễ có ý nghĩa giúp cho con người  
phòng ngừa trước những điều xấu xảy ra, hướng con người làm  
những điều thiện, điều hay, lẽ phải cho xã hội. Người có Lễ là người  
biết tự chủ, kiềm chế bản thân trước điều xấu, hòa đồng đúng mực  
với mọi người. Người không học Lễ sẽ không biết lập thân, không có  
được khuôn phép trong gia đình và ngoài xã hội.  
8
Ngoài ra, quan niệm “Lễ” của Khổng Tử còn huy động dư  
luận xã hội phê phán những người không tuân theo Lễ, nghĩa là  
không biết liêm sĩ, làm điều xấu, không tuân theo tôn ti trật tự thứ  
bậc trong xã hội.  
1.2.4. Mối quan hệ giữa quan niệm “Lễ” với Nhân, Nghĩa,  
Pháp, Nhạc, Hòa.  
Thứ nhất, mối quan hệ giữa Lễ với Nhân.  
Để đạt được Nhân thì con người cần phải có Lễ, Lễ là hình  
thức biểu hiện của Nhân, con người sẽ không đạt được Nhân nếu  
như: xem, nghe, nói, làm điều trái Lễ. Do đó, Nhân và Lễ là hai mặt  
của một vấn đề, Nhân là chuẩn để quy định Lễ, Lễ là phương tiện để  
thực hiện Nhân. Nhân và Lễ là hạt nhân trong tư tưởng đạo đức của  
Khổng Tử, từ Nhân và Lễ có thể dịch ra cả một hệ thống các khái  
niệm đạo đức như trung, hiếu, nghĩa, tín...  
Thứ hai, mối quan hệ giữa Lễ với Nghĩa.  
Nghĩa là căn cứ để hình thành Lễ, còn Lễ là tiêu chuẩn để  
xác định hành vi đó có Nghĩa hay không.  
Thứ ba, mối quan hệ giữa Lễ với Pháp.  
Tuy chủ trương việc cai trị xã hội bằng Đức trị của Nho gia  
(đại diện là Khổng Tử) và Pháp trị của Pháp gia (đại diện là Hàn Phi)  
là khác nhau nhưng có mối liên hệ với nhau. Xét đến cùng, Pháp trị  
cũng chỉ là một hình thức của Đức trị mà thôi. Bởi vì muốn thi hành  
được chủ trương của Pháp gia đưa ra, xã hội cũng cần có một đấng  
minh quân, một nhà vua sáng suốt, am hiểu nguyên tắc Pháp trị và  
chịu khép mình theo nguyên tắc Lễ nghĩa của xã hội Trung Quốc lúc  
bấy giờ.  
Thứ tư, mối quan hệ giữa Lễ với Nhạc.  
9
Khổng Tử cho rằng, âm nhạc làm cho mọi người đoàn kết, lễ  
nghi làm cho con người khác biệt. Nhờ đoàn kết mà con người gần  
gũi nhau, vì khác biệt mà con người tôn kính nhau. Cho nên, Lễ và  
Nhạc dùng để giữ gìn tình cảm và thái độ chính đáng của con người.  
Thứ năm, mối quan hệ giữa Lễ với Hòa.  
Theo Khổng Tử, Hòa là một trong những yếu tố nhằm khôi  
phục Lễ. Tuy nhiên, quan điểm Hòa của Khổng Tử còn có hạn chế  
đó là thủ tiêu sự đấu tranh của bậc quân tử và người nghèo.  
1.3. Đánh giá giá trị và hạn chế trong quan niệm “Lễ”  
của Khổng Tử.  
1.3.1. Giá trị trong quan niệm “Lễ” của Khổng Tử.  
. Quan niệm “Lễ” của Khổng Tử đã tạo ra một hiệu ứng xã  
hội mạnh mẽ, rộng lớn, giúp con người biết quý trọng và tuân theo  
Lễ, đồng thời khinh ghét người vô Lễ.  
Nhờ tin vào Lễ và hành động theo Lễ mà con người sống có  
trật tự trên dưới, thứ bậc rõ ràng, giúp cho xã hội ổn định trong  
khuôn khổ của thời kỳ phong kiến.  
1.3.2. Hạn chế trong quan niệm “Lễ” của Khổng Tử.  
Khổng Tử phản đối đấu tranh của quần chúng bị áp bức.  
Quan niệm “Lễ” của Khổng Tử là nhằm điều hòa mâu thuẫn  
trong xã hội, củng cố địa vị cho giai cấp thống trị.  
Quan niệm “Lễ” trở thành sợi dây ràng buộc, làm cho suy  
nghĩ và hành động của con người trở nên cứng nhắc, rập khuôn, bất  
di bất dịch. Từ đó, Lễ làm cho xã hội trở nên trì trệ, kìm hãm sự phát  
triển chung của xã hội.  
10  
Kết luận chương 1  
Có thể khẳng định quan niệm “Lễ” của Khổng Tử là một  
trong những phạm trù đạo đức có ý nghĩa phổ biến nhất trong đời  
sống văn hóa tinh thần của người dân Trung Quốc cổ đại và ảnh  
hưởng mạnh mẽ cho đến thời đại ngày nay. Quan niệm đó còn ảnh  
hưởng lớn đến hầu hết các nước phương Đông khi lấy Nho giáo làm  
hệ tư tưởng chính thống để cai trị thiên hạ, trong đó có cả Việt Nam.  
Lễ cũng là một trong năm đức cơ bản nhất của con người trong  
thuyết “ngũ thường” của Nho gia là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.  
Lễ dùng để phân biệt con người so với các loài động vật  
khác. Chỉ có con người mới dùng Lễ để đối xử với nhau còn con vật  
thì không biết đến Lễ. Chính vì thế Khổng Tử cho rằng: “người mà  
không biết phân biệt lễ nghĩa là đạo của cầm thú”.  
Quan niệm “Lễ” của Khổng Tử dùng để quy định trật tự, thứ  
bậc của con người trong xã hội như phân biệt vị trí của vua tôi, trên  
dưới, to nhỏ. Bên cạnh đó, Lễ còn là công cụ để trị quốc, quản lý các  
mối quan hệ từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội.  
Lễ dùng để tu dưỡng phẩm chất đạo đức của con người, xây  
dựng các mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Người có đạo  
đức được xem là người có Lễ.  
11  
CHƯƠNG 2. TÌNH HÌNH ĐẠO ĐỨC CỦA HỌC SINH  
THPT TỈNH BÌNH ĐỊNH HIỆN NAY  
2.1. Vài nét về tình hình đạo đức học sinh THPT ở nước  
ta hiện nay.  
Theo thống kê của Văn phòng Chủ tịch nước năm 2014 về  
việc tổng hợp xếp loại hạnh kiểm của học sinh trên 25 tỉnh và thành  
phố trên cả nước cho thấy có sự suy giảm rõ rệt về đạo đức trong học  
sinh bậc phổ thông theo thời gian, cấp học, hạnh kiểm tốt giảm, hạnh  
kiểm trung bình và yếu ngày càng tăng. “Cụ thể: Ở bậc THCS tỉ lệ  
học sinh tốt đạt 70,77% nhưng lên THPT giảm xuống còn 65,67%;  
Tỷ lệ học sinh xếp loại khá bậc THCS 23,54%, THPT: 24,9%; Trung  
bình: THCS là 5,00%, THPT: 5,58%; Yếu: THCS là 0,69%, THPT:  
3,84%”  
2.2. Nhận thức và thực trạng đạo đức của học sinh THPT  
trên địa bàn tỉnh Bình Định hiện nay.  
2.2.1. Đặc điểm chung về tình hình học sinh THPT trên  
địa bàn tỉnh Bình Định hiện nay.  
Tỉnh Bình Định là một trong những tỉnh lớn nhất vùng trung  
bộ của nước ta với diện tích 6047,2 km2, chiều dài 110 km, chiều  
ngang 55 km, dân số khoảng 1,5 triệu người. Toàn tỉnh Bình Định có  
11 huyện và thành phố, gồm: An Lão, Hoài Nhơn, Hoài Ân, Phù Mỹ,  
Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước, Vân Canh, Tây Sơn, Vĩnh Thạnh và  
thành phố Quy Nhơn.  
Hiện nay, toàn tỉnh Bình Định có 50 trường THPT với số  
lượng 65052 học sinh vào năm học 2012 - 2013, năm học 2013 -  
2014 có 58656 học sinh, năm học 2014 - 2015 là 53395 học sinh.  
2.2.2. Nhận thức của học sinh THPT tỉnh Bình Định hiện  
nay về những hành vi vi phạm đạo đức.  
12  
Mặc dù tỷ lệ học sinh có nhận thức sai lệch về đạo đức chỉ  
chiếm một số lượng nhỏ nhưng đây là điều đáng quan tâm, vì nó sẽ  
dẫn tới sự lệch lạc về đạo đức của học sinh, đồng thời nó có thể lây  
lan sang nhận thức của một số học sinh khác có nhận thức đúng đắn  
về đạo đức.  
2.2.3. Thực trạng đạo đức của học sinh THPT tỉnh Bình  
Định hiện nay.  
Cũng giống như tình hình vi phạm đạo đức của học sinh bậc  
THPT trên cả nước. Tuy nhiên, tính chất và mức độ vi phạm đạo đức  
của học sinh bậc THPT tại tỉnh Bình Định đang là điều đáng bàn.  
Tỷ lệ vi phạm đạo đức của học sinh là không hề nhỏ, những  
hành vi vi phạm nhiều nhất là: nói dối đối với người khác (ông bà,  
cha mẹ, thầy cô, bạn bè...); xả rác tại lớp học, trường học, gia đình và  
khu dân cư; nói tục, chửi thề; gian lận trong kiểm tra, thi cử; vi phạm  
các quy định về trật tự an toàn giao thông, gây gổ, đánh nhau.  
2.3. Những nguyên nhân dẫn tới hành vi vi phạm các  
chuẩn mực đạo đức của học sinh THPT tỉnh Bình Định hiện nay.  
Nguyên nhân dẫn tới hành vi vi phạm các chuẩn mực đạo  
đức của học sinh trên địa bàn tỉnh Bình Định hiện nay có rất nhiều  
nguyên nhân. Có thể chia ra thành 5 nhóm nguyên nhân cơ bản:  
Thứ nhất, nguyên nhân từ phía gia đình.  
Cha mẹ thường xuyên bận rộn công việc hoặc vắng nhà để đi  
làm kiếm tiền nên không có thời gian quan tâm đến việc giáo dục  
con cái; cha mẹ có điều kiện về kinh tế nên sẵn sàng nuông chiều,  
đáp ứng mọi nhu cầu vật chất mà ít quan tâm đến đời sống tinh thần  
của con cái; trong gia đình, các thành viên ứng xử với nhau thiếu  
chuẩn mực; gia đình có bố mẹ ly hôn; bố mẹ thiếu kiến thức về giáo  
dục và chăm sóc con cái; trong gia đình có thành viên sa vào các tệ  
13  
nạn xã hội như: rượu chè, cờ bạc, ma túy, mại dâm…hoặc làm những  
việc trái pháp luật như tham ô, tham nhũng...  
Thứ hai, nguyên nhân từ phía nhà trường.  
Về phía giáo viên bộ môn: một số giáo viên chỉ chú trọng  
việc “dạy chữ” mà chưa quan tâm đến việc “dạy người”.  
Về phía giáo viên chủ nhiệm lớp: Năng lực của một số giáo  
viên chủ nhiệm còn hạn chế, không nắm bắt được tình hình học tập  
và hoạt động phong trào chung của lớp cũng như mỗi thành viên  
trong lớp; xử phạt những học sinh vi phạm không đồng đều theo kiểu  
“bên trọng, bên khinh” làm cho học sinh không hài lòng, thậm chí là  
không nghe và làm theo.  
Về phía Đoàn trường: Đoàn trường không bám sát chương  
trình công tác Đoàn và phong trào thanh niên trường học của Đoàn  
cấp trên, không bám sát vào tình hình thực tế của đơn vị mình để đưa  
ra nội dung, biện pháp giáo dục cho sát thực, hiệu quả.  
Về phía Ban giám hiệu: Ban giám hiệu một số trường chưa  
nắm bắt cụ thể tình hình vi phạm đạo đức của học sinh để đưa ra biện  
pháp xử lý, giáo dục kịp thời. Ban giám hiệu một số trường đôi lúc  
còn thiếu gương mẫu về đạo đức, lối sống nên không phải là “tấm  
gương sáng” cho học sinh noi theo.  
Thứ ba, nguyên nhân từ phía xã hội.  
Sự buông lỏng quản lý của các cấp có thẩm quyền về hoạt  
động dịch vụ, đặc biệt là tại các địa điểm dịch vụ gần trường học, các  
tụ điểm này đôi khi dùng mọi cách dụ dỗ, lôi kéo học sinh nhằm mục  
đích kinh tế với các trò chơi giải trí như: bi-a, game, chat, hoặc cho  
dùng các chất kích thích như: thuốc lá, rượu bia…  
Thứ tư, nguyên nhân chủ quan từ phía học sinh.  
14  
Kỹ năng sống của học sinh THPT còn nhiều hạn chế, do đó,  
khả năng làm chủ bản thân chưa cao, nên trước tác động tiêu cực từ  
môi trường bên ngoài nên dễ phát sinh mặc cảm, bồng bột, cả tin…  
Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho những hiện tượng tiêu cực trong  
xã hội xâm nhập vào suy nghĩ, lối sống học sinh.  
Thứ năm, nguyên nhân từ việc quản lý, phối hợp của các lực  
lượng giáo dục.  
Việc phối hợp giữa Đoàn trường với Ban giám hiệu một số  
trường THPT trên địa bàn tỉnh chưa chặt chẽ, kịp thời và mang tính  
hiệu quả cao vì còn phụ thuộc vào trình độ, năng khiếu, kinh nghiệm,  
lòng say mê hoạt động phong trào của Bí thư Đoàn trường.  
Sự phối hợp giữa Hội PHHS với nhà trường chưa đạt được  
kết quả cao, thiếu sự kết hợp đồng bộ, chưa quan tâm kịp thời và đưa  
ra những biện pháp quản lý hiệu quả trong việc giáo dục đạo đức học  
sinh.  
Sự phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng chức năng tại  
địa phương như: công an, chính quyền địa phương chưa tốt. Khi học  
sinh vi phạm pháp luật thì việc xử lý thiếu nghiêm minh, đùn đẩy  
trách nhiệm giữa các bên để mặc cho hậu quả đã xảy ra.  
15  
Kết luận chương 2  
Độ tuổi học sinh THPT phát triển mạnh về tâm sinh lý, thích  
thể hiện bản thân, tình cảm chưa bền vững, ổn định, khả năng làm  
chủ bản thân chưa cao…tạo điều kiện cho các hành vi xấu dễ dàng  
xâm nhập vào đời sống tinh thần. Điều này dẫn đến những biểu hiện  
lệch chuẩn hành vi đạo đức của bản thân.  
Một bộ phận không nhỏ học sinh THPT vi phạm các chuẩn  
mực đạo đức như hiện nay xuất phát từ nhiều nguyên nhân: nguyên  
nhân từ phía gia đình; nguyên nhân từ phía nhà trường; nguyên nhân  
từ phía xã hội; nguyên nhân chủ quan từ phía học sinh; nguyên nhân  
từ việc quản lý, phối hợp giữa các lực lượng giáo dục. Do vậy, để  
góp phần đẩy lùi việc vi phạm đạo đức của học sinh THPT trên địa  
bàn tỉnh Bình Định thì nhất thiết cần phải có giải pháp giáo dục đúng  
đắn nhằm uốn nắn, xử lý kịp thời hành vi vi phạm đạo đức của học  
sinh.  
16  
CHƯƠNG 3. VẬN DỤNG QUAN NIỆM “LỄ” CỦA  
KHỔNG TỬ VÀO VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC  
SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH  
BÌNH ĐỊNH  
3.1. Cơ sở hình thành giải pháp.  
3.1.1 Cơ sở lý luận.  
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục theo đường lối của  
Đảng và Nhà nước là tạo ra nguồn nhân lực vừa có “đức” vừa có  
“tài” nhằm xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới và  
hội nhập quốc tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa.  
3.1.2. Cơ sở thực tiễn.  
Trong những năm gần đây, trên địa bàn tỉnh Bình Định, đa  
số học sinh THPT đều có ý thức trong học tập cũng như rèn luyện về  
phẩm chất đạo đức, nhân cách. Bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận  
không nhỏ học sinh có những hành vi lệch chuẩn về đạo đức.  
Điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp  
ủy đảng, Sở giáo dục - đào tạo Bình Định, Ban giám hiệu các trường  
THPT, cán bộ giáo viên, nhân viên và nhân dân trong toàn tỉnh Bình  
Đình để đưa ra cách nhìn nhận và hành động cụ thể nhằm giải quyết  
kịp thời, có hiệu quả một bộ phận không nhỏ học sinh THPT có hành  
vi vi phạm các chuẩn mực đạo đức như hiện nay.  
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục  
đạo đức cho học sinh THPT tỉnh Bình Định hiện nay.  
3.2.1. Dùng Lễ để tu dưỡng đạo đức, giúp học sinh xây  
dựng, hoàn thiện và phát triển nhân cách.  
Dùng Lễ là giải pháp góp phần giáo dục cho học sinh nhận  
thức những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp, nhận biết được cái đúng, cái  
sai. Qua đó hình thành lý tưởng sống cao thượng, sống có trách  
17  
nhiệm, đoàn kết, yêu thương bạn bè và cao hơn nữa là kính trọng, lễ  
phép với ông bà, cha mẹ, thầy cô, có niềm tin đối với xã hội.  
3.2.2. Dùng Lễ để góp phần xây dựng trật tự kỷ cương học  
đường.  
Dùng Lễ để góp phần xây dựng trật tự kỷ cương học đường  
hướng tới mục đích cơ bản là nhằm giáo dục cho học sinh hiểu biết  
những nội dung cơ bản về những nguyên tắc, nội quy của nhà trường  
để học hỏi và làm theo. Đồng thời, thông qua đó giúp học sinh hiểu  
được vị trí, vai trò của mình trong mối quan hệ với bạn bè, giữa thầy  
và trò, tạo điều kiện để xây dựng mối quan hệ ứng xử lành mạnh, trở  
thành nét đẹp văn hóa trong môi trường học đường.  
3.2.3. Dùng Lễ để tiết chế cảm xúc, hình thành mối quan  
hệ ứng xử tốt đẹp.  
Việc dùng Lễ để tiết chế cảm xúc học sinh có vai trò quan  
trọng trong việc ngăn cấm điều xấu ngay lúc chưa hình thành ra,  
khiến cho học sinh dần dần hướng tới điều thiện, làm theo điều thiện,  
điều tốt đẹp cho xã hội, tránh xa cái xấu, cái ác. Bởi vì “lễ nghi lần  
lần làm thay đổi ít nhất là cái bề ngoài của con người”.  
3.2.4. Xây dựng môi trường giáo dục toàn diện.  
Trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, việc đổi mới, xây  
dựng môi trường giáo dục toàn diện cần phải có sự kế thừa, tiếp thu  
có chọn lọc những giá trị kiến thức và văn hóa, đạo đức tiến bộ của  
nhân loại đã đạt được để giáo dục cho học sinh. Trong đó, quan niệm  
“Lễ” của Khổng Tử vẫn có những giá trị tốt đẹp có thể được nhà  
trường áp dụng để giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh.  
3.2.5. Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa gia đình - nhà  
trường và xã hội.  
18  
Để giáo dục đạo đức học sinh đạt kết quả tốt thì nhất thiết  
cần phải có sự phối hợp kịp thời, phù hợp giữa gia đình - nhà trường  
- xã hội.  
Sự phối hợp này cần phải thể hiện bằng những việc làm cụ  
thể và thiết thực, thống nhất trong việc quản lý, giáo dục học sinh.  
3.3. Một số kiến nghị.  
3.3.1. Đối với bản thân học sinh.  
Thứ nhất, cẩn thận trong mối quan hệ với bạn bè  
Học sinh cần phải biết chọn lựa bạn bè để giao du. Chọn  
được bạn tốt có thể làm điều thiện, tránh điều ác, được bạn tốt giúp  
đỡ. Chọn bạn không tốt thì dễ dẫn đến xa thiện gần ác, hoặc mang tai  
họa đến cho mình, cho gia đình.  
Thứ hai, phải thận trọng trong lời nói và việc làm  
Thận trọng trong lời nói và việc làm, một mặt, giúp cho học  
sinh trong việc tu dưỡng đạo đức bản thân theo các giá trị chuẩn mực  
đạo đức tiến bộ của xã hội, mặt khác, còn giúp cho học sinh tránh xa  
tai họa, giúp cho bản thân và gia đình có được cuộc sống yên ổn.  
Thứ ba, tăng cường rèn luyện kỹ năng sống cho bản thân  
Việc tăng cường rèn luyện kỹ năng sống giúp học sinh nhận  
biết và có thái độ tích cực đối với những tình huống căng thẳng, sẵn  
sàng chấp nhận những khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Bên  
cạnh đó, học sinh cũng có cách thức để ứng phó tích cực trong nhiều  
tình huống khác nhau, biết cách giải tỏa cảm xúc và làm chủ bản  
thân, luôn trau dồi kỹ năng suy nghĩ tích cực, kỹ năng giao tiếp, kỹ  
năng nhận thức cảm xúc của bản thân.  
3.3.2. Đối với gia đình.  
Thứ nhất, ông bà, cha mẹ phải luôn gương mẫu  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 11280 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Quan niệm “Lễ” của Khổng Tử với việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT tỉnh Bình Định hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_quan_niem_le_cua_khong_tu_voi_viec_giao_duc.pdf