Tóm tắt Luận án Nghiên cứu phát triển cụm làng nghề ở Hà Nội

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
NGUYỄN XUÂN HOẢN  
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN CỤM LÀNG NGHỀ Ở HÀ NỘI  
N      Kinh tế phát triển  
       
9.31.01.05  
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ  
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2021  
Công trình hoàn thành tại:  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
Người hướng dẫn: GS.TS. Phạm Thị Mỹ Dung  
Phản biện 1:  
Phản biện 2:  
Phản biện 3:  
GS.TS. Trần Thị Vân Hoa  
Trường Đại học Kinh tế quốc dân  
TS. Vũ Ngọc Huyên  
Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
TS. Đào Duy Tâm  
Chuyên gia độc lập  
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện họp tại:  
Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Vào hồi  
giờ, ngày  
tháng năm 2021  
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:  
- Thư viện Quốc gia Việt Nam  
- Trung tâm Thông tin - Thư viện Lương Định Của, Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
PHẦN 1. MỞ ĐẦU  
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI  
Trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, vai trò của các hoạt động kinh tế phi  
nông nghiệp, bao gồm các hoạt động tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn là rất  
quan trọng. Những năm gần đây, các làng nghề nông thôn ở Hà Nội đã phục hồi và  
phát triển với số lượng 1350 làng nghề và làng có nghề, tạo điều kiện để thúc đẩy kinh  
tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng giá trị sản xuất phi nông nghiệp,  
giảm tỷ trọng nông nghiệp, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn và tạo ra  
những hướng phát triển mới, đặc biệt là hình thành các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị,  
công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) nông thôn, hình thành và phát triển các  
cụm làng nghề (CLN). Hà Nội hiện có 33 CLN với 5 nhóm khác nhau trong đó nhóm  
nghề thủ công mỹ nghệ (gốm sứ, đồ đỗ mỹ nghệ và mây tre giang đan) có nhiều CLN  
nhất. Các CLN đã có những đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế xã hội (KTXH)  
địa phương nhưng do hình thành và phát triển tự phát nên dẫn đến những khó khăn bất  
cập trong quản lý cơ sở hạ tầng, giao thông, an ninh trật tự, môi trường ở địa  
phương,... Trên thực tế CLN nói chung và CLN trên địa bàn Hà Nội vẫn tồn tại, phát  
triển hoặc biến mất nhưng không được quan tâm và nghiên cứu. Đó cũng là những  
thách thức lớn đối với chính quyền và người dân địa phương. Để góp phần giải quyết  
các vấn đề bất cập trong quản lý, phát triển các CLN cần có các nghiên cứu khoa học  
đầy đủ về lý luận, thực tiễn, kinh nghiệm quản lý và đề xuất được giải pháp, chính  
sách quản lý, cơ chế hỗ trợ phù hợp nhằm khai thác các lợi ích và hạn chế các tồn tại  
của phát triển CLN ở Hà Nội. Đó là lý do chọn vấn đề "Nghiên cứu phát triển cụm  
làng nghề ở Hà Nội” làm đề tài luận án tiến sỹ Kinh tế phát triển tại Học viện Nông  
nghiệp Việt Nam.  
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI  
1.2.1. Mục tiêu chung  
Tập hợp, bổ sung, hệ thống hóa các cơ sở lý luận về CLN từ đó phân tích thực  
trạng và đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy phát triển các CLN ở Hà Nội trong  
thời gian tới.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
- Hệ thống hóa, bổ sung và phát triển các cơ sở lý luận và thực tiễn về CLN và  
phát triển CLN;  
- Phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển các CLN ở Hà Nội;  
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển CLN ở Hà Nội trong thời  
gian tới.  
1
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu là lý luận, thực tiễn về CLN và phát triển CLN đặt trọng  
tâm vào khía cạnh kinh tế quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh (SXKD) theo không  
gian địa lý của CLN.  
- Đối tượng khảo sát là các CLN, các cơ sở SXKD trong các CLN, các mối quan hệ  
kinh tế giữa các làng nghề và các cơ sở SXKD trong CLN.  
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu  
- Phạm vi nội dung: Nội dung nghiên cứu chủ yếu tập trung khía cạnh kinh tế  
trong phát triển CLN có gắn kết một số khía cạnh xã hội trong CLN.  
- Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu với các CLN thủ công mỹ nghệ là  
CLN gốm sứ, CLN đồ gỗ và CLN mây tre đan trên địa bàn Hà Nội.  
- Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng CLN đến năm 2018 và đưa ra các đề  
xuất đến năm 2030.  
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI  
- Về lý luận: Luận án đã hệ thống hóa và rõ thêm cơ sở lý luận về CLN và phát  
triển CLN, bao gồm: khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, tiêu chí đánh giá và nhân  
tố ảnh hưởng. Luận án đã định nghĩa CLN dựa trên lý thuyết về làng nghề và CCN đã  
được triển khai ở nhiều nghiên cứu thực nghiệm, cũng như những nghiên cứu tổng  
quan về cơ sở lý luận, thực tiễn. Luận án đã phân biệt sự khác biệt giữa CLN với CCN,  
CCNLN. Luận án đã giải thích khoảng trống trong các nghiên cứu liên quan về làng  
nghề, CCN, CCNLN và CLN, đặc biệt là tính liên kết ngành theo không gian địa lý  
của CLN. Những phân tích và kết luận của luận án là những kết quả có ý nghĩa bổ  
sung thêm lý luận đối với tổ chức sản xuất của các làng nghề theo hướng hình thành và  
phát triển các CLN, hình thành chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị sản phẩm làng nghề.  
- Về thực tiễn: Luận án đã luận giải cho đến nay ở Việt Nam chưa có văn bản  
pháp lý nào thừa nhận hay công nhận CLN nhưng luận án đã minh chứng trên thực tế ở  
Hà Nội đang tồn tại 33 CLN. Nên luận án nghiên cứu theo hướng này không chỉ mới mà  
còn cần thiết. Luận án đã cung cấp kinh nghiệm phát triển làng nghề, CCN, CLN ở các  
nước; cung cấp cơ sở dữ liệu cho các cơ quan quản lý Nhà nước, các địa phương tham  
khảo để hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu kế thừa và có các nghiên cứu sâu  
hơn,... Luận án đã đề xuất được các định hướng và 5 giải pháp thúc đẩy phát triển các  
CLN ở Hà Nội trong thời gian tới như: (1) Tăng cường đầu tư các nguồn lực cho phát  
triển CLN; (2) Đổi mới về tổ chức sản xuất kinh doanh; (3) Nghiên cứu và phát triển thị  
trường; (4) Tăng cường năng lực quản lý nhà nước và năng lực của cán bộ quản lý, chủ  
cơ sở SXKD; và (5) Ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển CLN.  
2
1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN  
1.5.1. Ý nghĩa khoa học  
Đề tài luận án nghiên cứu về CLN là một hướng nghiên cứu mới ở Việt Nam nên  
luận án đã cung cấp các tài liệu mang tính học thuật như tiếp cận “Cụm”, đưa ra khái  
niệm về CLN và phát triển CLN, tiêu chí xác định CLN; sử dụng mô hình hồi quy  
Binary Logit để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định về loại hình SXKD  
của các cơ sở SXKD trong CLN; xác định các mối quan hệ, mạng lưới, liên kết ngành,  
sự hình thành chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị trong CLN. Cách tiếp cận và phương  
pháp nghiên cứu mà luận án sử dụng đã kết hợp các phương pháp phân tích truyền  
thống và hiện đại, kết hợp phương pháp nghiên cứu kinh tế và nghiên cứu lịch sử,…  
Đây là những kiến thức, kỹ năng và phương pháp có giá trị khoa học trong luận án.  
Các nghiên cứu lý luận của luận án không chỉ ở mức hệ thống hóa lý luận mà ý nghĩa  
hơn còn là sự giải thích, bổ sung những lý luận mới mà các tác giả khác chưa đề xuất.  
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Vận dụng lý luận để phát hiện và phân tích lịch sử hình thành, thực trạng và đề  
xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển các CLN trên địa bàn thành phố Hà Nội có ý  
nghĩa thực tiễn trong việc giúp cho các nhà quản lý nhìn nhận CLN như một thực thể  
khách quan ra đời và phát triển gắn với làng nghề và hình thức tổ chức sản xuất địa  
phương từ đó có chính sách, giải pháp quản lý, hỗ trợ phù hợp để phát huy những ưu  
thế và hạn chế những bất cập của phát triển CLN. Luận án đã rút ra kinh nghiệm phát  
triển CLN; đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển  
CLN ở Hà Nội; cung cấp cơ sở dữ liệu cho các cơ quan quản lý ở Hà Nội và các địa  
phương tham khảo để hoạch định chính sách,... Đồng thời, luận án đã đề xuất những  
định hướng và giải pháp có căn cứ khoa học nhằm phát triển CLN trong thời gian tới  
trong bối cảnh CNH, HĐH, xây dựng nông thôn mới và hội nhập quốc tế.  
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN  
CỤM LÀNG NGHỀ  
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PH      ỂN C M L N  N HỀ  
2.1.1. Các khái niệm  
- Làng nghề: Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng,  
buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự tham gia hoạt động ngành nghề nông  
thôn. Có tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia một trong các hoạt động hoặc  
các hoạt động ngành nghề nông thôn (Chính phủ, 2018).  
- Làng có nghề: Là làng có sự du nhập của một nghề mới hoặc là sự phát triển lan  
tỏa từ các nghề truyền thống; có số hộ, số lao động sản xuất tiểu thủ công nghiệp ít  
nhất từ 10% trở lên (UBND thành phố Hà Nội, 2013a).  
3
- Cụm công nghiệp làng nghề là CCN phục vụ di dời, mở rộng SXKD của các  
doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, cơ sở sản xuất hộ gia đình, cá nhân  
trong làng nghề nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, phát triển nghề, làng  
nghề ở địa phương. CCNLN có qui mô diện tích không vượt quá 75 ha và không dưới  
5 ha (Chính phủ, 2017).  
- Cụm làng nghề là một tập hợp gồm một số làng nghề cùng loại ở gần cạnh  
nhau, tập trung trên một không gian địa lý các cộng đồng người dân, chủ cơ sở SXKD  
làng nghề và các thể chế địa phương với các mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa  
tạo nền tảng cho việc cùng tham gia vào các hoạt động của cùng một nghề tiểu thủ  
công nghiệp tại địa phương.  
- Phát triển cụm làng nghề: Là sự phát triển tổng hòa của cả kinh tế, xã hội và  
môi trường với sự lồng ghép giữa phát triển SXKD với bảo tồn bản sắc văn hóa trong  
không gian địa lý nhất định của CLN.  
2.1.2. Tiêu chí xác định cụm làng nghề  
Theo chúng tôi, tiêu chí để xác định CLN phải đạt cả 04 tiêu chí sau:  
(1) Có sự tập trung tối thiểu 3 làng nghề và làng có nghề gần nhau trong một  
không gian địa lý tham gia cùng một lĩnh vực hoạt động hoặc các hoạt động ngành  
nghề nông thôn, trong đó có ít nhất 1 làng nghề chính đã đạt tiêu chuẩn công nhận làng  
nghề theo quy định chung của quốc gia.  
(2) Có sự tập trung số lượng lớn các cơ sở SXKD chuyên môn hóa trong cùng  
một lĩnh vực hoạt động ngành nghề (ít nhất có 10% cơ sở SXKD trong các làng liền kề  
nhau), trong đó đã có các DNNVV; đã có sự hiện đại hóa và đổi mới trong cụm.  
(3) Có sự liên kết giữa các làng nghề chính và làng có nghề gần kề, hình thành  
các mạng lưới về cung cấp nguyên vật liệu, gia công thầu khoán, tiêu thụ sản phẩm,  
đào tạo nghề, chuyển giao KHCN.  
(4) Đã hình thành chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và thị trường tại địa phương liên  
quan đến hoạt động của CLN.  
2.1.3. Nội dung nghiên cứu về phát triển cụm làng nghề  
- Lịch sử hình thành, phát triển và tổ chức không gian của CLN;  
- Sự phát triển các yếu tố phục vụ sản xuất kinh doanh trong CLN;  
- Phát triển về tổ chức sản xuất kinh doanh và liên kết, hợp tác trong CLN;  
- Kết quả phát triển các CLN về kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế;  
- Ảnh hưởng của phát triển CLN tới phát triển của địa phương.  
2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển cụm làng nghề  
- Ảnh hưởng từ thể chế, chính sách của nhà nước và địa phương;  
- Ảnh hưởng của thị trường;  
4
- Ảnh hưởng của vị trí địa lý;  
- Ảnh hưởng của vốn con người và vốn xã hội;  
- Ảnh hưởng của nguồn lực của địa phương;  
- Ảnh hưởng của hội nhập quốc tế.  
2.2. CƠ SỞ  HỰC   ỄN VỀ PH      ỂN C M L N  N HỀ  
Luận án đã tổng kết kinh nghiệm phát triển CLN của các nước (Trung Quốc, Hàn  
Quốc, Indonesia, Thái Lan, Nhật Bản, Italia, Pháp, Braxin,...) và kinh nghiệm của các  
tỉnh Bắc Ninh, Nam Định, Hà Nam. Qua đó cho thấy các nước trên thế giới đều có các  
hình thức khác nhau về CCN và trong giai đoạn đầu cũng tương tự như các CLN ở  
Việt Nam hiện nay tuy tên gọi có thể khác nhau. Tại Việt Nam đã hình thành nhiều  
CLN nhưng chưa được thống kê, nghiên cứu đầy đủ.  
Từ các kinh nghiệm trong và ngoài nước có thể rút ra 6 bài học kinh nghiệm cho  
Hà Nội đối với việc phát triển CLN, bởi nó có những đóng góp tích cực cho phát triển  
tổng hợp nông thôn theo vùng, giúp khai thác tối ưu nguồn lực tại chỗ góp phần cải  
thiện và thực thi chính sách địa phương. Để quản lý phát triển các CLN thì trước hết  
Thành phố cần coi đây là một thực thể khách quan tự hình thành, phát triển và có thể  
chuyển hóa sang những dạng hiện đại hơn. Đề hạn chế sự hình thành và phát triển tự  
phát thì cần có quy hoạch phát triển CLN theo vùng và có những chính sách đồng bộ,  
đa ngành để hỗ trợ các CLN theo đúng tính chất của nó.  
PHẦN 3. Đ C Đ ỂM Đ A B N V  PHƯƠN  PH P N H ÊN CỨU  
3.1. Đ ỀU K ỆN  Ự NH ÊN K NH  Ế XÃ HỘ  CỦA H  NỘI  
3.1.1. Điều kiện tự nhiên  
- Vị trí địa lý: Hà Nội là Thủ đô, trung tâm đầu não chính trị hành chính quốc gia,  
trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học và giao dịch quốc tế của Việt Nam; có 30  
đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã (12 quận, 17 huyện và 1 thị xã); 584  
phường, xã và thị trấn (trong đó có 382 xã); tiếp giáp với 8 tỉnh đồng bằng Sông Hồng.  
- Đất đai: Diện tích đất tự nhiên của toàn thành phố là 3.345,0 km2 trong đó diện  
tích đất nông nghiệp chiếm 56,4%. Trong đó đất trồng lúa chiếm 34,5%; Đất lâm  
nghiệp chiếm 7,2%; Đất nuôi trồng thủy sản chiếm 3,2%.  
3.1.2. Điều kiện kinh tế, xã hội  
- Dân số: Mật độ dân số trung bình là 2.279 người/km2, dân cư phân bố không  
đều giữa các quận, huyện và thị xã; tốc độ đô thị hóa phát triển tương đối nhanh đã tác  
động nhiều đến lực lượng lao động làm ngành nghề ở nông thôn ngoại thành và áp lực  
về vấn đề giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân Thành phố.  
5
- Lao động: Hà Nội có lực lượng lao động dồi dào (lao động từ 15 tuổi trở lên)  
của thành phố Hà Nội năm 2018 là 3,8 triệu người (trong đó, khu vực thành thị là 2  
triệu người; khu vực nông thôn là 1,8 triệu người). Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở  
khu vực nông thôn là 75,3%; Tỷ lệ lao động đang làm việc qua đào tạo ước đạt 60,7%.  
- Phát triển kinh tế: Giai đoạn 2015 - 2018 mức tăng trưởng bình quân là  
10,73%/năm (cả nước là 6,2%). Đến năm 2020, GRDP bình quân đầu người ước đạt  
5420 USD và bằng 1,8 lần bình quân cả nước; thu nhập bình quân đầu người khu vực  
nông thôn đạt 55 triệu đồng/người/năm, trong đó có sự đóng góp của 1350 làng nghề.  
- Về phát triển giáo dục, đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Hà Nội  
luôn dẫn đầu cả nước về giáo dục, đào tạo cả về qui mô, mạng lưới trường lớp, chất  
lượng giáo dục ở các cấp học. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 53,14% năm 2015  
lên 70,2% năm 2019; tỷ lệ giải quyết việc làm sau đào tạo đạt trên 70%.  
3.1.3. Điều kiện hạ tầng kỹ thuật ở khu vực nông thôn  
Ở khu vực nông thôn, cơ sở hạ tầng ở hầu hết các xã, đặc biệt là các xã đã đạt  
tiêu chí xã NTM đều đã được cải tạo, nâng cấp khá đồng bộ. Toàn Thành phố đến nay  
có 367/382 xã (chiếm 96,1%%) được công nhận đạt chuẩn NTM và đã có 18 xã đạt  
chuẩn NTM nâng ca và 7 huyện (Đan Phượng, Đông Anh, Thanh Trì và Hoài Đức, Gia  
Lâm, Quốc Oai và thị xã Sơn Tây) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.  
Như vậy Thủ đô Hà Nội có các điều kiện về tự nhiên, kinh tế, xã hội rất thuận lợi  
để phát triển ngành nghề nông thôn nói chung và CLN nói riêng. Tuy nhiên, sự phát  
triển KTXH nói chung và nông nghiệp, nông thôn ở Hà Nội nói riêng đang đứng trước  
những thách thức không nhỏ là vấn đề giải quyết việc làm và sinh kế cho người dân  
khu vực nông thôn.  
3.2. PHƯƠN  PH P LUẬN TRONG NGH ÊN CỨU  
3.2.1. Tiếp cận nghiên cứu  
Đề tài luận án đã xây dựng khung phân tích sự phát triển CLN, sử dụng 3 tiếp  
cận nghiên cứu là: Tiếp cận nghiên cứu phát triển theo không gian địa lý, tiếp cận thể  
chế và tiếp cận hệ thống liên ngành.  
3.2.2. Phương pháp nghiên cứu  
3.2.2.1. Chọn điểm nghiên cứu  
Các làng nghề ở Hà Nội được phân thành 11 nhóm ngành nghề trong đó một số  
được khuyến khích phát triển, một số nhóm nghề không khuyến khích phát triển. Đề  
tài luận án chọn 3 CLN nằm trong nhóm được khuyến khích phát triển là CLN (gốm  
sứ Bát Tràng, đồ gỗ Chàng Sơn và mây tre đan Phũ Vinh) và chọn 300 cơ sở SXKD  
để điều tra phỏng vấn (Bảng 3.1).  
6
Bảng 3.1. Mẫu điều tra các cơ sở sản xuất kinh doanh nghề thủ công  
Cụm đồ gỗ  
Chàng Sơn  
100  
Cụm gốm sứ  
Bát Tràng  
100  
Cụm mây tre  
đan Phú Vinh  
100  
TT  
Chọn mẫu  
1
2
Số lượng đơn vị được điều tra  
Theo đăng ký kinh doanh:  
- Không đăng ký  
90  
10  
31  
69  
94  
6
- Có đăng ký  
3
Theo lĩnh vực kinh doanh  
- Sản xuất  
94  
6
36  
64  
95  
5
- Dịch vụ tổng hợp liên quan  
3.2.2.2. Phương pháp thu thập thông tin  
- Thông tin và số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn sau: Niên giám Thống  
kê của thành phố Hà Nội; Các báo cáo và văn bản của thành phố Hà Nội; Sách, báo,  
tạp chí, Internet, báo cáo khoa học,...  
- Thông tin và số liệu sơ cấp được thu thập thập bằng cách: Sử dụng phương pháp  
đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia PRA và điều tra qua bảng hỏi với phiếu thu  
thập thông tin CLN và phiếu điều tra các cơ sở SXKD trong CLN.  
- Phương pháp phân tích đánh giá: Phương pháp thống kê mô tả; phương pháp  
nghiên cứu lịch sử, phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tích kinh tế lượng  
bằng sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic, phương pháp phân tích SWOT.  
3.2.2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu  
Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu với 3 nhóm chỉ tiêu phù hợp để phản ánh các nội  
dung phân tích và được chỉ rõ trong từng nội dung phân tích, cụ thể:  
(1) Nhóm chỉ tiêu về tình hình tự nhiên, kinh tế, xã hội của thành phố Hà Nội liên  
quan đến phát triển cụm làng nghề;  
(2) Nhóm chỉ tiêu về các yếu tố sản xuất và tổ chức SXKD trong cụm làng nghề;  
(3) Nhóm chỉ tiêu về kết quả và hiệu quả phát triển của cụm làng nghề.  
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
4.1.  HỰC   ẠN  C C C M L N  N HỀ Ở  H NH PHỐ H  NỘ  
4.1.1. Sự hình thành và phân bố các cụm làng nghề ở Hà Nội  
Với các công cụ PRA và những tài liệu của địa phương, qua lược sử làng nghề  
cho thấy quá trình hình thành và phát triển của các CLN có sự thăng trầm trong các giai  
7
đoạn chuyển đổi kinh tế, xã hội của đất nước (thời kỳ thực dân phong kiến, thời kỳ chiến  
tranh, thời kỳ kinh tế kế hoạch tập trung, thời kỳ đổi mới). Từ khi Việt Nam thực hiện  
chính sách đổi mới và hội nhập quốc tế, các CLN đã phát triển nhanh, tập trung nhiều cơ  
sở SXKD làng nghề và các hoạt động có liên quan. Theo phát hiện của luận án thì hiện  
nay trên địa bàn Hà Nội đang tồn tại 33 CLN, các CLN được phân bố ở 13 quận huyện  
với 5 nhóm ngành nghề, trong đó nhiều nhất là các CLN thủ công mỹ nghệ (Bảng 4.1).  
Bảng 4.1. Phân bố các cụm làng nghề theo đơn vị hành chính của Hà Nội  
STT  
Quận/Huyện  
Thường Tín  
Phú Xuyên  
Chương Mỹ  
Hoài Đức  
Số CLN (cụm) STT  
Quận/Huyện  
Thạch Thất  
Đan Phượng  
Đông Anh  
Mỹ Đức  
Số CLN (cụm)  
1
2
3
4
5
6
7
6
5
4
4
3
2
2
8
2
1
9
10  
11  
12  
13  
1
1
Thanh Oai  
Ứng Hòa  
Phúc Thọ  
1
Quốc Oai  
1
Gia Lâm  
Tổng số  
33  
Không gian hoạt động của các CLN bao gồm cả sản xuất, mua bán và giao  
thương thường khá rộng. Từ thảo luận PRA và điều tra luận án xác định được không  
gian hoạt động cho 3 CLN nghiên cứu (Bảng 4.2).  
Bảng 4.2. Không gian hoạt động của các cụm làng nghề được nghiên cứu  
Số  
Số  
Số  
TT  
Cụm làng nghề  
Quan hệ với các tỉnh  
Ghi chú  
làng  
xã  
huyện  
1
2
CLN gốm sứ  
CLN đồ gỗ  
5
4
8
1
1
61 tỉnh thành phố  
61 tỉnh thành phố  
Quan hệ trao đổi  
nguyên vật liệu,  
gia công và tiêu  
thụ sản phẩm  
30  
3
CLN mây tre đan  
26  
6
1
Trên 50 tỉnh thành phố  
4.1.2. Sự phát triển các yếu tố sản xuất kinh doanh trong cụm làng nghề  
4.1.2.1. Mặt bằng sản xuất trong các cụm làng nghề  
Mặt bằng SXKD trong các CLN nhìn chung còn chật hẹp, chủ yếu nằm trong khu  
dân cư nên nhà ở cũng chính là xưởng sản xuất và nơi chứa nguyên vật liệu, vật tư,  
thiết bị và sản phẩm. Theo kết quả điều tra, hiện nay diện tích mặt bằng dành cho  
SXKD của các cơ sở SXKD trong CLN bình quân mới đáp ứng được 30 đến 40%; có  
trên 70% số nhà xưởng không đáp ứng yêu cầu SXKD, không đảm bảo yêu cầu về an  
toàn trong sản xuất, phòng chống cháy nổ và gây ô nhiễm môi trường.  
8
Bảng 4.3. Diện tích nhà xưởng phục vụ sản xuất trong các cụm làng nghề  
Cơ sở SXKD  
Cụm làng nghề  
CLN gốm sứ (m2/1cơ sở)  
CLN đồ gỗ (m2/1cơ sở)  
Doanh nghiệp  
Hộ gia đình  
TT  
Năm  
2016  
590  
Năm Năm  
Năm Năm Năm  
2017  
2018  
2016 2017  
2018  
200  
1
2
3
600  
600  
200  
195  
190  
200  
196  
194  
275  
380  
280  
395  
280  
400  
198  
196  
CLN mây tre đan (m2/1cơ sở)  
Qua bảng 4.3 cho thấy, trong vòng 3 năm (2016 – 2018) mặt bằng SXKD của các  
cơ sở SXKD trong các CLN có sự tăng lên không đáng kể, thậm chí giữ nguyên. Mặt  
khác, do ảnh hưởng của đô thị hóa nên đất đai dành cho sản xuất TTCN đang chuyển  
dịch sang các lĩnh vực khác có hiệu quả hơn và giá đất ở cũng như giá thuê đất trong  
các CLN tăng nhanh. Cụ thể, trong vòng 10 năm qua giá đất thổ cư và giá thuê mặt  
bằng SXKD trong CLN mây tre đan Phú Vinh tăng trung bình 70-80%; trong CLN đồ  
gỗ Chàng Sơn tăng trung bình 90-100%; trong CLN gốm sứ Bát Tràng tăng trung bình  
từ 100 - 120%.  
4.1.2.2. Cơ sở hạ tầng trong các cụm làng nghề  
Đến nay, trong các CLN có 100% đường liên xã, liên thôn trong các CLN được  
rải nhựa và bê tông; 100 % số hộ SXKD đã được sử dụng điện lưới trong SXKD,  
100% số cơ sở SXKD có điện thoại và 100% làng xã có kết nối internet; nhiều cơ sở  
SXKD đã sử dụng internet, facebook, website,... để giao dịch thương mại và quảng bá  
sản phẩm. Tuy nhiên, hệ thống cơ sở hạ tầng trong CLN hiện nay vẫn chưa đồng bộ và  
chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển SXKD như đường giao thông còn nhỏ, hẹp, không  
còn phù hợp với mật độ xe chở hàng nhiều và tải trọng lớn; hệ thống cung cấp nước  
sạch và xử lý nước thải còn thiếu, còn chung giữa nước sản xuất với sinh hoạt; thiếu hệ  
thống điện 3 pha và công suất phục vụ SXKD nên thường xảy ra quá tải, chập điện và  
cháy nổ; thiếu kho bãi để dự trữ nguyên vật liệu và để sản phẩm chờ xuất kho,…  
4.1.2.3. Nguồn nhân lực trong cụm làng nghề  
Phần lớn lao động trong các CLN là nông dân và thợ thủ công tại địa phương.  
Lực lượng lao động có tay nghề cao trong các CLN như nghệ nhân, thợ giỏi nghề,  
chuyên gia về NNNT có số lượng hạn chế. Số lượng lao động làm việc trong các cơ sở  
SXKD trong CLN có qui mô nhỏ và có sự tăng lên trong những năm gần đây. Các lao  
động có đào tạo, có tay nghề chủ yếu được truyền nghề hoặc vừa học vừa làm trong  
các cơ sở SXKD trong CLN.  
9
Bảng 4.4. Số lượng và chất lượng lao động trong cụm làng nghề ở Hà Nội  
CLN gốm sứ CLN đồ gỗ CLN mây tre đan  
T
T
Tiêu chí  
Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm  
2016 2017 2018 2016 2017 2018 2016 2017 2018  
Tổng số lao động  
(người/cs)  
Lao động thường  
xuyên (ng/cs)  
Lao động thời vụ  
(người/cs)  
Chất lượng lao  
động (%)  
Có đào tạo, có tay  
nghề (%)  
I
8
6
9
6
10  
6
7
4
7
4
8
4
8
5
8
5
9
5
1
2
II  
1
2
2
3
4
3
3
4
3
3
4
100  
78  
22  
100  
80  
20  
100  
81  
19  
100  
79  
21  
100  
80  
20  
100  
82  
18  
100  
89  
11  
100  
90  
10  
100  
90  
10  
Lao động phổ  
thông (%)  
Sự phân công lao động và chuyên môn hóa lao động trong các CLN được tổ chức  
ở ba cấp độ là: (1) Ở cấp độ trong mỗi làng nghề; (2) Ở cấp độ giữa các làng trong một  
CLN; và (3) Ở cấp độ trong vùng.  
Nhìn chung lao động trong các CLN ở Hà Nội chủ yếu là lao động ở địa phương,  
chiếm khoảng 60-95% (riêng CLN gốm sứ khoảng 40%). Do ảnh hưởng của đô thị hóa  
nên lao động khu vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp chuyển dịch sang các lĩnh vực  
khác có thu nhập và phúc lợi xã hội cao hơn lao động trong các làng nghề; giá thuê lao  
động cũng tăng nhanh. Trong vòng 10 năm qua, giá thuê lao động làm hàng mây tre  
đan tăng trung bình 8-10%/năm; lao động làm đồ gỗ tăng 10-12%/năm và lao động  
làm đồ gốm sứ tăng trung bình 10-15%/năm.  
Bảng 4.5. Thị trường lao động của các cụm làng nghề  
ĐVT: %  
Năm 2016  
Năm 2017  
Năm 2018  
T
T
Cụm làng  
nghề  
Ngoài  
địa  
phương  
Ngoài  
địa  
phương  
Ngoài  
địa  
phương  
Ghi chú  
Địa  
phương  
Địa  
phương  
Địa  
phương  
Thuê lao  
động  
1
CLN gốm sứ  
42  
58  
41  
59  
40  
60  
ngoài địa  
phương  
tăng  
2
3
CLN đồ gỗ  
62  
95  
38  
5
60  
95  
40  
5
59  
94  
41  
6
CLNmâytre  
4.1.2.4. Nguồn vốn trong cụm làng nghề  
Phần lớn các cơ sở SXKD trong CLN là hộ gia đình, SXKD ngành nghề để kiếm  
10  
sống nên qui mô vốn còn nhỏ, sử dụng nguồn vốn tự có của gia đình là chủ yếu (chiếm  
khoảng 70% tổng số vốn đầu tư cho SXKD); đối với các doanh nhiệp có qui mô vốn  
lớn hơn và vốn tự có (chiếm khoảng 50-60%); số vốn còn thiếu các cơ sở SXKD vay  
tín dụng từ 3 nguồn chính: (1) Vốn tín dụng trong dân; (2) Vay vốn từ các tổ chức tín  
dụng và ngân hàng; (3) Tạm ứng trước nguyên vật liệu hoặc tiền từ chủ đơn hàng khi  
nhận gia công hoặc hoàn thiện sản phẩm.  
Theo kết quả điều tra, hiện nay có đến 90% các cơ sở SXKD trong các CLN có  
nhu cầu vay vốn để đầu tư mở rộng nhà xưởng, trang thiết bị, mua dự trữ nguyên vật  
liệu và lưu kho sản phẩm để phục vụ SXKD. Tuy nhiên, có tới 70% trong số đó có khó  
khăn, trở ngại khi vay vốn từ các tổ chức tín dụng chính thống với 2 lý do: (1) Không  
có đủ tài sản thế chấp khi vay vốn của các tổ chức tín dụng; (2) Có tài sản thế chấp  
nhưng bị định giá trị thấp hơn giá thực tế nên tỷ lệ cho vay theo tài sản thế chấp thấp,  
không thể vay đủ vốn theo nhu cầu.  
4.1.2.5. Nguồn nguyên vật liệu của các cụm làng nghề  
Hiện nay, ở các CLN của Hà Nội thường có các khu, chợ để tập kết và mua bán  
nguyên vật liệu. Kết quả điều tra tại các CLN cho thấy, nguyên vật liệu của các CLN ở  
Hà Nội hiện nay chủ yếu mua trong nước (chiếm 60-90%), còn lại phải nhập khẩu từ  
nước ngoài (10-40% nhu cầu) tùy theo ngành nghề.  
Bảng 4.6. Thị trường cung cấp nguyên liệu cho các cụm làng nghề  
ĐVT: %  
Năm 2016  
Năm 2017  
Năm 2018  
Loại nguyên  
liệu nhập  
khẩu  
Cụm làng  
nghề  
TT  
Trong Nhập Trong Nhập Trong Nhập  
nước  
khẩu nước khẩu nước khẩu  
Đất sét, cao  
lanh, hóa  
chất,…  
1
2
3
CLN gốm sứ  
CLN đồ gỗ  
95  
5
90  
30  
65  
10  
70  
35  
90  
20  
60  
10  
80  
40  
Gỗ tự nhiên,  
MDF  
35  
70  
65  
30  
Song, mây, cỏ  
guột, tế,  
CLNmâytređan  
giang,...  
Việc cung ứng nguyên vật liệu cho các CLN chủ yếu do một số công ty, doanh  
nghiệp và tư thương có vốn lớn, quan hệ rộng bảo đảm việc tìm kiếm, khai thác, nhập  
khẩu nguyên vật liệu về bán lại trong CLN. Trước dây, các nguyên liệu phục vụ cho  
sản xuất của các CLN chủ yếu là trong nuớc, hiện nay một số nguyên liệu phải nhập từ  
11  
nước ngoài, nhất là với đồ gỗ mỹ nghệ, dệt len, khảm trai, sơn mài, song, mây,...  
Những khó khăn mà những cơ sở sản xuất hàng thủ công trong CLN đang gặp  
phải là nguồn nguyên liệu tự nhiên dần cạn kiệt và giá nguyên liệu tăng cao. Qua khảo  
sát cho thấy, trong vòng 10 năm, giá nguyên vật liệu làm hàng mây tre đan tăng trung  
bình 20%/năm; nguyên vật liệu làm đồ gỗ tăng 10%/năm và nguyên vật liệu làm đồ  
gốm sứ tăng trung bình 15%/năm. Nguyên nhân của sự tăng giá nguyên liệu là nguồn  
cung giảm xuống, chi phí khai thác, vận chuyển và công lao động tăng lên.  
4.1.2.6. Về thiết bị và công nghệ  
Trong thời gian qua, các CLN đang có sự CNH và HĐH trong SXKD; các tiến  
bộ KHCN và trang thiết bị hiện đại được áp dụng vào SXKD tăng nhanh.  
Bảng 4.7. Thị trường cung cấp thiết bị của các cụm làng nghề  
ĐVT: %  
Năm 2016  
Năm 2017  
Năm 2018  
TT  
Cụm làng nghề  
Trong Nhập Trong  
Nhập  
khẩu  
20  
Trong  
nước  
80  
Nhập  
khẩu  
20  
nước  
khẩu  
nước  
1
2
3
CLN gốm sứ  
CLN đồ gỗ  
78  
22  
80  
19  
42  
81  
48  
20  
50  
80  
50  
22  
51  
78  
49  
CLN mây tre đan  
Cụ thể, trong CLN mây tre đan đã tăng nhanh số máy trẻ mây, tre, máy sấy,  
phun sơn,..; trong CLN làm đồ gỗ tăng nhanh về máy cưa, bào, dọc, đục, thảm, sơn và  
xử lý bụi,... Còn trong CLN gốm sứ tăng nhanh về số lượng lò gaz, lò điện thay thế lò  
than củi, máy móc chế biến nguyên liệu, máy in hoa, pha chế men gốm,... Nhưng mối  
quan hệ và sự liên kết giữa người sử dụng và đơn vị nghiên cứu, sản xuất trang thiết bị,  
chuyển giao công nghệ còn yếu hoặc thậm chí không có liên kết. Các cơ sở SXKD thiếu  
thông tin và niềm tin về công nghệ nội; có xu hướng mua công nghệ từ nước ngoài do tâm  
lý “sính ngoại” và tin tưởng vào công nghệ nhập khẩu.  
4.1.3. Phát triển về tổ chức sản xuất kinh doanh trong cụm làng nghề  
4.1.3.1. Về loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh trong các cụm làng nghề  
Đến nay, hình thức tổ chức SXKD chính trong các CLN vẫn là hộ gia đình và rất  
ít hộ gia đình phát triển thành các doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bảng 4.8).  
Bảng 4.8. Các loại hình tổ chức sản xuất trong các cụm làng nghề  
CLN Gốm sứ  
CLN đồ gỗ  
CLN mây tre đan  
Loại cơ sở  
SXKD  
TT  
2016 2017 2018 2016 2017 2018 2016 2017 2018  
Tổng số  
1124 1185 1255 1410 1463 1518 2462 2537 2617  
1
2
3
Số hộ (hộ)  
Số HTX (htx)  
Số DN (dn)  
1012 1060 1121 1313 1358 1406 2429 2500 2578  
4
4
4
2
3
3
2
2
2
108  
121  
130  
95  
102  
109  
31  
35  
37  
Tỷ lệ hộ  
SXKD (%)  
4
90,04 89,45 89,32 93,12 92,82 92,62 98,66 98,54 98,51  
12  
Mặc dù Nhà nước rất khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, đặc biệt là doanh  
nghiệp nhỏ và vừa nhưng tỷ lệ doanh nghiệp còn ít. Qua bảng trên cũng cho thấy, có  
sự chuyển đổi từ hộ SXKD sang doanh nghiệp nhưng rất chậm. Nguyên nhân chủ  
yếu do cơ chế, chính sách chưa phù hợp, chưa công bằng đối với các thành phần  
kinh tế (các quy định về hành chính, về tài chính – kế toán, chính sách thuế, bảo vệ  
môi trường, sở hữu trí tuệ, vệ sinh an toàn lao động, phòng chống cháy nổ,…).  
4.1.3.2. Phát triển các mối quan hệ, mạng lưới trong cụm làng nghề  
- Các mối quan hệ trong CLN đã tạo ra và phổ biến các sáng kiến, lưu chuyển  
thông tin, lòng tin và làm giảm rủi ro về kinh tế; là môi trường thuận lợi cho trao đổi,  
đầu tư và tạo việc làm. Các mối quan hệ trong CLN cụ thể như: các mối quan hệ liên  
kết về đào tạo, cung ứng lao động; cung ứng vật tư, làm hàng gia công và tiêu thụ sản  
phẩm giữa các cơ sở SXKD, giữa các làng nghề với nhau và có sự phát triển theo thời  
gian (Hình 4.1).  
Hình 4.1. Một số quan hệ trong cụm làng nghề đồ gỗ Chàng Sơn  
- Trong CLN còn duy trì và phát triển mối quan hệ giữa các hoạt động ngành nghề  
TTCN và các ngành, lĩnh vực khác; Mối quan hệ giữa các xã có nghề với nhau; Mối quan  
hệ giữa các huyện (hoặc tỉnh) liền kề nhau cùng nằm trong không gian của CLN.  
13  
4.1.4. Kết quả phát triển các cụm làng nghề  
4.1.4.1. Phát triển về không gian địa lý của các cụm làng nghề  
Để thấy sự phát triển về không gian địa lý của các CLN luận án xem xét trên  
một số khía cạnh như: sự gia tăng về số lượng làng nghề và làng có nghề trong cụm và  
sự mở rộng không gian địa lý có liên quan đến CLN (Bảng 4.9).  
Bảng 4.9. Một số thông tin thể hiện về phát triển các cụm làng nghề  
TT  
Chỉ tiêu  
CLN gốm sứ CLN đồ gỗ  
CLN mây tre đan  
Phú Nghĩa  
Bát Tràng  
Chàng Sơn  
Không gian làng nghề chính  
ban đầu vào năm 1954 (làng)  
Làng Bát  
Tràng  
Làng Chàng  
1
Làng Phú Vinh  
Sơn  
4 xã lân cận 8 xã lân cận  
thuộc huyện thuộc Thạch  
Không gian tăng thêm đến  
năm 2018 (xã)  
6 xã lân cận thuộc  
huyện Chương Mỹ  
2
Gia Lâm  
Thất  
Số làng nghề trong xã có làng  
nghề chính năm 2018 (làng)  
3
4
2
6
7
Số làng có nghề trong CLN  
hiện nay năm 2018 (làng)  
5
30  
26  
4.1.4.2. Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm  
Việc tiêu thụ các sản phẩm của các CLN nghề rất phong phú, đa dạng nhưng chủ  
yếu vẫn là trong nước. Một số sản phẩm của CLN được bán ra thị trường nước ngoài,  
chủ yếu là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như mây tre giang đan, đồ gỗ mỹ nghệ, gốm  
sứ, sơn mài, dệt may (Bảng 4.10).  
Bảng 4.10. Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các cụm làng nghề  
ĐVT: %  
Năm 2016  
Trong Xuất Trong  
khẩu nước  
Năm 2017  
Năm 2018  
TT  
Cụm làng nghề  
Xuất  
khẩu  
Trong  
nước  
Xuất khẩu  
nước  
70  
1
2
3
CLN gốm sứ  
CLN đồ gỗ  
30  
20  
55  
71  
78  
42  
29  
22  
58  
72  
28  
25  
60  
80  
75  
CLN mây tre đan  
45  
40  
Trong việc tiêu thụ sản phẩm của các CLN ở Hà Nội thì các doanh nghiệp tư nhân  
và tư thương đến trực tiếp các cơ sở SXKD trong CLN để đặt hàng, cung cấp nguyên  
vật liệu cho các cơ sở làm gia công và thu mua lại sản phẩm để tiêu thụ. Đồng thời họ  
cũng tích cực tham gia các Hội chợ trong nước và quốc tế, tìm kiếm đối tác, thị truờng  
tiêu thụ sản phẩm. Đến nay, sản phẩm của các CLN này đã đáp ứng được các điều kiện  
tiêu thụ tại các thị trường khó tính nhất như Nhật, EU và Mỹ.  
14  
4.1.4.3. Phát triển về kinh tế  
Sự hình thành và phát triển của CLN đã đóng một vai trò quan trọng trong việc  
chuyển đổi cơ cấu kinh tế, CNH, HĐH khu vực nông thôn ngoại thành, đặc biệt ở các  
địa phương có CLN.  
Bảng 4.11. Cơ cấu kinh tế của các xã có làng nghề chính trong cụm năm 2017  
Xã Bát  
Tràng  
1400  
-
Xã Chàng  
Sơn  
XãPhú  
Vinh  
470  
TT  
Chỉ tiêu  
I
Tổng Giá trị sản phẩm (Tỷ đồng)  
Nông nghiệp (Tỷ đồng)  
CN, TTCN, Xây dựng (Tỷ đồng)  
Thương mại và dịch vụ (Tỷ đồng)  
751  
27  
452  
272  
1
2
3
80  
256  
134  
980  
420  
II Cơ cấu giá trị sản phẩm (%)  
100,0  
-
100,0  
4,0  
100,0  
17,0  
1
2
3
Nông nghiệp (%)  
CN, TTCN, Xây dựng (%)  
Thương mại và dịch vụ (%)  
70,0  
30,0  
60,0  
36,0  
54,5  
28,5  
Nguồn: UBND xã Bát Tràng, Chàng Sơn, Phú Nghĩa (2017)  
Sự phát triển của các CLN đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy quá  
trình CNH, HĐH và đô thị hóa nông thôn. Đặc biệt, hình thành nên chuỗi giá trị và thị  
trường hàng hóa và dịch vụ ở địa phương; dần dần hình thành một khu vực có lối sống  
đô thị rõ rệt, từng bước được đô thị hóa ngay tại các làng xã trong CLN.  
Bảng 4.12. Một số thay đổi của các cơ sở sản xuất kinh doanh trong cụm  
làng nghề mây tre đan Phú Vinh  
STT  
1
Chỉ tiêu  
Số cơ sở SXKD điều tra  
Số đăng ký kinh doanh  
Diện tích đất nông nghiệp  
Số hộ có sử dụng đất NN  
Diện tích đất ngành nghề  
(Trong đó đất thuê)  
ĐVT  
Cơ sở  
%
Năm 2006*  
45  
Năm 2018**  
45  
34,40  
1116  
70,00  
250  
20,00  
200  
66,70  
900  
45,00  
330  
35,00  
250  
2
3
m2/cơ sở  
%
m2/cơ sở  
%
Diện tích nhà xưởng  
m2/cơ sở  
4
Lao động và thu nhập  
Lao động thường xuyên  
Lao động thời vụ  
ng/cơ sở  
ng/cơ sở  
trđ/người  
Trđ/cơ sở  
Trđ/cơ sở  
7
2
3,5  
10  
3
5,6  
Thu nhập bình quân/tháng  
Vốn chủ sở hữu bình quân  
5
6
402,0  
200,0  
550,0  
280,0  
Tài sản cố định bình quân  
Nguồn: * Theo Điều tra của tác giả cùng nhóm nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển hệ thống  
nông nghiệp (năm 2006) ; **Điều tra lặp lại của tác giả (năm 2018)  
15  
Qua bảng 4.12 cho thấy, sau 12 năm đã có sự phát triển và chuyển đổi loại hình  
tổ chức sản xuất (số cơ sở có đăng ký kinh doanh tăng từ 34% lên 67%); sự phát triển  
về tính chuyên nghiệp hóa (tỷ lệ sử dụng đất nông nghiệp từ 70% xuống còn 45%); Sự  
phát triển về cơ sở vật chất (mặt bằng sản xuất, tài sản cố định), lao động, vốn; kết quả  
và hiệu quả SXKD năm 2018 cũng tăng lên so với 12 năm trước.  
Bảng 4.13. Thay đổi kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các cơ sở  
trong cụm làng nghề mây tre đan Phú Vinh  
STT  
1
2
3
4
5
6
7
8
Chỉ tiêu  
ĐVT  
Trđ/cs  
Trđ/cs  
Trđ/cs  
Trđ/cs  
lần  
lần  
ROA  
ROE  
Năm 2006* Năm 2018** 2018/2006 (%)  
Doanh thu  
Chi phí  
850  
651  
199  
1083  
810  
273  
245,70  
0,75  
127,41  
124,42  
137,19  
137,19  
97,40  
Lợi nhuận trước thuế  
Lợi nhuận sau thuế  
Chi phí/ 1 đồng doanh thu  
Lợi nhuận/ 1 đồng doanh thu  
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản  
Tỷsuất sinh lời trên vốn chủ sở hữu  
179,10  
0,77  
0,23  
0,90  
0,25  
0,88  
108,70  
97,78  
0,45  
0,45  
100,00  
Nguồn: * Theo Điều tra của tác giả cùng nhóm nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển hệ thống  
nông nghiệp (năm 2006); **Điều tra lặp lại của tác giả (năm 2018)  
Qua bảng 4.13 cho thấy, doanh thu và chi phí của các cơ sở SXKD trong cụm  
cũng tăng lên về qui mô và hiệu quả SXKD trong 12 năm, nhưng do doanh thu tăng  
nhanh hơn nên lãi tăng nhanh hơn.  
4.1.4.4. Phát triển về xã hội  
Sự phát triển của CLN đã tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động  
vào các ngành nghề phi nông nghiệp, nhất là lao động nông nhàn, lao động trên độ tuổi  
hay dưới độ tuổi tại địa phương (Bảng 4.14).  
Bảng 4.14. Số lượng việc làm và thu nhập trong cụm làng nghề ở Hà Nội  
CLN gốm sứ  
CLN đồ gỗ  
CLN mây tre đan  
TT  
Chỉ tiêu  
Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm  
2016 2017 2018 2016 2017 2018 2016 2017 2018  
Tổng số lao  
động (người)  
I
12150 12500 12900 6800 7000 7250 8700 9000 9250  
9250 9500 9800 5700 5900 6200 6850 7100 7450  
Lao động  
thường xuyên  
1
2
Lao động thời vụ 2900 3000 3100 1100 1100 1050 1850 1900 1800  
II  
Thu nhập (trđ/ng/tháng)  
LĐ có đào tạo,  
có tay nghề  
1
2
7.10  
4.80  
8.75  
5.25  
9.10 6.90 8.55 9.00 5.50 6.00  
5.5 4.10 4.55 5.25 3.80 4.05  
7.00  
4.50  
LĐ phổ thông  
16  
Việc phát triển CLN cũng góp phần nâng cao thu nhập của người dân và thu hẹp  
khoảng cách giữa thành thị và nông thôn; Giải quyết tốt các vấn đề xã hội như văn  
hóa, giáo dục, giảm tệ nạn xã hội trong CLN,… Phát triển CLN gắn liền với bảo tồn  
giá trị văn hóa dân tộc vì nó là sự kết tinh của lao động vật chất và lao động tinh thần,  
được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và óc sáng tạo của người thợ thủ công.  
Tóm lại, bên cạnh những ảnh hưởng tích cực đến phát triển kinh tế, xã hội của  
địa phương và vùng lân cận thì sự phát triển của các CLN cũng đã và đang gây ra một  
số khó khăn, bất cập cho chính quyền và nhân dân địa phương, cụ thể: Tạo ra sự quá  
tải và áp lực nên hệ thống cơ sở hạ tầng (đường giao thông, đường điện, hệ thống cung  
ứng và tiêu thoát nước); Gây ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí và tiếng ồn);  
Sử dụng nguyên liệu tự nhiên với số lượng lớn nên đang làm cạn kiệt dần nguồn  
nguyên liệu và tài nguyên của đất nước; Làm cho giá đất, thuê đất ở địa phương tăng  
lên;... Những vấn đề đó cần được chính quyền các cấp và cộng đồng ở địa phương có  
giải pháp để xử lý và tháo gỡ trong thời gian tới.  
4.1.5. Yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển cụm làng nghề ở Hà Nội  
a. Ảnh hưởng của thể chế, chính sách của nhà nước và địa phương  
Ảnh hưởng của chính sách chung của nhà nước và Thành phố về: Cơ chế, chính  
sách quản lý và vận hành nền KTXH của đất nước và ảnh hưởng của một số chính  
sách cụ thể như: Chính sách về tín dụng; đất đai; quyền sở hữu về tài sản; nguyên liệu  
phục vụ sản xuất; đào tạo nghề; thương mại và hội nhập quốc tế.  
b. Ảnh hưởng của thị trường  
- Thị trường đầu vào: bao gồm thị trường cung cấp nguyên liệu; lao động; thị  
vốn; thiết bị và khoa học công nghệ được hình thành và phát triển mạnh tại các CLN.  
- Thị trường tiêu thụ: Từ thời kỳ phong kiến, làng nghề ở Hà Nội đã phát triển  
nhờ kết nối, giao thương giữa 36 phố phường với các làng nghề thủ công. Sau này, thị  
trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề phát triển đến các địa phương khác trong  
nước và xuất khẩu. Vì thế SXKD ngành nghề được mở rộng trong từng cơ sở sản xuất,  
trong từng làng nghề và lan tỏa sang các làng lân cận và hình thành lên các CLN.  
c. Ảnh hưởng của vị trí địa lý với sự gần kề về địa lý và tổ chức  
- Sự gần kề về địa lý giúp việc cung cấp nguyên liệu, lao động, chuyển giao  
KHCN; trao đổi thông tin; cung cấp dịch vụ và tiêu thụ các sản phẩm dễ dàng, nhanh  
chóng, giảm chi phí.  
- Sự gần kề về tổ chức: Sự giống nhau về loại hình tổ chức, cách thức SXKD kết  
hợp với các các mạng lưới quan hệ gia đình, dòng họ, láng giềng,... đã tạo ra hiệu quả  
cao trong quản lý, sản xuất và giảm chi phí SXKD.  
17  
d. Ảnh hưởng của vốn con người và vốn xã hội trong cụm làng nghề  
- Ảnh hưởng của vốn con người: Trong CLN, có một số nghệ nhân và thợ giỏi có  
tay nghề cao, có đạo đức, yêu nghề, luôn có sự đổi mới và sáng tạo; dạy nghề, truyền  
nghề; có nguồn lao động lành nghề dồi dào, đồng thời đang xuất hiện một tầng lớp  
doanh nhân mới; các doanh nhân mới là người có óc kinh doanh, dám đổi mới, dám  
chịu rủi ro và làm các việc chưa ai làm mà không sợ thất bại.  
- Ảnh hưởng của vốn xã hội: Vốn xã hội trong CLN cụ thể là các mối quan hệ; các  
hiểu biết xã hội; các phong tục, tập quán về văn hóa, xã hội; các thể chế pháp lý, thể chế  
của cộng đồng; danh tiếng của làng nghề;... tất cả những khía cạnh trên đã được các chủ  
cơ sở SXKD và các tác nhân trong CLN khai thác tối đa trong các hoạt động SXKD  
ngành nghề và giúp cho các hoạt động SXKD trong CLN linh hoạt, mềm dẻo, hiệu quả.  
đ. Ảnh hưởng của nguồn lực địa phương  
- Ảnh hưởng từ kỹ thuật và công nghệ truyền thống: Trong CLN các cơ sở  
SXKD luôn áp dụng và kế thừa kỹ thuật, công nghệ truyền thống, bí quyết và giữ nghề  
nhưng do nhiều công nghệ còn thủ công, thô sơ nên năng suất lao động thấp, chất  
lượng sản phẩm không đồng đều. Vì vậy, việc áp dụng công nghệ mới, hiện đại hóa  
trang thiết bị đã góp phần năng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả SXKD.  
- Ảnh hưởng của các yếu tố lịch sử và văn hóa: Tại các làng nghề có rất nhiều các  
di tích văn hóa, lịch sử và di sản quốc gia; đó là nơi nhiều du khách ở địa phương và  
thập phương đến tham quan du lịch và thực hiện các hoạt động tâm linh. Từ đó, các  
thông tin về sản phẩm và các yếu tố đầu vào phục vụ SXKD của làng nghề cũng được  
thông tin, lan truyền đến nhiều địa phương khác. Bên cạnh đó, nguồn lực của địa  
phương còn được thể hiện ở điều kiện đất đai, lao động, nguyên nhiên liệu, cơ sở hạ  
tầng, các chuỗi cung ứng và thị trường địa phương với các dịch vụ cần thiết.  
e. Ảnh hưởng của hội nhập quốc tế  
Việc toàn cầu hóa về kinh tế, văn hóa và cuộc cách mạng KHCN diễn ra mạnh  
mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức có tác động sâu  
sắc đến sự phát triển KTXH của các nước trên thế giới. Thông qua việc hội nhập quốc  
tế, các CLN đã có cơ hội để phát triển SXKD bằng việc mở rộng, phát triển đồng bộ  
các loại thị trường, trao đổi thương mại, công nghệ và dịch vụ,... Tuy nhiên, các cơ sở  
SXKD trong CLN cũng đứng trước thách thức cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ với các  
doanh nghiệp nước ngoài khi tham gia vào thi trường quốc tế và chuỗi giá trị toàn cầu.  
f. Phân tích định lượng ảnh hưởng tới một số chỉ tiêu phát triển cụm làng nghề trên  
địa bàn thành phố Hà Nội  
Kết quả ước lượng mô hình Binary logit sử dụng phần mềm SPSS 22 thông qua hệ  
thống kiểm định Wald cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển SXKD của CLN  
thông qua chỉ số Sig, với sig <10% là có ý nghĩa thống kê. Kết quả phân tích cho thấy:  
18  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 16380 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Nghiên cứu phát triển cụm làng nghề ở Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_nghien_cuu_phat_trien_cum_lang_nghe_o_ha_noi.pdf