Luận văn Tổ chức và hoạt động của thanh tra nội bộ từ thực tiễn Đại học Quốc gia Hà Nội

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
VŨ HẢI UYÊN  
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA NỘI  
BỘ TỪ THỰC TIỄN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH  
Hà Nội, 2018  
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
VŨ HẢI UYÊN  
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA NỘI BỘ  
TỪ THỰC TIỄN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính  
Mã số: 8.38.01.02  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
TS. NGUYỄN TUẤN KHANH  
Hà Nội, 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của tôi. Các thông tin số  
liệu, nêu trong luận văn là trung thực. Việc tham khảo số liệu, thông tin, ví dụ trong  
luận văn đều có trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác.  
Tác giả luận văn  
Vũ Hải Uyên  
MỤC LỤC  
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1  
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THANH  
TRA NỘI BỘ TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP DO THỦ  
TƢỚNG CHÍNH PHỦ QUYẾT ĐỊNH THÀNH LẬP ..........................................8  
1.1. Quan niệm về thanh tra trong đơn vị sự nghiệp công lập do Thủ tướng Chính  
phủ quyết định thành lập.............................................................................................8  
1.2. Thẩm quyền, nội dung, hình thức, đối tượng, trình tự thủ tục thanh tra nội bộ  
trong đơn vị sự nghiệp công lập do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập .....18  
1.3. Yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động thanh tra nội bộ trong đơn vị sự  
nghiệp công lập do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập...............................28  
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH  
TRA NỘI BỘ TỪ THỰC TIỄN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI.....................33  
2.1. Khái quát địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Đại học Quốc  
gia Hà Nội .................................................................................................................33  
2.2. Thực tiễn tổ chức và hoạt động của các tổ chức thanh tra nội bộ ở Đại học  
Quốc gia Hà Nội thời gian qua..................................................................................36  
2.3. Đánh giá chung về thực trạng tổ chức và hoạt động.........................................57  
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP KIỆN TOÀN TỔ CHỨC VÀ  
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA THANH TRA NỘI BỘ TRONG ĐƠN VỊ SỰ  
NGHIỆP CÔNG LẬP DO THỦ TƢỚNG CHÍNH PHỦ QUYẾT ĐỊNH  
THÀNH LẬP ...........................................................................................................64  
3.1. Phương hướng....................................................................................................64  
3.3. Giải pháp chung về đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ  
chức thanh tra nội bộ trong các đơn vị sự nghiệp công lập do Thủ tướng Chính  
phủ quyết định thành lập...........................................................................................67  
3.4. Giải pháp và kiến nghị đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của  
tổ chức thanh tra nội bộ trong Đại học Quốc gia Hà Nội .........................................75  
KẾT LUẬN..............................................................................................................78  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................81  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
ĐVSNCL  
ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP  
DANH MỤC BẢNG  
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp tiếp nhận và giải quyết đơn, thư khiếu nại tố  
cáo cấp Đại học Quốc gia Hà Nội 2015-2017 ...................................... 47  
Bảng 2.2: Cơ cấu cán bộ làm công tác thanh tra và pháp chế tại Đại học  
Quốc gia Hà Nội tính đến ngày 20 tháng 3 năm 2018.......................... 53  
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp tiếp nhận và giải quyết đơn, thư khiếu nại tố  
cáo cấp đơn vị trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội 2015-2017.......... 56  
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ  
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức Đại học Quốc gia Hà Nội ....................................... 34  
Biểu đồ 2.1: Tổ chức làm công tác thanh tra và pháp chế tại Đại học  
Quốc gia Hà Nội giai đoạn 2015 – 2017 .............................................. 49  
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ tổ chức thanh tra trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội  
thực hiện theo đúng quy định tính đến hết năm 2017........................... 52  
Biểu đồ 2.2: Cán bộ làm công tác thanh tra pháp chế tại Đại học Quốc  
gia Hà Nội giai đoạn 2015-2017........................................................... 54  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu  
Thanh tra có vai trò quan trọng, phục vụ thiết thực cho sự lãnh đạo của Đảng và  
sự quản lý của Nhà nước đối với đời sống xã hội. Nó là chức năng thiết yếu của  
quản lý, là công cụ phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Thanh  
tra luôn luôn gắn liền với quản lý, là một nội dung của quản lý. Thanh tra còn là  
một phương thức phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, phát hiện, phòng ngừa và  
xử lý những biểu hiện quan liêu, tham ô, lãng phí và những hành vi vi phạm pháp  
luật trong hoạt động quản lý.  
Ngay sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập, ngày 23 tháng 11  
năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 64 thành lập Ban thanh tra đặc  
biệt, tiền thân của tổ chức Thanh tra Nhà nước hiện nay. Qua hơn 70 năm, phát  
triển, tổ chức và hoạt động thanh tra đã góp phần quan trọng và không thể thiếu  
trong hoạt động quản lý Nhà nước, nhằm đảm bảo hiệu lực cũng như hiệu quả trong  
công tác quản lý Nhà nước.  
Từ khi tổ chức thanh tra ra đời và hoạt động đến nay, đã có nhiều văn bản quy  
phạm pháp luật được ban hành như Pháp lệnh Thanh tra 1990; Luật Thanh tra 2004  
và Luật Thanh tra 2010… góp phần quan trọng trong việc bổ sung cơ chế, chính  
sách, pháp luật nhằm khắc phục kịp thời những sơ hở trong công tác quản lý góp  
phần quan trọng phát triển kinh tế và tăng cường trật tự kỷ cương xã hội. Hệ thống  
các cơ quan có chức năng thanh tra hiện nay gồm các cơ quan thanh tra nhà nước và  
các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Bên cạnh đó,  
trong nhiều cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà  
nước cũng thành lập các tổ chức thực hiện chức năng thanh tra trong nội bộ. Đối với  
các đơn vị sự nghiệp công lập, đặc biệt là các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc  
Chính phủ hoặc do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập tuy pháp luật về  
thanh tra không trực tiếp quy định về mô hình tổ chức và chức năng, nhiệm vụ  
quyền hạn của các tổ chức nội bộ. Nhưng nhìn chung, việc thành lập các tổ chức  
này là nhu cầu thiết yếu và hoạt động của các tổ chức thanh tra trong các đơn vị này  
đã góp phần quan trọng trong thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống  
tham nhũng thuộc phạm vi thẩm quyền của đơn vị sự nghiệp công lập.  
Thời gian qua, cùng với những kết quả đã đạt được, tổ chức và hoạt động thanh  
tra nội bộ trong những đơn vị sự nghiệp công lập còn nhiều hạn chế, bất cập. Về tổ  
chức, hiện chưa có mô hình tổ chức thanh tra thống nhất trong các đơn vị sự nghiệp  
1
công lập. Cơ sở pháp lý về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ  
chức thanh tra trong đơn vị sự nghiệp công lập. Về hoạt động, cơ sở pháp lý về hoạt  
động thanh tra nội bộ trong các đơn vị sự nghiệp công lập chưa hoàn thiện. Hoạt  
động thanh tra nội bộ được thực hiện trên cơ sở áp dụng các quy định của pháp luật  
về thanh tra và các văn bản về lĩnh vực tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo và phòng,  
chống tham nhũng mà hiện nay là Luật Thanh tra năm 2010, Luật Tiếp công dân  
năm 2013, Luật Khiếu nại 2011, Luật Tố cáo 2011, Luật Phòng, chống tham nhũng  
và các văn bản hướng dẫn thi hành.  
Thực tiễn cho thấy các hoạt động còn những bất cập sau:  
Về thanh tra, thi hành Luật Thanh tra còn nhiều hạn chế, yếu kém, nhất là tình  
trạng thanh tra chồng chéo, trùng lắp, kéo dài thời gian thanh tra, thậm chí còn có  
tiêu cực trong hoạt động thanh tra. Bên cạnh đó, mặc dù có những chuyển biến tích  
cực song tình hình khiếu nại, tố cáo vẫn tiềm ẩn nguy cơ bất ổn, như khiếu nại liên  
quan đến vấn đề chính trị, tôn giáo, yếu tố nước ngoài, nhiều người tham gia, bị các  
thế lực lợi dụng, tại một số nơi xuất hiện điểm nóng…[32]  
Về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo trong thời gian qua cho  
thấy tồn tại một số vướng mắc, bất cập như: Quy định về tên gọi, mô hình tổ chức,  
nhiệm vụ, quyền hạn, cơ chế hoạt động của tổ chức tiếp công dân còn thiếu thống  
nhất. Nhiệm vụ, quyền hạn của người phụ trách trụ sở tiếp công dân, người làm  
công tác tiếp công dân chưa được quy định đầy đủ và rõ ràng. Tiêu chuẩn, chế độ  
chính sách, trình tự, thủ tục tiếp công dân đối với người tiếp công dân chưa được  
quy định đầy đủ và cụ thể. Việc tiếp công dân còn hình thức, chưa hiệu quả, có nơi  
còn biểu hiện thiếu tinh thần trách nhiệm, thái độ không đúng mực đối với người  
dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; tình trạng né tránh trách nhiệm,  
hướng dẫn công dân không đúng quy định vẫn còn xảy ra. Chế độ thông tin về tình  
hình khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại Trụ sở tiếp công dân, cơ quan, tổ  
chức, đơn vị chưa được đầy đủ, kịp thời; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục  
pháp luật về khiếu nại, tố cáo và tiếp công dân chưa được quan tâm đúng mức.  
Về phòng, chống tham nhũng, công tác phát hiện, xử lý tham nhũng chưa đáp  
ứng yêu cầu, số vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện còn ít, một số vụ việc xử  
lý còn kéo dài, chưa nghiêm, thu hồi tài sản tham nhũng đạt kết quả thấp, gây tâm lý  
bức xúc và hoài nghi trong xã hội về quyết tâm phòng, chống tham nhũng của Đảng  
và Nhà nước ta; các quy định về xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ  
chức, đơn vị khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức đơn vị mình  
2
còn thiếu rõ ràng, chưa thực chất và không khuyến khích được tính chủ động của  
người đứng đầu trong phòng ngừa, phát hiện hành vi tham nhũng; quy định về trách  
nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm  
toán, giải quyết tố cáo nhằm nâng cao hiệu quả phát hiện tham nhũng chưa có sự  
phân định rõ ràng nhằm tăng cường tính chủ động và điều phối trong hoạt động  
phối hợp giữa các cơ quan…  
Bên cạnh đó, lực lượng làm công tác thanh tra nội bộ không ổn định… trình độ  
của một số cán bộ thanh tra chưa đáp ứng được yêu cầu và kỹ năng nghề nghiệp,  
cũng như phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị khi thực hiện nhiệm vụ được  
giao. Những tồn tại, bất cập đã ảnh hưởng không nhỏ đến tổ chức hoạt động của  
công tác thanh tra, chưa đáp ứng được yêu cầu cũng như mục đích của hoạt động  
thanh tra theo Điều 2 Luật Thanh tra năm 2010.  
Cùng với yêu cầu và đòi hỏi tổ chức và hoạt động thanh tra nói chung, tổ chức và  
hoạt động của thanh tra nội bộ trong đơn vị sự nghiệp do Thủ tướng Chính phủ quyết  
định thành lập, cũng như tổ chức và hoạt động của thanh tra nội bộ từ thực tiễn Đại học  
Quốc gia Hà Nội nói riêng, cần tiếp tục nâng cao nhận thức về vị trí và vai trò của công  
tác thanh tra trong quá trình đổi mới căn bản, toàn diện trong giáo dục; kiện toàn tổ  
chức, đội ngũ làm công tác thanh tra nội bộ, cộng tác viên thanh tra; nâng cao chất  
lượng và hiệu quả của hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, giải quyết tố cáo,  
phòng, chống tham nhũng; tập trung thanh tra, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ được  
giao đặc biệt là những vấn đề dư luận quan tâm; chuẩn hóa hoạt động thanh tra, tiếp  
công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tăng cường xử lý sau thanh tra.  
Để làm được những yêu cầu trên cần phải đánh giá một cách trung thực tình  
hình thực tiễn của công tác thanh tra nội bộ từ những đơn vị sự nghiệp công tập cụ  
thể, từ đó, chỉ ra những khó khăn, vướng mắc, đề xuất các giải pháp về tổ chức và  
hoạt động thanh tra nội bộ trong thời gian tới.  
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Tổ chức và hoạt động của  
thanh tra nội bộ từ thực tiễn Đại học Quốc gia Hà Nội” làm đề tài luận văn  
nghiên cứu.  
2. Tình hình nghiên cứu đề tài  
Thứ nhất, các đề tài nghiên cứu khoa học  
- Đề tài: “Đổi mới hệ thống tổ chức và hoạt động của ngành Thanh tra trong cơ  
chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Luận cứ khoa học phục vụ sửa đổi  
3
Luật thanh tra và hoàn thiện pháp luật về thanh tra” Đề tài nghiên cứu khoa học cấp  
Bộ, năm 2007 do Trần Văn Truyền làm Chủ nhiệm.  
Đề tài: “Các nguyên tắc trong hoạt động thanh tra - Một số vấn đề lý luận và  
thực tiễn” Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, năm 2011 do Nguyễn Thái Hồng làm  
chủ nhiệm. Đề tài đã đi sâu phân tích thực trạng các quy định pháp luật và việc thực  
hiện các nguyên tắc trong hoạt động thanh tra trên thực tế. Trên cơ sở phân tích các  
nguyên tắc trong hoạt động thanh tra trong từng giai đoạn tiến hành thanh tra, đề tài  
đã tiến hành đánh giá những quy định của pháp luật, những tồn tại, hạn chế trong  
việc thực hiện trên thực tế làm cơ sở cho việc đề xuất.  
Đề tài: "Hoàn thiện pháp luật về thanh tra trong giai đoạn hiện nay" đề tài  
nghiên cứu khoa học cấp Bộ, năm 2016 do Văn Tiến Mai làm chủ nhiệm. Đề tài  
làm rõ cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về thanh tra; phân tích thực trạng  
pháp luật về thanh tra trong giai đoạn hiện nay, trên cơ sở đó, Đề tài đưa ra quan  
điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về thanh tra trong thời gian tới.  
Đề tài: “Một số giải pháp nhằm hạn chế trùng lắp, chồng chéo trong hoạt động  
thanh tra” Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, năm 2010 do Lê Đức Trung làm  
chủ nhiệm. Đề tài làm rõ quan niệm về trùng lắp, chồng tréo trong hoạt động thanh  
tra. Kết quả hoạt động thanh tra, đánh giá nguyên nhân dẫn đến sự chồng chéo hoạt  
động thanh tra; khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lắp hoặc bỏ trống trong hoạt  
động thanh tra, phục vụ thiết thực cho công tác quản lý, điều hành vĩ mô trên phạm  
vi cả nước của Chính phủ.  
Thứ hai, sách chuyên khảo  
“Kỷ yếu khoa học thanh tra” từ tập 1 đến tập 8 của Viện Khoa học thanh tra phát  
hành năm 2003; “Hiệu quả của pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễn” Sách  
chuyên khảo - Tái bản lần thứ nhất có sửa chữa, bổ sung, Nhà xuất bản Chính trị,  
Quốc gia - Sự thật năm 2015.  
Thứ ba, các bài Báo đăng trên tạp chí  
Nguyễn Thị Bích Hường “Về vai trò của các cơ quan thanh tra nhà nước trong  
phòng, chống tham nhũng hiện nay” Tạp chí Thanh tra 2012.  
Bùi Công Quang “Pháp luật về tổ chức và hoạt động của đơn vị sự nghiệp công  
lập ở Việt Nam” Tạp chí Dân chủ và Pháp luật 7/2018.  
Thứ tư, các đề tài luận án, luận văn đã bảo vệ  
4
Luận án tiến sĩ Luật học "Vai trò của các cơ quan thanh tra nhà nước trong kiểm  
soát việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Văn Tuấn  
năm 2015.  
Luận văn thạc sỹ Luật học “Vai trò của cơ quan thanh tra hành chính trong giải  
quyết khiếu nại ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Bùi Thị Thanh Thuý năm 2007;  
Luận văn thạc sỹ Luật học “Tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra chuyên  
ngành ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Thục năm 2011; Luận văn  
thạc sỹ Luật học “Thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực Nội vụ ở tỉnh Nam Định”  
Nguyễn Thị Thanh Thủy năm 2017;… Các nghiên cứu trước đây sẽ là nguồn tài  
liệu tham khảo hữu ích cho tác giả về các vấn đề lý luận về thanh tra. Tuy nhiên các  
đề tài trên chủ yếu phân tích về thanh tra chuyên ngành và vai trò của thanh tra nhà  
nước trong lĩnh vực hành chính.  
Nhìn chung, đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu về hoạt động thanh tra nói chung  
nhưng đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào về tổ chức và hoạt động của  
thanh tra nội bộ từ thực tiễn Đại học Quốc gia Hà Nội. Do vậy, trên cơ sở những kết  
quả nghiên cứu trước đây và các văn bản quy pham pháp luật hiện nay về tổ chức  
và hoạt động thanh tra, việc nghiên cứu về đề tài này sẽ góp phần đóng góp thêm  
những luận cứ khoa học, cũng như cơ sở thực tiễn trong tổ chức và hoạt động của  
thanh tra nội bộ trong đơn vị sự nghiệp công lập do Thủ tướng Chính phủ quyết  
định thành lập nói chung và của Đại học Quốc gia Hà Nội nói riêng.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
3.1. Mục đích nghiên cứu:  
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận chung về tổ  
chức và hoạt động thanh tra nội bộ trong đơn vị sự nghiệp công lập nói chung; đánh  
giá đúng đắn thực trạng tổ chức và hoạt động của thanh tra nội bộ từ thực tiễn Đại  
học Quốc gia Hà Nội; đề xuất quan điểm, giải pháp về tổ chức và hoạt động của  
thanh tra nội bộ trong đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và Đại học Quốc gia Hà  
Nội nói riêng.  
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:  
- Làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến tổ chức và hoạt động thanh tra nội  
bộ trong đơn vị sự nghiệp công lập: Quan niệm, thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn,  
nội dung, đối tượng, trình tự thủ tục thanh tra trong đơn vị sự nghiệp công lập do  
Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; yêu cầu đặt ra đối với tổ chức và hoạt  
5
động thanh tra nội bộ trong đơn vị sự nghiệp công lập do Thủ tướng Chính phủ  
quyết định thành lập.  
- Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt của thanh tra nội bộ từ thực tiễn Đại học Quốc  
gia Hà Nội; chỉ ra được những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và nguyên nhân.  
- Đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả  
hoạt động góp phần đảm bảo thực hiện hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trong  
đơn vị sự nghiệp công lập.  
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
4.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn  
về tổ chức và hoạt động của thanh tra nội bộ trong đơn vị sự nghiệp công lập và tập  
trung vào công tác thanh tra tại Đại học Quốc gia Hà Nội.  
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Đề tài không chỉ nghiên cứu tổ chức và hoạt  
động thanh tra do các các tổ chức thanh tra nội bộ tiến hành mà còn nghiên cứu  
công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng  
của các tổ chức thanh tra nội bộ để thấy được địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ,  
quyền hạn và thực tiễn tổ chức và hoạt động của các tổ chức thanh tra nội bộ trong  
các đơn vị sự nghiệp công lập.  
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu tổ chức và hoạt động của thanh tra nội bộ  
tại Đại học Quốc gia Hà Nội.  
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu với các số liệu từ năm 2013 đến năm 2017.  
5. Kết quả dự kiến đạt đƣợc  
Hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện về cả lý luận và  
thực tiễn về tổ chức và hoạt động thanh tra nội bộ từ thực tiễn Đại học Quốc gia Hà  
Nội. Đây là đề tài mới, làm rõ được các vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động  
thanh tra nội bộ trong đơn vị sự nghiệp công lập do Thủ tướng Chính phủ quyết  
định thành lập; tổng kết được thực tiễn tổ chức và hoạt động của các tổ chức thanh  
tra nội ở Đại học Quốc gia Hà Nội tác giả hy vọng sẽ có những đóng góp thiết thực  
về mặt lý luận và thực tiễn vào hoạt động nghiên cứu hiện này nhằm kiện toàn về tổ  
chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức thanh tra nội bộ trong đơn vị sự  
nghiệp công lập do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, cũng như tổ chức và  
6
hoạt của thanh tra nội bộ Đại học Quốc gia Hà Nội. Qua đó, luận văn đã đưa ra một  
số đề xuất về quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, kiện toàn về mặt tổ  
chức và hoạt động thanh tra nội bộ trong đơn vị sự nghiệp công lập do Thủ tướng  
Chính phủ quyết định thành lập.  
6. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu  
6.1. Phương pháp luận  
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường  
lối của Đảng và Nhà nước về Nhà nước và Pháp luật, về giáo dục và đào tạo, các  
quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về cải cách  
nền hành chính và công tác thanh tra.  
6.2. Phương pháp nghiên cứu  
- Phương pháp nghiên cứu tổng hợp: Phương pháp này chủ yếu tập trung nghiên  
cứu, tham khảo, phân tích sách, tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học, lịch sử để  
làm rõ thêm lý luận về thanh tra, thanh tra nội bộ trong đơn vị sự nghiệp công lập.  
- Phương pháp khảo sát thực tiễn: Để đánh giá thực trạng công tác thanh tra nội  
bộ tại Đại học Quốc gia Hà Nội để đánh giá một cách khách quan trung thực và  
đánh giá tính khả thi của các giải pháp được xây dựng;  
- Nghiên cứu và phân tích thực trạng về tổ chức và hoạt động của thanh tra nội  
bộ từ thực tiễn Đại học Quốc gia Hà Nội, đưa ra những nhận xét về những ưu điểm,  
hạn chế, những bất cập… trên cơ sở đó đưa ra đề xuất, giải pháp cho phù hợp.  
7. Kết cấu của luận văn  
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn gồm  
03 chương cụ thể như sau:  
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động thanh tra nội bộ trong đơn vị  
sự nghiệp công lập do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập  
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của thanh tra nội bộ từ thực tiễn  
Đại học Quốc gia Hà Nội  
Chương 3: Phương hướng, giải pháp kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả của  
thanh tra nội bộ trong đơn vị sự nghiệp công lập do Thủ tướng Chính phủ quyết  
định thành lập.  
7
Chƣơng 1  
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG  
THANH TRA NỘI BỘ TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP DO THỦ  
TƢỚNG CHÍNH PHỦ QUYẾT ĐỊNH THÀNH LẬP  
1.1. Quan niệm về thanh tra trong đơn vị sự nghiệp công lập do Thủ tƣớng  
Chính phủ quyết định thành lập  
1.1.1. Khái quát đơn vị sự nghiệp công lập  
Nước ta đã trải qua các giai đoạn giai đoạn phát triển nhận thấy cần bỏ cơ chế tập  
trung và bao cấp cần phải tập chung, nắm giữ cũng như điều tiết những hoạt động  
kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô, không can thiệp quá sâu vào tất cả mọi lĩnh vực của  
đời sống xã hội như trước đây. Sự ra đời của các ĐVSNCL giúp chia sẻ bớt gánh  
nặng với nhà nước trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ công, góp phần cùng nhà nước  
thực hiện tốt chức năng xã hội của mình. Ngoài chức năng cung cấp dịch vụ công,  
ĐVSNCL còn có chức năng phục vụ quản lý nhà nước. Cũng chính từ sự đa dạng  
của các dịch vụ công và quá trình thu hẹp phạm vi kiểm soát của nhà nước trong  
lĩnh vực này mà nhà nước cần có một tổ chức có thể dễ dàng cho việc quản lý, kiểm  
soát cả về số lượng cũng như chất lượng của các loại hình dịch vụ công.  
Cơ cấu tổ chức của các cơ quan hành chính nhà nước trước đây ĐVSNCL là một  
bộ phận cấu thành quan trọng. Cơ chế tài chính của cơ quan hành chính nhà nước và  
đơn vị sự nghiệp công là cơ bản giống nhau, về kinh phí hành chính trong quá trình  
thực thi nhiệm vụ, về biên chế và tổ chức hoạt động, trong khi các ĐVSNCL lại có  
những đặc điểm khác biệt với các cơ quan hành chính, vì vậy một yêu cầu cấp bách  
cần phải thực hiện đó là cải cách và tách chức năng quản lý nhà nước của cơ quan  
hành chính với cung cấp dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp.  
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 kèm  
theo Quyết định 136/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cũng đưa ra nội dung  
cải cách tổ chức bộ máy trong đó có vấn đề tách chức năng quản lý nhà nước của  
Bộ, cơ quan ngang bộ đối với ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước với chức năng  
điều hành các tổ chức sự nghiệp công trực thuộc Bộ, cơ quan ngang bộ; theo đó,  
tách tổ chức hành chính với tổ chức sự nghiệp công để hoạt động theo các cơ chế  
riêng, phù hợp, có hiệu quả. Trong phương hướng, nhiệm vụ cải cách hành chính  
hành chính giai đoạn II (2006-2010), Chính phủ vẫn chủ trương cải cách các đơn vị  
sự nghiệp dịch vụ công, bảo đảm tách rõ hành chính với sự nghiệp, hoàn thiện thể  
8
chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công trong tổ chức  
và hoạt động. [10]  
Trong lộ trình cải cách đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 10/2002/NĐ-CP  
ngày 16 tháng 1 năm 2002 về chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có  
thu, ngày 25/4/2006 Chính phủ có Nghị định số 43/2006/NĐ-CP quy định quyền tự  
chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính  
đối với ĐVSNCL.  
Trong Luật Viên chức năm 2010, được quy định tại Khoản 1, Điều 9 “Đơn vị sự  
nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính  
trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp  
nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước.” [26]  
Như vậy ĐVSNCL được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ  
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội theo quy định của pháp luật; là bộ phận cấu  
thành không thể thiếu trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, tổ chức chính  
trị, tổ chức chính trị - xã hội; ĐVSNCL có tư cách pháp nhân, với nhiệm vụ cung  
cấp dịch vụ công phục vụ quản lý nhà nước; Trong ĐVSNCL có lực lượng lao động  
chủ yếu là viên chức, đây là đặc trưng cơ bản của ĐVSNCL để phân biệt với cơ  
quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, tổ chức khác…  
ĐVSNCL là bộ phận cấu thành trong cơ cấu cơ quan tổ chức nhà nước nhưng  
không mang tính quyền lực nhà nước, không có chức năng quản lý nhà nước và  
hoàn toàn bình đẳng với các tổ chức, cá nhân trong quan hệ cung cấp dịch vụ công;  
ĐVSNCL được thành lập theo trình tự thủ tục chặt chẽ.  
Luật Viên chức năm 2010 quy định 2 loại ĐVSNCL gồm: Đơn vị được giao  
quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự  
và đơn vị chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính,  
tổ chức bộ máy, nhân sự.  
Xét dưới góc độ vị trí pháp lý, ĐVSNCL có thể chia thành 5 loại sau: đơn vị  
thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ; đơn vị thuộc Tổng cục, Cục; đơn vị thuộc Ủy ban  
nhân dân cấp tỉnh; đơn vị thuộc cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;  
đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.  
Trong đó, ĐVSNCL thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ bao gồm: Các ĐVSNCL được  
quy định tại nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức  
của từng Bộ, cơ quan ngang Bộ (các đơn vị nghiên cứu chiến lược, chính sách về  
9
ngành, lĩnh vực; báo; tạp chí; trung tâm thông tin hoặc tin học; trường hoặc trung  
tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; học viện) và các ĐVSNCL  
trong danh sách ban hành kèm theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. [21]  
Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28 tháng 6 năm 2012 của Chính phủ quy  
định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập quy định nguyên  
tắc chung về thẩm quyền thành lập đơn vị sự nghiệp công lập.  
Theo quy định tại Điều 17 Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28 tháng 6 năm  
2012 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp  
công lập quy định nguyên tắc chung về thẩm quyền thành lập đơn vị sự nghiệp công  
lập. Thủ tướng chính phủ có thẩm quyền: Phê duyệt quy hoạch mạng lưới tổ chức  
đơn vị sự nghiệp công lập trong phạm vi toàn quốc; Quyết định thành lập, tổ chức  
lại, giải thể ĐVSNCL thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (trừ  
các ĐVSNCL được quy định tại Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền  
hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ);  
ĐVSNCL trực thuộc tổng cục và tổ chức tương đương tổng cục; ĐVSNCL thuộc tổ  
chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập mà không phải là  
ĐVSNCL; ĐVSNCL thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia thành phố  
Hồ Chí Minh; ĐVSNCL thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Quyết định thành lập, tổ  
chức lại, giải thể ĐVSNCL theo quy định của luật chuyên ngành. [3]  
Theo đó, trình tự, thủ tục thành lập ĐVSNCL được thực hiện theo quy định tại  
Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28 tháng 6 năm 2012 của Chính phủ sau khi đáp  
ứng các điều kiện: Xác định mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ; Phù hợp với quy hoạch  
mạng lưới tổ chức ĐVSNCL đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (nếu có); Có trụ  
sở làm việc hoặc đề án quy hoạch cấp đất xây dựng trụ sở đã được cấp có thẩm  
quyền phê duyệt (trường hợp xây dựng trụ sở mới); trang thiết bị cần thiết ban đầu;  
nguồn nhân sự và kinh phí hoạt động theo quy định của pháp luật.  
1.1.2. Quan niệm thanh tra trong đơn vị sự nghiệp công lập do Thủ tướng  
Chính phủ quyết định thành lập  
1.1.2.1. Quan niệm chung về thanh tra  
Thanh tra theo tiếng Anh (Inspect) - xuất phát từ gốc Latinh (In - Spectare) có  
nghĩa là “nhìn vào bên trong", chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với  
hoạt động của một số đối tượng nhất định.  
10  
Theo Từ điển tiếng Việt “thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa  
phương, cơ quan, xí nghiệp”. Với nghĩa này, thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát  
nhằm “xem xét và phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định”. Thanh tra  
thường đi kèm với một chủ thể nhất định: “người làm nhiệm vụ thanh tra”, “đoàn  
thanh tra” và “đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định”.  
Trong lịch sử của nước ta, tên gọi “Thanh tra” chưa tồn tại qua các thời kỳ  
phong kiến và trong từng thời kỳ khác nhau, quan niệm về thanh tra được thể hiện  
khác nhau theo quy định của pháp luật. Chức năng tương tự như hoạt động thanh tra  
đã hình thành.  
Thời kỳ nhà Lý đã có chức quan “Đại sử đại phu” đặt ra dưới chiều Lý Thái Tổ  
hoặc “Gián Nghị đại phu” như trường hợp Lý Đạo Thành; thời Lý Thái Tông đặt  
thêm chức “Tả hữu phu”…  
Chức năng của cơ quan thanh tra đã hình thành dưới triều đại phong kiến thông  
qua hoạt động của Ngự sử đài (hoặc Đô sát viện). Ngự sử đài được trao nhiệm vụ  
thay mặt vua để xem xét, giải quyết các khiếu kiện của dân và giám sát hoạt động  
của bộ máy quan lại.  
Trong thời kỳ phong kiến chế độ thanh tra tra giám sát hoạt động tương đối độc  
lập. Ví dụ, một quan tri phủ mắc lỗi thì Hiến sát không cần thông qua quan cấp trấn  
(cấp tỉnh) mà có quyền tâu thẳng lên Ngự sử đài hoặc trực tiếp lên Bộ Hình, thậm  
chí lên cả vua. Ngay cả Bộ Lại là bộ có quyền hành cao nhất trong triều đình trong  
việc tuyên bổ, thăng gián, bãi miễn quan lại song nếu thăng bổ không xứng thì Lại  
Khoa vừa có quyền giới thiệu người khác vừa có quyền tố giác theo nguyên tắc lớn  
nhỏ, trong ngoài cùng ràng buộc lẫn nhau. Ngoài ra, triều đình còn có chế độ giám  
sát đặc biệt khác. [31]  
Kể từ khi giành được độc lập năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra  
đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí sắc lệnh số 64/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945  
thành lập Ban Thanh tra Đặc biệt, thuật ngữ “thanh tra” xuất hiện. Hoạt động thanh  
tra trong giai đoạn này tập trung vào giám sát hoạt động hành chính.  
Hiến pháp năm 1946 hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa được giao cho một cơ  
quan chuyên trách nào, quyền kiểm soát đối với Chính phủ được giao cho Ban  
Thường vụ của Nghị viện, thuật ngữ “thanh tra” chưa được sử dụng.  
Hiến pháp năm 1959 đã đề cập đến một số nội dung về kiểm tra việc thi hành  
các quyết định quản lí nhà nước.  
11  
Hiến pháp năm 1980 sử dụng thuật ngữ thanh tra với nội dung là một chức năng  
của cơ quan quản lí nhà nước.  
Pháp lệnh Thanh tra 1990 khảng định hoạt động thanh tra của các tổ chức thanh  
tra được xác định là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lí nhà nước, là một  
phương thức đảm bảo pháp chế tăng cường kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực  
hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa. [17]  
Trong Hiến pháp năm 1992, khái niệm thanh tra, kiểm tra được thể hiện rõ hơn,  
quy định Chính phủ có nhiệm vụ “tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê  
của Nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng  
trong bộ máy Nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân”.  
Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Thanh tra nhà  
nước được quy định rõ hơn trong Luật Thanh tra năm 2004, khảng định tầm quan  
trọng của công tác thanh tra trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội  
mà Đại hội Đảng IX năm 2001 đề ra. Luật Thanh tra 2004 góp phần khắc phục sự  
hoạt động độc lập của các tổ chức thanh tra chuyên ngành với tổ chức Thanh tra nhà  
nước cấp Bộ đã tồn tại nhiều năm, đã gây ra những khó khăn, trở ngại cho công tác  
quản lý các hoạt động thanh tra, kiểm tra của Bộ.  
Hiện nay, Luật Thanh tra năm 2010 quy định: “Thanh tra nhà nước là hoạt động  
xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan  
nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ,  
quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra  
hành chính và thanh tra chuyên ngành.” [23]  
Tổ chức các cơ quan thanh tra nhà nước gồm: Thanh tra Chính phủ; Thanh tra bộ,  
cơ quan ngang bộ; Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Thanh tra sở;  
Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; và cơ quan được giao thực hiện  
chức năng thanh tra chuyên ngành. Cơ quan thanh tra nhà nước có vai trò quan trọng  
trong tiến hành các hoạt động thanh tra mà còn có vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn trong  
công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.  
1.1.2.2. Quan niệm chung về thanh tra nội bộ trong đơn vị sự nghiệp công lập do  
Thủ tướng Chính phủ thành lập  
Thanh tra nội bộ là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do  
pháp luật quy định của nội bộ đơn vị, cơ quan đối với việc thực hiện chính sách  
pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn, nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, cá nhân  
trực thuộc nội bộ của đơn vị, cơ quan đó.  
12  
Thanh tra nội bộ là tổ chức thanh tra được thành lập trong cơ quan không có chức  
năng quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước.  
Hoạt động thanh tra nội bộ là hoạt động thanh tra của tổ chức thanh tra nội bộ,  
của người được phân công làm công tác thanh tra nội bộ trong cơ quan không có  
chức năng quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước.  
Thanh tra nội bộ trong đơn vị sự nghiệp công lập do Thủ tướng Chính phủ quyết  
định thành lập có thể hiểu là hoạt động thanh tra nội bộ tại đơn vị, giúp Thủ trưởng,  
người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập do Chính phủ thành lập trong công tác  
thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng với mục đích  
nhằm phát hiện sơ hở, sai phạm trong cơ chế quản lý của đơn vị để kiến nghị biện  
pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, nội quy, quy chế  
của đơn vị; giúp đơn vị, tổ chức, cá thực hiện chính sách pháp luật chính sách, pháp  
luật liên quan; giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng trong phạm  
vi chức năng, nhiệm vụ của đơn vị theo quy định của pháp luật.  
1.1.3. Đặc điểm thanh tra và đặc điểm của thanh tra nội bộ trong đơn vị sự  
nghiệp công lập do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập  
1.1.3.1. Đặc điểm của thanh tra  
Thứ nhất, thanh tra mang tính quyền lực nhà nước  
Thanh tra là một chức năng của quản lí nhà nước, tính quyền lực nhà nước của  
hoạt động thanh tra luôn gắn bó chặt chẽ với quyền uy và phục tùng. Tính quyền lực  
của hoạt động thanh tra thể hiện qua việc ra các quyết định bắt buộc thực hiện đối  
với tất cả các đối tượng bị thanh tra.  
Chủ thể tiến hành thanh tra phải tác động tích cực nhằm thực hiện quyền lực của  
chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước.  
Tính quyền lực Nhà nước của hoạt động thanh tra thể hiện rõ khi các cơ quan, tổ  
chức, cá nhân là chủ thể tiến hành thanh tra đều có nhiệm vụ, quyền hạn được xác  
định và khả năng thực hiện những quyền hạn đó. Trong những trường hợp cần thiết  
được phép áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước.  
Thứ hai, thanh tra luôn gắn với quản lý nhà nước  
Với tư cách là một chức năng, là một giai đoạn của chu trình quản lý, thanh tra  
gắn liền với quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước không thể tách rời hoạt động  
thanh tra. Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước bao gồm 3 mặt thống nhất chặt chẽ  
với nhau: Ban hành quyết định quản lý; tổ chức, phân công, chỉ đạo việc thực hiện  
các quyết định quản lý; kiểm tra việc thực hiện các quyết định quản lý.  
13  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 90 trang yennguyen 20800 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Tổ chức và hoạt động của thanh tra nội bộ từ thực tiễn Đại học Quốc gia Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_to_chuc_va_hoat_dong_cua_thanh_tra_noi_bo_tu_thuc_t.pdf