Tình trạng dinh dưỡng phân loại theo tỉ lệ mỡ cơ thể ở học sinh 11-14 tuổi tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh năm 2019

TNU Journal of Science and Technology  
226(01): 20 - 26  
ASSESSMENT OF NUTRITIONAL STATUS USING BODY FAT PERCENTAGE  
AMONG 11 TO 14 YEAR-OLD STUDENTS IN TU SON TOWN,  
BAC NINH PRIVINCE, 2019  
Do Thi Chuyen1, Nguyen Thi Quynh Anh1, Do Nguyen Quynh Trang1, Do Thi Nhu Trang2,  
Nguyen Thi Lan Huong2, Nguyen Thi Hong Hanh2*  
1Tu Son Secondary School, Bac Ninh province  
2Hanoi National University of Education  
ARTICLE INFO  
Received: 08/10/2020  
Revised: 11/01/2021  
Published: 13/01/2021  
ABSTRACT  
The aim of the study was to evaluate nutritional status among students  
aged 11-14 in Tu Son town, Bac Ninh province using the body fat  
percentage index. A cross-sectional study was conducted on 430  
students at two junior high schools in Tu Son town. The percentage of  
body fat was evaluated using body composition monitor Omron  
HBF375. Research results showed that the body fat percentage in  
students had significant changes with age. Body fat percentage began  
to differ between boys and girls at the age of 13. The average of body  
fat percentage among boys was 19.41%; girls was 21.33% (P <  
0.001). From the percentile threshold of body fat percentage built in  
this study, we determined the nutritional status for children in Tu Son  
town. Accordingly, the rate of students with a normal nutritional  
status was 78.61%, the rate of overweight - obesity was 15.81%.  
Thus, the rate of overweight - obesity among students in Tu Son town  
was relatively high. There should be activities to educate about  
healthy eating habits and physical activity for students to maintain a  
suitable weight for height and improve health.  
KEYWORDS  
Biomedical and health science  
Body fat percentage  
Overweight  
Obesity  
Nutritional status  
11 - 14 year-old students  
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG PHÂN LOẠI THEO TỈ LỆ MỠ CƠ THỂ Ở  
HỌC SINH 11 - 14 TUỔI TẠI THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH NĂM 2019  
Đỗ Thị Chuyên1, Nguyễn Thị Quỳnh Anh1, Đỗ Nguyễn Quỳnh Trang1, Đỗ Thị Như Trang2,  
Nguyễn Thị Lan Hương2, Nguyễn Thị Hồng Hạnh2*  
1Trường THCS Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh  
2Trường Đại học Sư phạm Hà Nội  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 08/10/2020  
Ngày hoàn thiện: 11/01/2021  
Ngày đăng: 13/01/2021  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định tình trạng dinh dưỡng ở  
học sinh 11 - 14 tuổi tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh sử dụng chỉ số  
tỉ lệ mỡ cơ thể. Một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 430  
học sinh tại hai trường trung học cơ sở tại thị xã Từ Sơn. Tỉ lệ mỡ cơ  
thể được đánh giá bằng cân Omron HBF375. Kết quả nghiên cứu cho  
thấy, tỉ lệ mỡ cơ thể bắt đầu có sự khác biệt giữa nam và nữ khi trẻ  
13 tuổi. Tỉ lệ mỡ cơ thể trung bình ở học sinh nam là 19,41%; ở nữ là  
21,33% (P < 0,001). Từ ngưỡng bách phân vị tỉ lệ mỡ cơ thể được  
xây dựng trong nghiên cứu đã phân loại tình trạng dinh dưỡng cho trẻ  
tại thị xã Từ Sơn. Theo đó, tỉ lệ học sinh có tình trạng dinh dưỡng  
bình thường là 78,61%, học sinh bị thừa cân - béo phì là 15,81%.  
Như vậy, tỉ lệ thừa cân - béo phì ở học sinh tại thị xã Từ Sơn tương  
đối cao. Cần có những hoạt động giáo dục, tuyên truyền về thói quen  
ăn uống lành mạnh và mức độ hoạt động thể lực để học sinh duy trì  
cân nặng phù hợp với chiều cao, tăng cường sức khoẻ.  
TỪ KHÓA  
Y sinh và khoa học sức khoẻ  
Tỉ lệ mỡ cơ thể  
Thừa cân  
Béo phì  
Tình trạng dinh dưỡng  
Học sinh 11 - 14 tuổi  
* Corresponding author. Email: hanhnth@hnue.edu.vn  
20  
TNU Journal of Science and Technology  
226(01): 20 - 26  
1. Mở đầu  
Tỉ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em ngày một tăng nhanh gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đến  
thể chất và tinh thần của trẻ. Nghiên cứu năm 2010 trên 1.989 học sinh từ 11 - 14 tuổi được lựa  
chọn theo phương pháp chọn mẫu theo cụm nhiều tầng tại 23 trường trung học cơ sở công lập tại  
thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, tỉ lệ thừa cân và béo phì lần lượt là 17,8% và 3,2%, trong khi tỉ  
lệ này năm 2004 lần lượt là 11,7% và 2% (P = 0,001) 1. Trong khi đó, nghiên cứu tại thành phố  
Huế năm 2008, tỉ lệ thừa cân và béo phì ở trẻ từ 11 - 15 tuổi là 8,3% 2. Sự tích luỹ mỡ cơ thể  
cao, nhất là ở giai đoạn dậy thì làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch, tiêu hoá, hô hấp, rối  
loạn chuyển hóa như đái tháo đường, rối loạn lipid máu, cao huyết áp [3]. Đặc biệt, tình trạng  
thừa cân - béo phì trong giai đoạn dậy thì có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ trong giai đoạn trưởng  
thành nếu không có biện pháp phòng ngừa sớm. Khoảng 70% trẻ béo phì khi lớn lên có thể bị  
béo phì ở giai đoạn trưởng thành 4.  
Việc xác định tình trạng dinh dưỡng ở trẻ lứa tuổi dậy thì là cơ sở để phân tích những yếu tố  
nguy cơ của thừa cân - béo phì, từ đó đề xuất biện pháp kịp thời, nhằm giảm thiểu tỉ lệ mỡ cơ thể  
cao, xây dựng thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước vững mạnh.  
Thị xã Từ Sơn là một trong những khu vực kinh tế trọng điểm của tỉnh Bắc Ninh, tập trung nhiều  
khu công nghiệp lớn. Những năm trở lại đây, kinh tế của Từ Sơn phát triển mạnh, đời sống nhân dân  
được cải thiện cùng với lối sống ít vận động nên tỉ lệ thừa cân - béo phì ở học sinh có xu hướng tăng.  
Một chỉ số có độ tin cậy cao trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng đó là tỉ lệ mỡ cơ thể [5]. Tỉ  
lệ mỡ cơ thể được đo bằng lượng mỡ so với khối lượng của cơ thể dưới dạng % [5]. Có nhiều  
nghiên cứu sử dụng tỉ lệ mỡ cơ thể để đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở học sinh tại nhiều quốc gia  
khác nhau [6]. Tuy nhiên, các nghiên cứu đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa trên chỉ số tỉ lệ mỡ cơ  
thể ở học sinh độ tuổi trung học cơ sở (THCS) ở Việt Nam nói chung, cũng như ở Bắc Ninh nói  
riêng còn hạn chế. Do đó, nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định tình trạng dinh dưỡng của học  
sinh 11 - 14 tuổi tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh theo chỉ số tỉ lệ mỡ cơ thể, là tiền đề để đề xuất  
những giải pháp kịp thời, giúp nâng cao sức khoẻ của học sinh THCS tại địa phương.  
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Đối tượng  
Để đánh giá thực trạng tỉ lệ mỡ cơ thể của học sinh THCS, một nghiên cứu cắt ngang được  
tiến hành trên 430 học sinh (232 trẻ nam chiếm 53,95% và 198 trẻ nữ chiếm 46,05%) từ 11 đến  
14 tuổi tại 2 trường THCS trên địa bàn thị xã Từ Sơn (trường THCS Từ Sơn và trường THCS  
Nguyễn Văn Cừ) từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2019. Những học sinh đang mắc các bệnh cấp  
tính, bị gù, bị vẹo cột sống bẩm sinh hay các bệnh mãn tính như lao, HIV/AIDS được loại trừ  
khỏi nghiên cứu.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Phương pháp tính tuổi  
Sử dụng cách tính tuổi theo quy ước của WHO năm 1983 quy về tháng và năm gần nhất. Dựa  
trên ngày tháng năm sinh của đối tượng nghiên cứu để tính tuổi như sau: Kể từ ngày sinh đến  
trước ngày sinh nhật đầu tiên được tính là 0 tuổi; Bắt đầu ngày sinh nhật đầu tiên đến trước ngày  
sinh nhật thứ 2 được tính là 1 tuổi.  
2.2.2. Phương pháp đo chiều cao đứng  
Chiều cao đứng được đo bằng thước gỗ có vạch chia chính xác đến 0,1 cm. Đơn vị đo chiều  
cao tính bằng cm, làm tròn đến 1 chữ số thập phân. Thước đo đặt theo chiều thẳng đứng, sát vào  
tường, vuông góc với mặt đất nằm ngang. Trẻ được đo chiều cao khi bỏ hết giày dép, đứng thẳng,  
quay lưng vào thước đo, mắt nhìn thẳng, hai tay duỗi thẳng, lòng bàn tay hướng vào trong đùi.  
21  
TNU Journal of Science and Technology  
226(01): 20 - 26  
Hai gót chân, bắp chân, mông, bả vai, chẩm áp sát vào thước đo theo một đường thẳng đứng.  
Dùng thước gỗ vuông hoặc mảnh gỗ áp sát đỉnh đầu, vuông góc với thước đo và đọc kết quả.  
2.2.3. Phương pháp đo cân nặng  
Cân nặng được đo bằng cân điện tử Tanita với độ chính xác đến 100 g, đơn vị đo tính bằng  
kg, lấy 1 chữ số thập phân. Cân đặt trên sàn cứng và bằng phẳng. Chỉnh cân về số 0 trước khi  
cân. Trẻ bỏ hết giày dép, mặc quần áo mỏng và nhẹ, không đeo các phụ kiện có khối lượng lớn.  
Khi cân, trẻ đứng yên ở giữa bàn cân, trọng lượng phân bố đều sang 2 chân, mắt nhìn thẳng đến  
khi số liệu hiện lên trên cân ổn định.  
2.2.4. Phương pháp tính chỉ số khối cơ thể  
Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index, BMI) được tính theo công thức sau:  
Cân nặng  
BMI = Chiều cao đứng x chiều cao đứng (kg/m2)  
2.2.5. Phương pháp đo vòng eo và vòng mông  
Sử dụng thước dây không co dãn, chia chính xác đến 1 mm. Kết quả đo được tính bằng đơn vị  
cm, lấy 1 chữ số thập phân.  
Vòng eo được tính là vòng tròn đi qua vị trí nằm giữa bờ trên của xương mào chậu và bờ dưới  
của xương sườn cụt dưới cùng ở 2 bên cơ thể.  
Vòng mông được tính là vòng tròn lớn nhất đi qua mông trên mặt phẳng nằm ngang. Khi đo,  
thước đo phải vuông góc với cơ thể đối tượng.  
Các phương pháp đo chỉ số nhân trắc được tiến hành theo phương pháp thường quy [106].  
Các điều tra viên được tập huấn về các phương pháp cân đo trước khi tiến hành.  
2.2.6. Phương pháp đo tỉ lệ mỡ cơ thể  
Tỉ lệ mỡ cơ thể, tỉ lệ mỡ dưới da, tỉ lệ cơ xương được đo bằng cân điện tử OMRON (HBF  
375, Nhật Bản). Trẻ đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, hai tay cầm thanh cầm  
vuông góc với cơ thể. Đợi cân hiển thị số liệu và ghi kết quả. Trong quá trình đo, cần lưu ý, đối  
tượng cần đứng thẳng lưng và đầu gối, không để tay quá cao hoặc quá thấp, gập tay, ngửa màn  
hình lên trên hay đứng ở mép cân.  
2.2.7. Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo bách phân vị tỉ lệ mỡ cơ thể  
Tình trạng dinh dưỡng được phân loại theo bách phân vị (percentile) của tỉ lệ mỡ cơ thể theo  
tiêu chuẩn của CDC (Centers for Disease Control and Prevention) [7]. Trẻ suy dinh dưỡng có tỉ lệ  
mỡ cơ thể < 5th; trẻ có tình trạng dinh dưỡng bình thường có 5th ≤ tỉ lệ mỡ cơ thể < 85th; trẻ thừa  
cân có 85th ≤ tỉ lệ mỡ cơ thể < 95th; trẻ béo phì là trẻ có tỉ lệ mỡ cơ thể ≥ 95th.  
2.2.6. Phương pháp xử lí số liệu  
Các số liệu thu thập trong nghiên cứu được nhập vào excel và xử lý trên phần mềm thống kê  
SPSS 20 với các test thống kê dùng trong y sinh học. Số liệu phân tích được trình bày theo bảng  
tần số, tỉ lệ, trung bình. Các biến định lượng được trình bày dưới dạng số trung bình ± độ lệch  
th  
̅
chuẩn (푋 ± SD) với biến phân bố chuẩn hoặc trung vị (25 - 75 percentiles) với biến phân bố  
không chuẩn. Các biến định lượng được so sánh bằng kiểm định Student t-test (so sánh trung  
bình giữa hai nhóm) hoặc phân tích phương sai (Analysis of Variance, ANOVA) (so sánh trung  
bình giữa ≥ 3 nhóm) đối với biến phân phối chuẩn; kiểm định Man-Whitney-U-test hoặc  
Kruskall-Wallis test đối với các biến phân phối không chuẩn. Các biến định tính được so sánh  
bằng kiểm định Chi-square test hoặc Fisher Exact test.  
22  
TNU Journal of Science and Technology  
226(01): 20 - 26  
3. Kết quả và bàn luận  
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu  
Một số thông tin về chỉ số nhân trắc của học sinh THCS trên địa bàn thị xã Từ Sơn được trình  
bày ở Bảng 1.  
Bảng 1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu  
Chỉ số  
Nam (n = 232)  
155,11 ± 9,15  
49,08 (47,45 -50,71)  
85,73 (84,56 - 86,89)  
70,46 (69,12 - 71,8)  
20,41 (19,72 - 21,09)  
14,29 ± 4,9  
Nữ (n = 198)  
152,95 ± 6,96  
44,88 (43,62 - 46,14)  
83,73 (82,44 - 85,03)  
65,15 (64,21 - 66,09)  
19,75 (18,46 - 21,03)  
17,76 ± 4,25  
P
Chiều cao (cm)a  
0,007a  
Cân nặng (kg)b  
< 0,0001b  
0,034b  
Chu vi vòng mông (cm)b  
Chu vi vòng eo (cm)b  
BMI (kg/m2)b  
< 0,0001b  
0,000b  
Mỡ dưới da (%)a  
Mỡ cơ thể (%)a  
0,036a  
19,41 ± 5,44  
34,19 (33,58 - 34,8)  
21,33 ± 4,2  
29,86 (29,33 - 30,38)  
< 0,0001a  
< 0,0001b  
Cơ xương (%)b  
a Các biến tuân theo phân phối chuẩn được biểu diễn bằng giá trị trung bình và độ lệch chuẩn, P nhận  
b
được từ kiểm định Student’s T - test; Các biến không tuân theo phân phối chuẩn được biểu diễn bằng  
trung vị và 25th - 75th percentile, P nhận được từ kiểm định Mann - Withney U test. BMI: chỉ số khối cơ thể  
Kết quả ở Bảng 1 cho thấy, các chỉ số nhân trắc học đều cho kết quả có ý nghĩa thống kê (P <  
0,05) ở nam và nữ. Phần lớn các chỉ số nhân trắc được nghiên cứu ở học sinh nam cao hơn rõ rệt  
so với học sinh nữ như chiều cao (155,11 so với 152,95; P < 0,01), cân nặng (49,08 so với 44,88;  
P < 0,01), chu vi vòng mông (85,73 so với 83,73; P < 0,05), chu vi vòng eo (70,46 với 65,15; P <  
0,01), BMI (20,41 so với 19,75; P < 0,01), tỉ lệ cơ xương (34,19 so với 29,86; P < 0,01). Ngược  
lại, ở học sinh nữ, chỉ số mỡ dưới da (17,76 so với 14,29; P < 0,05) và mỡ cơ thể (21,33 so với  
19,41; P < 0,01) cao hơn ở học sinh nam.  
Như vậy, phần lớn các chỉ số nhân trắc ở học sinh THCS có sự thay đổi rõ rệt và khác biệt  
giữa nam và nữ.  
3.2. Tỉ lệ mỡ cơ thể theo tuổi và giới  
Tỉ lệ mỡ cơ thể theo tuổi và giới được trình bày ở Hình 1. Tỉ lệ mỡ cơ thể ở nam có xu hướng  
giảm dần theo độ tuổi (từ 22,05 ở tuổi 11 xuống còn 17,93 ở tuổi 14). Ngược lại, tỉ lệ mỡ cơ thể  
của nữ lại tăng dần theo độ tuổi (20,91 ở 11 tuổi; 21,01 ở 12 tuổi; 21,95 ở 13 tuổi; 22 ở 14 tuổi).  
Tỉ lệ mỡ cơ thể của nam và nữ có sự khác biệt rõ ràng nhất từ 13 - 14 tuổi.  
Hꢀnh 1. Đặc điểm tỉ lệ mỡ cơ thể theo tuổi và giới tính ở học sinh 11 - 14 tuổi tại Từ Sơn, Bắc Ninh  
Xu hướng tỉ lệ mỡ cơ thể giảm ở trẻ nam và tăng dần ở trẻ nữ theo độ tuổi trong nghiên cứu  
này cũng tương đồng nghiên cứu của Kirang Kim và cộng sự 6. Cụ thể, trong nghiên cứu của  
23  
TNU Journal of Science and Technology  
226(01): 20 - 26  
Kirang, tỉ lệ mỡ cơ thể ở trẻ nam từ 11 đến 15 tuổi giảm từ 29,6% xuống còn 19,9%. Mặt khác, tỉ  
lệ mỡ cơ thể ở nữ từ 11 tuổi là 30,1% tăng nhẹ lên 32,8% ở tuổi 15 [6].  
Như vậy, tỉ lệ mỡ cơ thể ở trẻ nam có xu hướng giảm dần theo tuổi trong khi đó tỉ lệ mỡ cơ  
thể ở trẻ nữ có xu hướng tăng dần. Tỉ lệ mỡ cơ thể giữa nam và nữ bắt đầu có sự khác biệt rõ ràng  
từ 12 đến 14 tuổi.  
3.3. Đặc điểm tỉ lệ mỡ cơ thể theo tình trạng dậy thì và giới tính  
Kết quả ở Bảng 2 chỉ ra rằng tỉ lệ mỡ cơ thể ở học sinh THCS có sự khác biệt giữa nam và nữ.  
Sự khác biệt càng trở nên rõ ràng khi các em bước vào giai đoạn dậy thì. Tại thời điểm chưa dậy  
thì, tỉ lệ mỡ cơ thể của 2 giới là 20,77% ở nữ và 19,59% ở nam). Ở học sinh đã dậy thì trong vòng 1  
năm tính đến thời điểm nghiên cứu, tỉ lệ mỡ cơ thể có sự chênh lệch rõ rệt hơn (21,44% ở nữ và  
19,47% ở nam). Xu hướng tương tự được quan sát thấy ở nhóm học sinh đã dậy thì trên một năm  
tính đến thời điểm nghiên cứu với tỉ lệ mỡ cơ thể ở nữ và nam lần lượt là 21,53% và 19,06%. Đồng  
thời, từ bảng số liệu cũng cho thấy tỉ lệ mỡ cơ thể ở học sinh nam giảm dần, cao nhất ở nhóm học  
sinh chưa dậy thì, thấp nhất ở nhóm học sinh đã dậy thì được hơn một năm. Ngược lại, ở học sinh  
nữ, sau khi dậy thì, có sự tăng lên của tỉ lệ mỡ cơ thể. Điều này là do trong quá trình dậy thì, nam  
giới sẽ tích lũy nhiều cơ và xương còn nữ giới lại tích lũy nhiều mỡ [8], [9]. Những mô mỡ có mối  
tương tác quan trọng với hormone sinh dục. Lượng hormone testosterone ảnh hưởng đến sự phát  
triển của lượng cơ và mật độ xương. Trong khi đó, lượng hormone estrogen làm gia tăng lượng mỡ  
cơ thể ở nữ trong giai đoạn dậy thì [10].  
Bảng 2. Tỉ lệ mỡ cơ thể của học sinh theo tình trạng dậy thì và giới tính ở học sinh 11 - 14 tuổi  
tại thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh  
Nam (n = 232)  
TLMCT  
Nữ (n = 198)  
TLMCT  
P
Tình trạng dậy thì  
Chưa dậy thì  
Dậy thꢀ: 1 năm  
Dậy thꢀ: trên 1 năm  
P
n
n
76  
96  
60  
61  
77  
60  
0,019  
0,003  
0,008  
19,59 5,48  
19,47 5,37  
19,06 5,56  
20,77 3,93  
21,44 4,17  
21,53 4,47  
0,01  
0,01  
P so sánh giữa nam và nữ thu được từ kiểm định Student’s T - test; P so sánh giữa các giai đoạn dậy thì  
thu được từ kiểm định Oneway-ANOVA; TLMCT: Tỉ lệ mỡ cơ thể.  
3.4. Bảng bách phân vị tỉ lệ mỡ cơ thể  
Trong thống kê mô tả, việc sử dụng giá trị bách phân vị là phương pháp để ước tính tỉ lệ dữ  
liệu trong một tập số liệu rơi vào vùng cao hơn hoặc vùng thấp hơn một giá trị cho trước. Số phân  
vị Pth là một giá trị mà tại đó nhiều nhất có P% số trường hợp quan sát trong tập dữ liệu có giá trị  
thấp hơn giá trị này và nhiều nhất là (100 - P)% của trường hợp có giá trị lớn hơn giá trị này.  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng bách phân vị ở ngưỡng 5th, 85th, 95th để đánh giá tình  
trạng dinh dưỡng ở học sinh 11 - 14 tuổi tại thị xã Từ Sơn (Bảng 3).  
Ngưỡng bách phân vị tỉ lệ mỡ cơ thể trong nghiên cứu này của chúng tôi thấp hơn so với  
nghiên cứu trên 11.357 bé trai và 10.756 bé gái từ 3-18 tuổi tại Đức từ năm 1993 đến năm 2007  
[11]. Tương tự, ngưỡng bách phân vị trong nghiên cứu này cũng thấp hơn so với nghiên cứu của  
Khadilka và cộng sự trên 888 trẻ em được tuyển chọn từ ba trường tư thục ở các khu vực giàu có  
của Pune, Ấn Độ [12].  
3.5. Tình trạng dinh dưỡng theo tỉ lệ mỡ cơ thể  
3.5.1. Tình trạng dinh dưỡng của học sinh THCS tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh  
Tình trạng dinh dưỡng của học sinh THCS tại thị xã Từ Sơn được thể hiện qua Bảng 4.  
24  
TNU Journal of Science and Technology  
226(01): 20 - 26  
Bảng 3. Ngưỡng bách phân vị tỉ lệ mỡ cơ thể ở học sinh 11 - 14 tuổi tại thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh (%)  
Tuổi  
Nam  
5th  
10th  
50th  
75th  
85th  
95th  
11 tuổi  
12 tuổi  
13 tuổi  
14 tuổi  
12,74  
11,08  
10,88  
8,63  
15,20  
12,80  
12,60  
10,52  
21,90  
19,75  
18,20  
16,95  
25,00  
23,45  
21,80  
21,50  
27,72  
25,79  
23,18  
22,96  
31,79  
27,46  
29,17  
25,77  
Nữ  
11 tuổi  
12 tuổi  
13 tuổi  
14 tuổi  
12,34  
13,36  
15,63  
15,68  
15,07  
16,21  
16,64  
18,10  
20,15  
21,45  
22,45  
21,40  
25,58  
23,18  
24,18  
23,58  
26,19  
25,07  
25,15  
24,39  
32,88  
27,78  
29,45  
26,17  
Bảng 4. Thực trạng tỉ lệ mỡ cơ thể ở học sinh THCS tại thị xã Từ Sơn  
Tình trạng dinh dưỡng  
Số lượng (n)  
Tổng  
430  
Thiếu cân  
24  
Bꢀnh thường  
338  
Thừa cân  
44  
Béo phì  
24  
Tỉ lệ (%)  
100  
5,58  
78,61  
10,23  
5,58  
Ngưỡng bách phân vị tỉ lệ mỡ cơ thể 5th, 85th, 95th được dùng để đánh giá tình trạng dinh  
dưỡng ở học sinh THCS tại thị xã Từ Sơn. Kết quả cho thấy, toàn mẫu tỉ lệ học sinh có tình trạng  
dinh dưỡng bình thường là 78,61% và học sinh bị thừa cân - béo phì là 15,81%. Như vậy, học  
sinh THCS tại thị xã Từ Sơn có tỉ lệ mỡ cơ thể tương đối cao (thừa cân 10,23%; béo phì 5,58%)  
Khi sử dụng cùng chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng là tỉ lệ mỡ cơ thể, tỉ lệ thừa và béo phì  
cân ở thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh cao hơn so với tỉ lệ này ở học sinh cùng độ tuổi tại thành phố Nam  
Định (15,81% so với 11,7%) nhưng thấp hơn một chút so với tỉ lệ này ở học sinh cùng độ tuổi tại  
thành phố Hà Nội (15,81% so với 16,7%) [5].  
Nếu sử dụng tiêu chuẩn phân loại thừa cân, béo phì theo chỉ số BMI thì tỉ lệ thừa cân, béo phì  
có thể có nhiều khác biệt. Nghiên cứu trên 899 học sinh 11 - 14 tuổi tại Hà Nội và thành phố  
Nam Định cho thấy, tỉ lệ thừa cân theo tiêu chuẩn tỉ lệ mỡ cơ thể là 10,4% trong khi tỉ lệ này là  
15,2% nếu sử dụng tiêu chuẩn phân loại theo BMI [5]. Tuy nhiên, hiện nay, chỉ số BMI được sử  
dụng rộng rãi trong chẩn đoán tình trạng dinh dưỡng vì tính thuận tiện của nó. Theo kết quả  
nghiên cứu năm 2014 tại bốn trường công lập được chọn ngẫu nhiên ở hai quận nội thành Hà Nội  
trên 821 học sinh lớp sáu (11-12 tuổi), có tới 17,1% trẻ thừa cân và 19,1% trẻ béo phì (theo tiêu  
chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới) [13].  
3.5.2. Tình trạng dinh dưỡng phân loại theo trường  
5.3  
4.7  
5.9  
6.3  
8.7  
10.9  
Thiếu cân  
Bình thường  
Thừa cân  
Béo phì  
Thiếu cân  
Bình thường  
Thừa cân  
Béo phì  
77.9  
Trường THCS Từ Sơn  
80.3  
Trường THCS Nguyễn Văn Cừ  
Hình 2. Tình trạng dinh dưỡng phân loại theo tỉ lệ mỡ cơ thể ở học sinh 11 - 14 tuổi  
tại trường THCS Từ Sơn và THCS Nguyễn Văn Cừ, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh  
Kết quả ở Hình 2 cho thấy tỉ lệ thừa cân và béo phì ở học sinh trường THCS Từ Sơn cao hơn  
so với tỉ lệ này ở học sinh trường THCS Nguyễn Văn Cừ (16,8% so với 13,4%, P = 0,049).  
25  
TNU Journal of Science and Technology  
226(01): 20 - 26  
Trong khi Trường THCS Nguyễn Văn Cừ nằm ở làng nghề truyền thống xã Phù Khê, thị xã Từ  
Sơn, tỉnh Bắc Ninh thì Trường THCS Từ Sơn là trường trọng điểm của thị xã ở phường Đồng  
Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Trường Từ Sơn nằm ngay trung tâm thị xã, tại đây nền  
kinh tế rất phát triển, điều kiện kinh tế thuận lợi, đời sống nhân dân được cải thiện, những khu  
vui chơi giải trí, quán ăn mọc lên ngày càng nhiều có thể là nguyên nhân khiến tỉ lệ mỡ cơ thể  
của học sinh THCS khu vực này có xu hướng cao hơn.  
4. Kết luận  
Tỉ lệ mỡ cơ thể bắt đầu có sự khác biệt giữa nam và nữ khi trẻ 13 tuổi. Tỉ lệ mỡ cơ thể trung  
bình ở học sinh nam là 19,41%; ở nữ là 21,33% (P < 0,001). Từ ngưỡng bách phân vị tỉ lệ mỡ cơ  
thể được xây dựng trong nghiên cứu đã phân loại tình trạng dinh dưỡng cho trẻ tại thị xã Từ Sơn.  
Theo đó, thực trạng tỉ lệ mỡ cơ thể ở học sinh THCS tại thị xã Từ Sơn đang tương đối cao. Trong  
tổng số nghiên cứu, học sinh có tỉ lệ mỡ cơ thể bình thường chiếm 78,61%, thừa cân chiếm  
10,23% và béo phì chiếm 5,58%. Tỉ lệ thừa cân và béo phì ở học sinh trường THCS Từ Sơn cao  
hơn so với tỉ lệ này ở học sinh trường THCS Nguyễn Văn Cừ (16,8% so với 13,4%, P = 0,049).  
Việc phân tích thực trạng tỉ lệ mỡ cơ thể trên nhiều khía cạnh là cần thiết. Kết quả của nghiên cứu  
là cơ sở để xây dựng các hoạt động giáo dục, tuyên truyền về thói quen ăn uống lành mạnh và mức  
độ hoạt động thể lực để học sinh duy trì cân nặng phù hợp với chiều cao, tăng cường sức khoẻ.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] P. N. N. Van, “Overweight and obesity among adolescents in Ho Chi Minh City, Vietnam,” Doctoral  
dissertation, UCL-Université Catholique de Louvain, 2013.  
[2] V. T. D. Hien, and H. Khanh, “Study on overweight and obesity situation of students aged 11-15 years  
at some junior high schools in Hue city,” Journal of Practical Medicine, vol. 1, pp. 28-30, 2008.  
[3] T. H. H. Nguyen, T. T. Le, T. A. D. Duong, Y. Tao, and D.-T. Chu, “Childhood Obesity Is a High-risk  
Factor for Hypertriglyceridemia: A Case-control Study in Vietnam,” Osong Public Health Res  
Perspect, vol. 8, no. 2, pp. 138-146, 2017.  
[4] W. Dietz, “Health consequences of obesity in youth: childhood predictors of adult disease,” Pediatrics,  
vol. 101, no. 3, pp. 518-523, 1998.  
[5] T. T. Le, N. T. Nguyen, D. T. Chu, and N. T. H. Hanh, “Percentage body fat is as a good indicator for  
determining adolescents who are overweight or obese: a cross-sectional study in Vietnam,” Osong  
public health and research perspectives, vol. 10, no. 2, pp. 108-114, 2019.  
[6] K. Kim, S. H. Yun, M. J. Jang, and K. W. Oh, “Body fat percentile curves for Korean children and  
adolescentas: a data from the Korea National Health and Nutrition Examination Survey 2009-2010,”  
Journal of Korean medical science, vol. 28, no. 3, pp. 443-449, 2013.  
[7] Centers for Disease Control and Prevention, “Defining Childhood Obesity” [Online]. Available:  
[8] G. Rodríguez, L. A. Moreno, M. G. Blay, V. A. Blay, J. M. Garagorri, A. Sarria, and M. Bueno, “Body  
composition in adolescents: measurements and metabolic aspects,” International Journal of Obesity,  
vol. 28, pp. S54-S58, 2004.  
[9] J. C. K. Wells, “Body composition in childhood: effects of normal growth and disease,” Proceedings of  
the Nutrition Society, vol. 62, no. 02, pp. 521-528, 2003.  
[10] M. B. Horlick, M. Rosenbaum, M. Nicolson, L. S. Levine, B. Fedun, J. Wang, R. N. Pierson, and R.  
L. Leibel, “Effect of puberty on the relationship between circulating leptin and body composition,”  
The Journal of Clinical Endocrinology & Metabolism, vol. 85, pp. 2509-2518, 2000.  
[11] P. Schwandt, A. von Eckardstein, and G. M. Haas, “Percentiles of percentage body fat in German  
children and adolescents: an international comparison,” International journal of preventive medicine,  
vol. 3, no. 12, pp. 846-852, 2012.  
[12] V. A. Khadilkar, N. J. Sanwalka, S. A. Chiplonkar, V. V. Khadilkar, and D. Pandit, “Body fat  
reference percentiles on healthy affluent Indian children and adolescents to screen for adiposity,”  
International Journal of Obesity, vol. 37, no. 7, pp. 947-953, 2013.  
26  
pdf 7 trang yennguyen 14560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tình trạng dinh dưỡng phân loại theo tỉ lệ mỡ cơ thể ở học sinh 11-14 tuổi tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh năm 2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftinh_trang_dinh_duong_phan_loai_theo_ti_le_mo_co_the_o_hoc_s.pdf