Tiền ảo có thể được xem là tài sản
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
TIỀN ẢO Có THể ĐƯợC XEM LÀ TÀI SẢN
Nguyễn Đình Phước
NCS.-Đại-học-Victoria-University-of-Wellington,-New-Zealand
Thông tin bài viết:
Từ khóa: Tiền ảo, tiền mã hóa,
quyền sở hữu, sở hữu trí tuệ.
Tóm tắt:
Vụ cướp tiền ảo diễn ra giữa năm 2020 đã dấy lên tranh luận về tính
hợp pháp của việc sở hữu tài sản là tiền ảo. Trong phạm vi bài viết
này, tác giả phân tích các khía cạnh pháp lý và kinh tế của quyền sở
hữu đối với tài sản là tiền ảo, cùng với lý luận chung về quyền sở hữu
dưới các quan điểm quốc tế phổ biến hiện nay để làm rõ một số quan
điểm chưa rõ ràng về vấn đề sở hữu đối với loại hình mới này.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 05/10/2020
: 17/10/2020
: 21/10/2020
Abstract:
Article Infomation:
The incident of robbing virtual currency in the middle of 2020 has
raised the debate of the legitimacy of owning the property as virtual
currency. Within the scope of this article, the author provides an
analysis of the legal and economic aspects of ownership over the
virtual currency as property, along with the general theory of
ownership under current popular international perspectives to clarify
some unclear viewpoints on the ownership of this new type of
currency.
Key words:
cryptocurrency, property right,
intellectual property
Virtual currency,
Article History:
Received
Edited
: 05 Oct. 2020
: 17 Oct. 2020
: 21 Oct. 2020
Approved
ụ cướp 35 tỷ đồng tiền ảo xảy ra vào
giữa năm nay1 đã làm dấy lên một
cuộc tranh luận về bản chất vụ việc
Tác giả cho rằng, tiền mã hóa hoàn toàn có
thể được xem là một loại tài sản, kể cả theo
quy định của pháp luật Việt Nam hay theo lý
luận chung về sở hữu tài sản.
1. Sơ lược về tiền kỹ thuật số, tiền mã hóa,
tiền ảo
Tiền ảo (virtual currency), tiền kỹ thuật
số (digital currency), tiền mã hóa
(cryptocurrency) là các khái niệm dễ gây
nhầm lẫn với những người không có hiểu
biết sâu về công nghệ viễn thông. Nhiều
phương tiện thông tin đại chúng đang sử
dụng các thuật ngữ này lẫn lộn với nhau.
Mặc dù không hoàn toàn thống nhất về cách
gọi, nhưng dựa vào các khuyến nghị của
V
có hay không hành vi cướp xảy ra, nếu tiền
ảo không phải là một loại tài sản? Đã có khá
nhiều nghiên cứu trước đây cho rằng, tiền ảo
không được pháp luật Việt Nam thừa nhận
là một loại tài sản, với lý do chủ yếu dựa vào
Công văn số 5747/NHNN-PC
ngày
21/7/2017 của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam không thừa nhận tiền ảo là một phương
tiện thanh toán; từ đó suy luận rằng, tiền ảo
không phải là tiền, nên không phải là tài sản
theo quy định của Bộ luật Dân sự. Đây là
một lập luận có nhiều thiếu sót do chưa hiểu
hết được bản chất của loại tiền ảo nêu trên.
1
cai-vu-doanh-nhan-bi-cuop-35-ty-dong-tien-ao-527218.html.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
20
Số 21 (421) - T11/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Ngân hàng trung ương Châu Âu, Ngân hàng
Thanh toán quốc tế và Tạp chí Bitcoin thì
các loại tiền nêu trên có thể được phân loại
một cách khái quát như sau:2 Tiền điện tử
(electronic money) là danh từ chỉ chung tất
cả các loại tiền tệ hoặc tài khoản không tồn
tại dưới một hình thức vật lý bất kỳ; tiền kỹ
thuật số (digital currency) là một tập con của
tiền điện tử dùng để chỉ các loại tiền chỉ tồn
tại dưới hình thức kỹ thuật số mà không
được chấp nhận quy đổi một cách rộng rãi
ra các đồng tiền vật lý khác3. Tiền ảo (virtual
currency) được xem là tập con của tiền kỹ
thuật số, khi nó được tạo ra với mục đích chủ
yếu để chỉ thanh toán mua bán dịch vụ và
hàng hóa4. Tiền mã hóa là một tập con của
tiền điện tử5, dùng để chỉ các loại tiền điện
tử được tạo ra trên nền tảng mã hóa
(cryptographic) nhằm bảo đảm tính xác thực
của giao dịch với các đồng tiền này.
Trong vụ việc có dấu hiệu của tội cướp
tài sản nêu trên, đồng tiền bị cướp là một loại
tiền mã hóa mang tên Bitcoin. Nghiên cứu
này chỉ điểm qua mà không đi sâu vào giải
thích công nghệ blockchain (khối chuỗi) nền
tảng của tiền mã hóa, vì vấn đề này đã được
làm sáng tỏ bởi nhiều nghiên cứu khác. Thay
vào đó, nghiên cứu này tập trung nêu ra các
tính chất khiến tiền mã hóa khác với các loại
tiền kỹ thuật số khác, từ đó làm cơ sở cho
lập luận bảo vệ quyền sở hữu đối với tài sản
là tiền mã hóa.
phẩm, dịch vụ qua mạng internet (như
Apple, Amazon), cho phép người dùng có
thể mua hàng hóa dịch vụ trên website của
công ty đó mà không cần dùng tới tiền hoặc
tín dụng ngân hàng. Thực chất, nếu suy xét
kỹ lưỡng thì tín dụng tại ngân hàng thương
mại cũng là một loại tiền kỹ thuật số, vì nó
là những thông tin điện tử được lưu trữ bằng
máy chủ của các ngân hàng, được bảo đảm
sử dụng bởi tài sản của chính ngân hàng
cung cấp tín dụng đó, cũng như bảo hiểm
của ngân hàng đã mua. Nếu một ngân hàng
bị phá sản thì tín dụng của ngân hàng đó
cũng khó có thể được quy đổi ra tiền mặt
(tiền lưu thông trên thị trường), vì chỉ có tài
khoản ghi nợ của ngân hàng mới được nằm
trong danh sách được ưu tiên thanh toán khi
phá sản6.
Một dạng tiền kỹ thuật số phổ biến khác
là các đồng tiền được phát hành bởi các tổ
chức cung cấp dịch vụ ví điện tử như Momo,
Zalo. Với việc sở hữu các đồng tiền này,
người dùng có thể thanh toán sản phẩm, dịch
vụ của một bên thứ ba mà không cần dùng
đến tiền mặt. Dạng tiền kỹ thuật số này thực
chất vẫn gắn liền với đồng tiền pháp lý (legal
tender) của một quốc gia, vì các đơn vị cung
cấp dịch vụ ví điện tử thực chất chỉ đang
hoạt động như một bên trung gian thanh
toán, nhận tiền của khách hàng và thanh toán
cho bên cung cấp sản phẩm dịch vụ, chứ
không phát hành ra một loại đồng tiền mới.
Ngoài ra, đôi khi người dùng cũng nhầm
tưởng tiền tệ trong các ứng dụng, trò chơi
điện tử là một loại tiền kỹ thuật số, dù về mặt
Trước khi tiền mã hóa xuất hiện, đã có
nhiều loại tiền kỹ thuật số khác tồn tại, ví dụ
như tín dụng của các công ty cung cấp sản
2
3
4
5
Pieters, G. C. (2017) “The potential impact of decentralized virtual currency on monetary policy” Federal
Reserve Bank of Dallas-Globalization and Monetary Policy Institute 2016 Annual Report.
Để tiện so sánh. tiền điện tử như tài khoản Paypal có thể được quy đổi ra tiền vật lý như đồng USD hay
EUR bởi rất nhiều tổ chức tín dụng trên toàn thế giới.
Trong khi đó, tiền kỹ thuật số vẫn có thể sử dụng với các chức năng khác như làm thước đo giá trị hoặc
phương tiện cất trữ.
Mặc dù cùng là tập con của tiền điện tử, nhưng tiền mã hóa có nội hàm rộng hơn tiền điện tử, và có thể
bao hàm cả điện tử. Có thể tạm xem rằng tại thời điểm này Bitcoin là một loại tiền điện tử đã được chấp
nhận quy đổi rộng rãi trên thế giới ra các loại tiền vật lý khác khi được chấp nhận thanh toán bởi tổ chức
Paypal.
6
Điều này phù hợp cả về mặt lý luận phá sản và quy định phá sản của tổ chức tín dụng tại Việt Nam, quy
định tại khoản 3 Điều 152b Luật Các tổ chức tín dụng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
21
Số 21 (421) - T11/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
pháp lý thì hoàn toàn không được thừa nhận
bởi cả Nhà nước và chính các nhà phát
hành7. Tuy nhiên, thực tế trên thế giới đã
từng có những giao dịch trị giá hàng triệu đô
la Mỹ cho những tài sản trong trò chơi điện
tử trực tuyến8. Ở Việt Nam cũng từng ghi
nhận những phi vụ giao dịch chui các tài sản
ảo trong trò chơi trị giá lên tới hàng trăm
triệu đồng9.
như một loại tiền tệ phi tập trung sơ khai. Lý
do hầu hết mọi nơi trên thế giới trong quá
khứ cũng như hiện nay, vàng đều được xem
là một kim loại quý. Tính chất quý hiếm của
vàng khiến nó trở nên có giá trị và được thừa
nhận bởi hầu hết các cá nhân và chính phủ
các nước. Dựa trên ý tưởng này, nếu tồn tại
một loại thông tin điện tử cũng quý hiếm và
có thể cạn kiệt thì nó cũng hoàn toàn có thể
trở nên có giá trị toàn cầu, không phụ thuộc
vào sự thừa nhận hay bảo đảm của một đơn
vị phát hành. Đó chính là ý tưởng cơ bản của
tiền mã hóa.
Có quan điểm cho rằng, thông tin nói
chung và thông tin điện tử nói riêng không
thể quý hiếm, và cũng không phát sinh từ
hoạt động khai thác giống như vàng. Tuy
nhiên, nếu tìm hiểu kỹ về bản chất của công
nghệ blockchain (công nghệ nền tảng khai
sinh nên tiền mã hóa), có thể thấy điều này
là khả thi cả về mặt công nghệ lẫn về mặt sử
dụng thông tin. Phát minh, bằng sáng chế,
với tư cách là một loại tài sản thuộc nhóm
sở hữu trí tuệ, cũng là một bằng chứng cho
việc thông tin quý hiếm có thể có giá trị kinh
tế. Những loại tiền mã hóa ở giai đoạn đầu
như Bitcoin (trên cơ sở proof of work - bằng
chứng công việc) quý hiếm ở chỗ nó cần sử
dụng sức mạnh điện toán và năng lượng điện
để tìm kiếm. Bên cạnh đó, còn tồn tại những
loại tiền mã hóa trên cơ sở Proof of stake
(bằng chứng cổ phần) tuy không phải là sản
phẩm được tạo ra thuần túy dựa trên sức
mạnh điện toán, nhưng lại sở hữu giá trị kinh
tế thông qua việc nắm quyền định đoạt đối
với các giao dịch khác, có thể hình dung
tương tự như cổ phần ưu đãi biểu quyết.
Như vậy, có thể thấy, dưới góc độ kinh
tế, tiền mã hóa có giá trị kinh tế, có thể giao
dịch được.
Đặc điểm chung của các loại tiền kỹ
thuật số trên là đều được ghi nhận bởi một
(cụm) máy chủ của một đơn vị phát hành.
Trong tiếng Anh, thuật ngữ được dùng để chỉ
những loại tiền trên là centralised currency
(tiền tệ tập trung). Nói một cách rộng hơn,
bất kỳ loại tiền tệ nào được bảo đảm bởi một
đơn vị phát hành, bất kể là tư nhân hay nhà
nước, đều được xem là tiền tệ tập trung. Tính
chất tập trung của loại tiền tệ này được thể
hiện ở chỗ, nếu đơn vị phát hành bị phá sản,
thì đồng tiền đó bị mất giá trị. Có thể nhìn
nhận vụ việc lạm phát phi mã 10 con số ở
Zimbabwe vào những năm 2008 là một ví dụ
cho việc một nhà nước có thể bị phá sản và
đồng tiền của họ gần như không còn giá trị.
Lý thuyết về tiền tệ phi tập trung
(decentralised currency) đã được manh nha
hình thành bởi các nhà kinh tế học từ khoảng
những năm 90 của thế kỷ trước10, nhưng với
sự hạn chế của công nghệ thời bấy giờ thì ý
tưởng đó chưa thể phổ biến được. Mãi đến
năm 2009, với sự phát triển của công nghệ
điện toán và viễn thông, loại tiền tệ phi tập
trung được phát triển bởi một lập trình viên
mang bí danh Satoshi Nakamoto được biết
đến với tên gọi Bitcoin mới được trở nên
thịnh hành, mở đầu cho kỷ nguyên của tiền
mã hóa (cryptocurrency).
Để dễ hình dung, có thể tạm xem vàng
7
8
Điều 104, 105, 106 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP.
Andrew Steinwold (2019) The World’s
Most
Expensive
Digital
Items,
9
dat-nhat-lich-su-tung-xuat-hien-trong-lang-game-viet-20200420165025643.chn.
10 “Tiền mã hóa là gì? Tìm hiểu về lịch sử ra đời của tiền mã hóa”, https://timebit.news/tin-tuc/tien-ma-hoa-
la-gi-tim-hieu-ve-lich-su-ra-doi-cua-tien-ma-hoa/.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
22
Số 21 (421) - T11/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
2. Tiền tệ với tư cách là một loại tài sản
2.1. Quyền tài sản
hữu đơn thuần là quan hệ pháp luật, do đó
nội dung của quan hệ là do pháp luật quy
định. Theo tư duy này, quyền sở hữu là một
quyền pháp lý do nhà nước thừa nhận nên
chỉ những thứ được nhà nước thừa nhận mới
có thể được coi là tài sản. Tư duy này không
những có khả năng đi ngược lại với quan
điểm gốc của pháp luật theo chủ nghĩa Mác,
mà còn không phù hợp với các quan điểm
triết học pháp lý phổ biến trên thế giới, và
đặc biệt trở nên cũ kỹ trong thời đại công
nghệ thông tin hiện nay13.
Các tư tưởng pháp lý thực chứng hiện
đại như HLA Hart14 hay Joseph Raz15 cũng
thừa nhận, pháp luật do nhà nước ban hành
là nền tảng cho các quyền pháp lý, nhưng lại
không quá đề cao vai trò của nhà nước đối
với quyền con người, đồng thời phủ nhận
luận điểm của John Austin16 và Jeremy
Bentham17 cho rằng pháp luật đơn giản là
những mệnh lệnh của những người có quyền
lực18. Trong phân tích của Hart, pháp luật
được lý giải như một chức năng của nhà
nước, nghĩa là trong quá trình hoạt động của
mình, nhà nước thừa nhận các quyền của cá
nhân, chứ không phải nhà nước đặt ra pháp
luật để định nghĩa đâu là quyền của cá nhân.
Tại sao con người lại có quyền sở hữu tài
sản? Đó là câu hỏi không dễ trả lời dưới góc
độ triết học pháp lý. Đứng trên quan điểm
của John Locke, một nhà tư tưởng nổi tiếng
ngườiAnh thế kỷ 15, thì quyền sở hữu tài sản
là một quyền năng tự nhiên gắn liền với quan
điểm về quyền sở hữu thành quả lao động
(fruit of labour)11. Một người có công trồng
cây thì đương nhiên quả của cây đó thuộc
quyền sở hữu duy nhất của người đã trồng nó
mà không thuộc về ai khác, đó là lẽ tự nhiên
và không phụ thuộc vào sự thừa nhận của bất
cứ ai khác, kể cả nhà nước.
Một số nhà luật học theo trường phái
thực chứng (positivism) cận đại như John
Austin lại cho rằng, con người sinh ra không
có quyền, quyền của con người chỉ được
thừa nhận bởi nhà nước. Đây cũng là quan
điểm mà một số nhà luật học theo trường
phái Mác xít của Nga đã tiếp thu khi diễn
giải quan điểm của Mác về con người trong
mối quan hệ với nhà nước, và sau này được
tiếp thu bởi các nhà lập pháp của Việt Nam12.
Có thể nói đây là quan điểm cũ, mang
tính chất giáo điều khi cho rằng quan hệ sở
11 John Locke “Hai khảo luận về chính quyền”, Chương 5, khảo luận thứ 2.
12 Các tư duy này được du nhập vào Việt Nam thông qua các phân tích pháp lý của Nga dưới thời Stalin, phủ
nhận các phân tích pháp lý của Pashukanis. Theo nhiều quan điểm hiện đại được lật lại gần đây, thực chất
Pashukanis mới có thể được xem là ông tổ của học thuyết pháp lý Mác xít với tác phẩm “Lý thuyết chung
về pháp luật và chủ nghĩa Mác” năm 1924 (Bản gốc tiếng Nga Obshchaiateoriiapravaimarksizm:
Opytkritikiosnovnykhiuridicheskikhponiatii, bản dịch tiếng Anh The General Theory of Law and Marxism
bởi Peter B. Maggs). Trong tác phẩm này, Pashukanis thể hiện quan điểm rất hiện đại khi phủ nhận luận
điểm của Austin, nhìn nhận hệ thống pháp luật là các nguyên tắc xử sự xã hội hơn là các mệnh lệnh của
nhà nước.
13 Trang 29, 46-47.
14 Herbert Lionel Adolphus Hart FBA (1907-1992), thường được viện dẫn vắn tắt dưới tên H.L.A Hart, là
một nhà triết gia pháp lý người Anh nổi tiếng với tác phẩm kinh điển Khái niệm Luật pháp (The Concept
of Law), được cho là nền tảng của tư tưởng pháp lý thực chứng hiện đại.
15 Joseph Raz, giáo sư triết học pháp luật hiện đang giảng dạy tại Đại học Luật Columbia, là một nhà triết
gia pháp lý, chính trị và đạo đức nổi tiếng người Israel, người đã phát triển lý thuyết pháp lý thực chứng
của H.L.A Hart sau khi Hart mất.
16 John Austin (1790-1859) là một nhà tư tưởng pháp lý người Anh, được cho là người đã đặt nền móng cho
tư tưởng pháp lý thực chứng cận đại, có sức ảnh hưởng rất lớn đến các tư tưởng pháp lý của thế kỷ 19-20.
17 Jeremy Bentham (1748-1832) là một nhà triết gia và luật gia người Anh, người phát triển chủ nghĩa vị lợi
(ultilitarianism), đặt nền móng cho tư tưởng pháp luật của hệ thống luật Anh-Mỹ hiện đại.
18 Raymond Wacks Philosophy of law (2nd ed, Oxford University Press, 2014) tr.35.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
23
Số 21 (421) - T11/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Mặt khác, việc quy định theo hướng liệt
kê những tài sản nào được phép sở hữu tư rõ
ràng là không phù hợp và không khả thi, mà
thay vào đó nhà nước chỉ có thể quy định
không cho phép sở hữu tư với một số loại tài
sản như đất đai. Hiện nay, pháp luật Việt
Nam cũng không có quy định cụ thể cấm sở
hữu dạng tài sản như tiền mã hóa.
Thực chất, quyền tài sản không chỉ bao
gồm quyền về các tài sản như quy định tại
Chương VII BLDS 2015, mà là một nhóm
các quyền và lợi ích, bao gồm vật quyền và
trái quyền20. Mặt khác, đã có nhiều nghiên
cứu chỉ ra rằng, sẽ là thiếu sót nếu chỉ coi
những vật quyền và trái quyền được thừa
nhận bởi BLDS mới là tài sản. Các nghiên
cứu này đã chỉ ra mặc dù BLDS 2015 không
sử dụng thuật ngữ vật quyền, nhưng đã mở
rộng tư duy về sở hữu theo hướng thừa nhận
mối quan hệ sở hữu đối với cả những tài sản
và quyền tài sản theo hướng rộng hơn21.
Bàn về tiền tệ với tư cách là một loại tài
sản, cần phải trả lời câu hỏi: tại sao tiền tệ
lại được sinh ra? Trên thế giới có nhiều quan
điểm khác nhau về chức năng của tiền tệ,
nhưng về cơ bản đều đồng ý những chức
năng cơ bản nhất của nó là thước đo giá trị,
phương tiện thanh toán và phương tiện cất
trữ22. Được sinh ra với những chức năng trên,
tiền tệ là một loại tài sản đặc biệt có giá trị
do được cộng đồng người sử dụng thừa nhận,
chứ bản thân tiền tệ không có giá trị nội tại.
Nếu một thương gia đem một tờ tiền 100
USD đến trao đổi hàng hóa với những bộ lạc
chưa kết nối với thế giới văn minh như tộc
người Awa ở Brazil thì gần như chắc chắn
thương gia đó sẽ ra về với bàn tay trắng, vì
đối với những người này, một tờ giấy nhỏ
như vậy chẳng có giá trị sử dụng gì. Ngược
2.2. Tiền tệ là một loại vật quyền đặc
biệt
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm
2015 (BLDS 2015), tài sản là “vật, tiền, giấy
tờ có giá và quyền tài sản”19. Như vậy,
BLDS 2015 đã có sự tách biệt rõ ràng giữa
tiền với các tài sản khác. Tại sao lại có sự
tách biệt này?
Nếu như ở thời trung cổ trở về trước,
tiền có thể hiểu đơn giản là một vật như tờ
giấy, đồng xu. Tuy nhiên, với sự phát triển
của thương mại và hệ thống ngân hàng, tiền
được mở rộng sang những loại tiền phi vật
chất như tín dụng, ghi nợ, và tiền kỹ thuật số
như đã phân tích ở trên. Tiền cũng không
phải đơn thuần là một dạng tài sản phi vật
chất như kiến thức (các loại tài sản sở hữu
trí tuệ), và tiền cũng không phải là trái quyền
vì nó không trực tiếp làm phát sinh năng lực
yêu cầu người khác thực hiện hay không
thực hiện một hành vi. Do đó, tiền cần phải
có một chỗ đứng riêng trong hệ thống các
quyền về tài sản.
19 Khoản 1 Điều 105 BLDS 2015.
20 Huỳnh Anh “Tư duy vật quyền qua chế định tài sản và chế định chiếm hữu trong pháp luật dân sự”
trong-phap-luat-dan-su-13166/.
21 Đoàn Thị Ngọc Hải (2019) “Vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam”
https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2449; Trương Thị Diệu Thúy (2017)
“Một số suy nghĩ về quy định liên quan đến “vật quyền” trong Bộ luật Dân sự năm 2015”,
22 Các chức năng này có thể được hiểu như sau: Một người nông dân có thể sản xuất 01 tấn lúa trong một
năm, và một ngư dân có thể đánh bắt được 02 tấn cá trong một năm. Nếu cho rằng sức lao động đã bỏ ra
của người nông dân và ngư dân là tương đương nhau, thì 01 tấn lúa và 02 tấn cá đều có giá trị là một năm
lao động của một người. Đó chính là chức năng của tiền tệ với tư cách là một thước đo giá trị. Nếu lấy một
năm lao động của một người làm đơn vị tiêu chuẩn của tiền tệ (tức 01 đồng), thì một người trồng rừng ở
một ngôi làng khác có thể đến mua 01 tấn lúa hoặc 02 tấn cá với giá 01 đồng mà không cần mang theo 01
tấn gỗ bên mình. Đó chính là chức năng làm phương tiện thanh toán. Nếu một người nông dân trong 10
năm có thể sản xuất được 10 tấn gạo nhưng chỉ ăn hết 01 tấn gạo thì có thể bán 09 tấn còn lại để lấy 09
đồng và mua các hàng hóa khác, tránh để gạo bị mối mọt hư hại. Đó chính là chức năng làm phương tiện
cất trữ.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
24
Số 21 (421) - T11/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
lại, vàng - kim loại thường được dùng làm
tiền tệ trong quá khứ - lại có giá trị nội tại bởi
sự khan hiếm cũng như công sức lao động để
khai thác vàng, nhưng chúng đã bị từ bỏ làm
bản giá trị cho đồng tiền từ đầu thế kỷ 20. Có
thể thấy, giá trị nội tại không phải là tính chất
thiết yếu của tài sản nói chung và tiền nói
riêng23. Trong xã hội hiện đại ngày nay, tiền
mặt hay tín dụng đều được xem là tiền tệ, và
tiền không còn mang tính chất là một vật hữu
hình như trong quá khứ.
Dù ở Việt Nam và đa số nước khác, tiền
tệ chỉ do ngân hàng trung ương phát hành và
được chính phủ bảo đảm làm phương tiện
thanh toán, trên thế giới vẫn tồn tại những
loại tiền do ngân hàng phát hành tư như
đồng đô la Liberty ở Mỹ, đồng 1000 đô la
Hồng Kông do Ngân hàng HSBC Hồng
Kông phát hành.
cũng có thể được sử dụng như một phương
thức lưu trữ giá trị. Cho dù bị lược bỏ chức
năng như phương tiện thanh toán giống như
tiền tệ chính thức, tiền mã hóa vẫn có giá trị
kinh tế đối với người sở hữu.
Giá trị lưu trữ của đồng tiền proof of
work như Bitcoin, có thể được hiểu như sau:
giả sử để phát sinh một Bitcoin thì cần một
máy tính có tốc độ xử lý 10 megahertz bật
liên tục chạy trong 1 năm và tiêu thụ hết 01
gigawatt điện; hoặc cần hai máy tính mỗi
máy có tộc độ 05 megahertz bật liên tục
trong một năm và tiêu thụ hết 02 gigawatt
điện (do các máy tính này cũ hơn và tốn
nhiều điện năng hơn), thì một Bitcoin đều có
giá trị là 01 năm xử lý của một máy tính 10
megahertz. Đây là thành quả tính toán của
máy tính, nơi con người cần đầu tư hạ tầng
(máy móc) và năng lượng (điện) để có được
thông tin (Bitcoin).
Thứ hai, tiền mã hóa là một dạng thông
tin đặc biệt có giá trị kinh tế độc nhất cho
người sở hữu. Điều này khiến tiền mã hóa
giống với quyền tài sản đối với tài sản sở
hữu trí tuệ như bằng phát minh ở chỗ nó cho
phép người sở hữu thông tin có được một
quyền lợi kinh tế khi biết được thông tin này,
nhưng nó khác ở chỗ chỉ có một và chỉ một
người có thể sử dụng thông tin này, sau khi
Bitcoin đã được chuyển nhượng thì thông tin
đó trở nên vô giá trị.
Tiền mã hóa có một số định danh xác
định cho một đồng tiền (tương tự như số
serie của một tờ tiền giấy), cho phép người
sở hữu đồng tiền được xác thực rằng có tồn
tại trên hệ thống blockchain một đồng tiền
Bitcoin đã được khai thác bởi một máy tính
tham gia vào hệ thống. Đồng thời, gắn liền
với mỗi đơn vị Bitcoin đã được khai thác là
một mã khóa tư (private key) cho phép
người dùng giao dịch nó, tức chuyển nhượng
vào một tài khoản khác. Khi một Bitcoin đã
được chuyển nhượng vào một tài khoản
Từ những luận điểm trên, có thể thấy
tiền với tư cách là một loại tài sản có thể sở
hữu tư, là một dạng vật quyền (jus in rem),
nơi mà quyền của chủ sở hữu làm phát sinh
nghĩa vụ tôn trọng quyền sở hữu với toàn thể
mọi người trong xã hội đối với một tài sản
dù cho đó (tiền) là tài sản phi vật thể.
3. Tiền mã hóa là tài sản
Sau khi phân tích lý luận về sở hữu tiền
tệ cũng như tìm hiểu về bản chất của tiền mã
hóa, có thể kết luận, tiền mã hóa hoàn toàn
có thể được xem là tài sản, dựa vào hai luận
điểm sau:
Thứ nhất, kể cả nếu tiền mã hóa không
được thừa nhận là một loại tiền tệ chính thức
tại Việt Nam, tiền mã hóa vẫn có thể đáp ứng
tư cách là một loại quyền tài sản, do đó tiền
mã hóa vẫn là tài sản. Nói cách khác, tiền mã
hóa dù không phải là tiền tệ theo quan điểm
quản lý nhà nước, vẫn là một loại vật quyền
phù hợp với tinh thần chung của BLDS 2015
về quyền tài sản.
Mặc dù, tiền mã hóa không được sử
dụng như phương tiện thanh toán, nhưng
23 Jongchul Kim “Money Is Rights in Rem: A Note on the Nature of Money” (2014) 48 Journal of Economic
Issues 1005 tr.1009.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
25
Số 21 (421) - T11/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
khác, nó sẽ được ghi nhận bởi một số serie
mới, và số serie của đồng Bitcoin cũ được
xem là hết hiệu lực. Điều này đồng nghĩa với
việc với 01 đồng Bitcoin chỉ có thể tồn tại
duy nhất 01 chủ sở hữu cùng lúc, không thể
có người thứ hai được phép giao dịch bằng
đồng Bitcoin đó.
Nói cách khác, mã khóa tư là một dạng
thông tin độc quyền cho phép người dùng
quyền độc nhất để sử dụng (giao dịch) một
Bitcoin. Mã khóa công (public key) là một
thông tin đi kèm một Bitcoin cho phép tất cả
mọi người kiểm tra xem có tồn tại trên hệ
thống một Bitcoin đã được khai thác với số
serie như vậy hay không.
Để dễ hình dung, có thể tưởng tượng
thông tin này giống như địa chỉ của một
Bitcoin trên hệ thống. Ai có được địa chỉ này
thì sẽ có quyền giao dịch với số Bitcoin ghi
nhận tại địa chỉ đó. Sau khi giao dịch,
Bitcoin sẽ thay đổi địa chỉ, và người biết địa
chỉ cũ của Bitcoin chỉ biết được nó đã
chuyển đến địa chỉ mới chứ không có quyền
thực hiện giao dịch với nó.
Với hai đặc tính là có giá trị kinh tế và có
thể được chuyển nhượng, tiền mã hóa hoàn
toàn đáp ứng tính chất là một loại tài sản.
Ở Việt Nam, việc cấm phát hành, cung
ứng và sử dụng tiền mã hóa, như đề cập tại
Công văn số 5747/NHNN-PC ngày
21/7/2017 của Ngân hàng Nhà nước, bộc lộ
một số nhược điểm sau đây:
bất cập trong việc bảo hộ quyền sở hữu của
công dân. Hơn nữa, với xu hướng bùng nổ
của nhiều nền tảng tiền mã hóa cùng với
ICO (Initial Coin Offering),24 việc cho phép
đầu tư vào các doanh nghiệp công nghệ tiền
mã hóa là một động lực thúc đẩy phát triển
công nghệ này tại Việt Nam, khi các dạng
hợp đồng thông minh dựa trên công nghệ
blockchain được cho là sẽ thống trị giao dịch
điện tử trong tương lai.
Ba là, việc cấm sử dụng tiền ảo không
đem lại lợi ích trực tiếp gì cho Chính phủ
cũng như người dân Việt Nam, ngược lại còn
làm giảm tính cạnh tranh trên trường thương
mại quốc tế. Quan điểm không quản lý được
thì cấm không phù hợp với giai đoạn phát
triển kinh tế hiện nay. Lo ngại sử dụng tiền
mã hóa như công cụ rửa tiền hoàn toàn phản
tác dụng, vì rất khó hoặc gần như không thể
cấm người dân mua tiền mã hóa từ các
nguồn nước ngoài như một kênh đầu tư, mà
lại làm mất đi cơ hội đưa việc mua bán vào
vòng kiểm soát để giảm thiểu việc rửa tiền.
4. Kết luận
Thừa nhận tiền mã hóa là tài sản là xu
hướng chung trên thế giới. Điều này không
chỉ phù hợp với các lý luận chung về tài sản
và sở hữu, mà còn đáp ứng với thực tiễn phát
triển của các đồng tiền mã hóa, thúc đẩy phát
triển kinh tế nói chung. Theo nghiên cứu vào
năm 2015 của Chính phủ Hoa Kỳ25, chỉ có
9/130 quốc gia cấm tuyệt đối sở hữu tiền mã
hóa, trong đó có Việt Nam, 16 quốc gia khác
cấm một cách gián tiếp.
Một là, nhu cầu sử dụng và mua bán tiền
mã hóa như một kênh đầu tư kinh tế là nhu
cầu chính đáng và có thể đánh thuế được.
Việc không thừa nhận tiền mã hóa đã và
đang làm Việt Nam tự mất đi nguồn thu từ
hoạt động kinh doanh này.
Vì vậy, theo tác giả, Nhà nước, cụ thể là
Ngân hàng Nhà nước cần sớm nghiên cứu
ban hành quy chế sở hữu đối với loại tài sản
tiền mã hóa này, nhằm đảm bảo quyền lợi cho
Hai là, việc không thừa nhận tiền mã
hóa như tài sản, đồng thời cũng làm bộc lộ
cả Nhà nước và người dân trong tương lai
n
24 ICO tương tự như việc một công ty chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng (còn gọi là phát hành
công khai lần đầu - IPO), nhưng thay vì chứng khoán thì công ty sẽ chào bán đồng tiền mã hóa của công
ty phát hành.
25 Law library of Congress, “Regulation of Cryptocurrency Around the World”, https://www.loc.gov/law/
help/cryptocurrency/world-survey.php.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
26
Số 21 (421) - T11/2020
Bạn đang xem tài liệu "Tiền ảo có thể được xem là tài sản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tien_ao_co_the_duoc_xem_la_tai_san.pdf

