Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế của WTO và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam sau 26 năm phát triển

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ  
CỦA WTO VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM  
SAU 26 NĂM PHÁT TRIỂN  
Nguyễn Mai Linh*  
*ThS. Giảng viên Khoa Pháp luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Sau 26 năm hình thành và phát triển, cơ chế giải quyết tranh chấp thương  
mại quốc tế của Tổ chức Thương mại thế giới (Word Trade Orgnaization  
– WTO) đã đạt được nhiều thành công. Bên cạnh đó, thực tiễn giải quyết  
tranh chấp thương mại của WTO đã đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi WTO  
cần sớm hoàn thiện cơ chế này.  
Từ khóa: Giải quyết tranh chấp  
thương mại quốc tế; Tổ chức  
Thương mại thế giới (WTO);  
quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc  
giải quyết tranh chấp (DSU).  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 24/12/2020  
: 08/01/2021  
: 11/01/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
After26yearsofestablishmentanddevelopment,theWTO’sinternational  
trade dispute settlement mechanism has achieved many successes. In  
addition, the practice of WTO’s dispute settlement mechanism has faced  
with several challenges that require WTO to improve this mechanism.  
Keywords: Dispute settlement,  
WTO, DSU  
Article History:  
Received  
Edited  
: 24 Dec. 2020  
: 08 Jan. 2021  
: 11 Jan. 2021  
Approved  
1. Tình hình sử dụng cơ chế giải quyết  
tranh chấp của WTO  
quốc tế”. Thật vậy, WTO ra đời đã mang lại  
nhiều giá trị kinh tế cho tất cả các quốc gia  
thành viên1 và tạo ra một sự ủng hộ về chủ  
nghĩa thương mại đa phương. Để có thể  
duy trì được các thoả thuận thương mại và  
sự cân bằng hợp lý giữa quyền và nghĩa vụ  
Năm 2020, khi WTO tròn 25 năm ra  
đời và phát triển, Tổng giám đốc WTO  
khẳng định: “Trong một phần tư thế kỷ  
qua, WTO đã giúp thay đổi quan hệ kinh tế  
1. Kể từ năm 1995, giá trị đồng đô la của thương mại thế giới đã tăng gần gấp bốn lần, trong khi khối lượng thương  
mại thế giới thực sự đã tăng gấp 2,7 lần; thuế quan trung bình đã giảm gần một nửa, từ 10,5% đến 6,4%; Xem thêm,  
Alan Wolff, The WTO and the Future of the Global Trading System, speech at the Council on Foreign Relations,  
October 15, 2019, < speech at the Council on Foreign Relations, October 15, 2019>, truy cập ngày 19/12/2020.  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
39  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
của các thành viên, cơ chế giải quyết tranh  
chấp của WTO đóng một vai trò cốt lõi và  
thiết yếu đối với hiệu quả hoạt động của  
WTO. Trong các phương thức giải quyết  
tranh chấp thương mại quốc tế, WTO được  
xem là một cơ chế tích cực nhất với 595 vụ  
tranh chấp được đưa ra và hơn 350 phán  
quyết được ban hành2. Việc các quốc gia  
thành viên tin tưởng và sử dụng rộng rãi  
cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đã  
phản ánh sự thành công của cơ chế này so  
với những cơ chế giải quyết tranh chấp  
quốc tế khác3.  
chấp có yêu cầu tham vấn5; trong đó, có 51  
thành viên WTO đã yêu cầu tham vấn ít  
nhất một tranh chấp và 60 thành viên đã trả  
lời tham vấn trong ít nhất một tranh chấp,  
88 thành viên đã tham gia với tư cách là  
bên thứ ba trong quá trình tham vấn hoặc  
trong quá trình giải quyết tranh chấp của  
WTO6. Trong trường hợp các bên tranh  
chấp thực hiện không thành công bước  
tham vấn thì một bên có quyền yêu cầu  
thành lập Panel để tiếp tục các bước giải  
quyết tranh chấp tiếp theo7. Trong khuổn  
khổ các tranh chấp tại WTO, có 60% tranh  
chấp đã trải qua bước thành lập Panel, với  
349 tranh chấp, trong đó có 261 tranh chấp  
đã được Cơ quan giải quyết tranh chấp  
(Dispute Settlement Body – DSB) thành  
lập Panel, 195 báo cáo của Panel đã được  
thông qua và trở thành phán quyết của  
DSB (chiếm 66% tranh chấp). Tiếp đó, khi  
các bên tranh chấp không đồng ý với báo  
cáo của Panel thì có thể kháng cáo để AB  
xem xét theo Điều 17 DSU. Theo đó, có  
137 thông báo kháng cáo được gửi tới AB  
và 122 báo cáo của AB được thông qua và  
trở thành phán quyết cuối cùng của DSB8.  
Đây cũng là một trong những thành tựu  
- Xét ở góc độ quy trình giải quyết  
tranh chấp  
Cơ chế giải quyết tranh chấp của  
WTO được quy định tại Thỏa thuận ghi  
nhận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh  
việc giải quyết tranh chấp (Understanding  
on rules and procedures governing the  
settlement of dispute – DSU). Theo đó,  
tranh chấp giữa các quốc gia thành viên  
WTO muốn giải quyết bởi Ban hội thẩm  
(Panel) và Cơ quan phúc thẩm (AB) thì  
các bên phải tiến hành thủ tục tham vấn4.  
Đến tháng 11/2020, trong tất cả 595 vụ  
tranh chấp tại WTO thì 100% các vụ tranh  
2. Số liệu các vụ tranh chấp được WTO, https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/dispu_e.htm, truy cập  
ngày 19/12/2020.  
3. Tòa án Hình sự quốc tế tồn tại khoảng 15 năm, chỉ giải quyết 27 vụ tranh chấp và đưa ra sáu phán quyết.  
Tòa án Quốc tế về luật biển giải quyết 25 vụ tranh chấp. Xem thêm: https://www.icc-cpi.int/about, truy cập  
ngày 19/12/2020.  
4. Điều 4.2 DSU.  
5. Theo Báo cáo số liệu của WTO, từ 1/1/1995 – 31/12/2018 có tổng 573 yêu cầu tham vấn đã được tiến hành,  
cộng với 11 yêu cầu tham vấn năm 2019 và 02 yêu cầu tham vấn năm 2020, Xem https://www.wto.org/english/  
truy cập ngày 20/12/2020.  
7. Điều 6 DSU.  
8. Chiếm 40% tổng tranh chấp có yêu cầu thành lập Ban hội thẩm. Theo Báo cáo số liệu của WTO từ 1/1/1995  
– 30/4/2020, https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/dispustats_e.htm, truy cập ngày 20/12/2020.  
40  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO  
1995 so với GATT 19479. Ngoài cơ chế  
giải quyết tranh chấp tại WTO thông qua  
DSB, DSU cũng cho phép các bên có thể  
sử dụng các phương thức giải quyết tranh  
chấp khác như Trọng tài (Điều 25 DSU) và  
Hòa giải (Điều 5 DSU). Các phương thức  
này chiếm tỷ lệ khá nhỏ trong các tranh  
chấp tại WTO, khi chỉ có 1 vụ tranh chấp  
được giải quyết theo thủ tục Trọng tài; 3  
vụ tranh chấp được giải quyết (năm 2002,  
2009) bằng phương thức Hòa giải và thiện  
chí10. Ngoài ra, trong tổng số 595 vụ tranh  
chấp được đưa ra trước WTO thì có 118 vụ  
tranh chấp đã được tự hai bên giải quyết  
hoặc bên vi phạm có thể rút bỏ biện pháp  
vi phạm11.  
vụ), Trung Quốc (244 vụ), Ấn Độ (218  
vụ), Canada (217 vụ), Brazil (196 vụ), Hàn  
Quốc (167 vụ), Mexico (146 vụ)12. Trong  
đa số các vụ tranh chấp, các quốc gia tham  
gia với tư cách bên thứ ba; Hoa Kỳ và EU  
tham gia với tư cách nguyên đơn và bị đơn  
chiếm tỷ lệ tranh chấp lớn nhất. Điều này  
cũng dễ hiểu khi Hoa Kỳ và EU đều là hai  
chủ thể có tỷ trọng thương mại lớn trên thế  
giới13; trong đó, Hoa Kỳ là quốc gia nhập  
siêu lớn nhất trên thế giới.  
Trong số thành viên WTO, các quốc  
gia phát triển, đang phát triển là những chủ  
thể sử dụng tích cực nhất cơ chế giải quyết  
tranh chấp của WTO với tư cách là người  
khởi xướng các giai đoạn khác nhau như:  
thủ tục tham vấn, yêu cầu thành lập Panel,  
báo cáo của Panel và AB. Cụ thể, các quốc  
gia phát triển chiếm 25% tổng số các thành  
viên WTO nhưng chiếm 57% yêu cầu tham  
vấn, 56,7% yêu cầu thành lập Panel, 58,5%  
báo cáo Panel và 62,7% báo cáo AB. Các  
nước đang phát triển chiếm khoảng 53%  
số thành viên WTO nhưng chiếm 42,7%  
-Xét ở góc độ các quốc gia cụ thể và  
nhóm các quốc gia sử dụng cơ chế giải  
quyết tranh chấp tích cực nhất  
Hoa Kỳ là thành viên sử dụng cơ chế  
giải quyết tranh chấp của WTO nhiều nhất  
(434 vụ), Liên minh châu Âu (EU) đứng  
thứ hai (396 vụ), tiếp đó là Nhật Bản (254  
9. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1947.  
10. For a complete list of the numbers of dispute by stage in the proceedings, on a yearly basic, https://www.  
wto.org/english/tratop_e/dispu_e/dispustats_e.htm, truy cập ngày 20/12/2020.  
11. Như trên.  
12. Hoa Kỳ đã tham gia tổng 434 vụ tranh chấp, trong đó 124 vụ tranh chấp với tư cách nguyên đơn, 155 vụ  
tranh chấp với tư cách bị đơn và 155 vụ tranh chấp với tư cách là bên thứ ba. EU đã tham gia tổng 396 vụ tranh  
chấp, trong đó có 104 vụ với tư cách nguyên đơn, 87 vụ tranh chấp với tư cách bị đơn và 205 vụ tranh chấp  
là bên thứ ba. Nhật Bản đã tham gia tổng 254 vụ tranh chấp, trong đó có 27 vụ với tư cách nguyên đơn, 16 vụ  
tranh chấp với tư cách bị đơn và 211 vụ tranh chấp là bên thứ ba. Trung Quốc đã tham gia tổng 244 vụ tranh  
chấp, trong đó có 21 vụ với tư cách nguyên đơn, 44 vụ tranh chấp với tư cách bị đơn và 179 vụ tranh chấp  
là bên thứ ba. Ấn Độ, đã tham gia tổng 218 vụ tranh chấp, trong đó có 24 vụ với tư cách nguyên đơn, 32 vụ  
tranh chấp với tư cách bị đơn và 162 vụ tranh chấp là bên thứ ba. Canada đã tham gia tổng 217 vụ tranh chấp,  
trong đó có 40 vụ với tư cách nguyên đơn, 23 vụ tranh chấp với tư cách bị đơn và 154 vụ tranh chấp là bên  
thứ ba. Brazil đã tham gia tổng 196 vụ tranh chấp, trong đó có 33 vụ với tư cách nguyên đơn, 16 vụ tranh chấp  
với tư cách bị đơn và 147 vụ tranh chấp là bên thứ ba. Hàn Quốc đã tham gia tổng 167 vụ tranh chấp, trong  
đó có 21 vụ với tư cách nguyên đơn, 19 vụ tranh chấp với tư cách bị đơn và 127 vụ tranh chấp là bên thứ ba.  
Mexico đã tham gia tổng 146 vụ tranh chấp, trong đó có 25 vụ với tư cách nguyên đơn, 15 vụ tranh chấp với  
tư cách bị đơn và 106 vụ tranh chấp là bên thứ ba. Xem thêm: https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/  
dispu_by_country_e.htm, truy cập ngày 22/12/2020.  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
41  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
yêu cầu tham vấn, 43,3% yêu cầu thành lập  
Panel, 41,5% báo cáo Panel và 37,3% báo  
cáo AB14. Sự không cân xứng lớn nhất là  
các thành viên kém phát triển chiếm khoảng  
22% tất cả các quốc gia thành viên WTO,  
nhưng chỉ chiếm khoảng 0,17% yêu cầu  
tham vấn và 0% yêu cầu thành lập Panel,  
báo cáo Panel và AB, mặc dù tỷ trọng  
thương mại của các nước kém phát triển  
chiếm 0.5%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ  
tham gia giải quyết tranh chấp tại WTO15.  
thực thi phán quyết trong một khoảng thời  
gian hợp lý18. Tiếp đó, khi một bên tranh  
chấp đã thực thi phán quyết của DSB nhưng  
nguyên đơn cho rằng, những biện pháp này  
là không thỏa đáng hoặc không phù hợp  
với các nghĩa vụ khác trong các hiệp định  
có liên quan thì nguyên đơn có thể yêu cầu  
thủ tục “Compliance Panel” do chính Panel  
ban đầu xem xét theo điều 21.5. Nếu bên  
thua kiện vẫn không thực hiện các biện  
pháp khuyến nghị của DSB, sau khi hết  
khoảng thời gian hợp lý, nguyên đơn có thể  
yêu cầu áp dụng các biện pháp bồi thường  
và tạm hoãn thi hành các nhượng bộ theo  
Điều 22 DSU. Ba thủ tục này cũng được  
xem là những thủ tục có thể trì hoãn việc  
thực thi phán quyết của DSB. Bởi lẽ, cơ chế  
giải quyết tranh chấp tại WTO không tồn tại  
yêu cầu bắt buộc bên vi phạm nghĩa vụ của  
WTO phải bồi thường bằng một biện pháp  
tài chính cho bên thắng kiện về những tổn  
thất mà họ đang phải gánh chịu19. Thủ tục  
bồi thường quy định tại Điều 22.1 DSU là  
một thủ tục tạm thời, tự nguyện và đòi hỏi  
sự thỏa thuận của 2 bên tranh chấp. Sự trì  
hoãn thực thi đầy đủ phán quyết của DSB  
có thể mang lại lợi ích cho bên vi phạm cả  
về chính trị hay kinh tế và ngược lại bên  
có lợi ích bị xâm phạm thì tiếp tục chịu tổn  
thất cho đến khi bên vi phạm tuân thủ đầy  
đủ khuyến nghị của DSB.  
- Xét ở góc độ thực thi phán quyết  
của DSB  
Theo thống kê của WTO có 38 yêu  
cầu thủ tục trọng tài theo Điều 21.3 về  
việc xác định khoảng thời gian hợp lý để  
thực thi phán quyết của DSB, 3616 yêu cầu  
“compliance panel” theo thủ tục tại Điều  
21.5 và 43 yêu cầu xem xét mức độ trả đũa  
theo Điều 22.6 khi bên thua kiện không  
đồng ý về mức độ tạm hoãn thi hành các  
nhượng bộ mà bên thắng kiện đưa ra17. Ba  
thủ tục này có thể đánh giá mức độ thực  
thi phán quyết của DSB của các bên tranh  
chấp; theo đó, sau khi có phán quyết của  
DSB, bên thua kiện phải gửi cho DSB  
về dự định của mình về việc thực thi các  
khuyến nghị và phán quyết của DSB và về  
nguyên tắc các bên sẽ phải tuân thủ phán  
quyết của DSB ngay lập tức. Tuy nhiên,  
DSB cho phép các bên tranh chấp có thể  
14. Arie Reich, The effectiveness of the WTO dispute settlementsystem: A statistical analysis, Department of  
Law, European University Institute, EUI Working Paper LAW 2017/11, p.17.  
15. Arie Reich, The effectiveness of the WTO dispute settlementsystem: A statistical analysis, Department of  
Law, European University Institute, EUI Working Paper LAW 2017/11, p. 17.  
16. 36 yêu cầu “compliance panels” từ 1995 – 2016, Xem thêm: Arie Reich, The effectiveness of the WTO  
dispute settlement system: A statistical analysis, Department of Law, European University Institute, EUI  
Working Paper LAW 2017/11, p. 5.  
18. Khoản 3 Điều 21 DSU.  
19. Arie Reich, The effectiveness of the WTO dispute settlementsystem: A statistical analysis, Department of  
Law, European University Institute, EUI Working Paper LAW 2017/11, pp. 16-17.  
42  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
2. Thách thức của cơ chế giải quyết tranh  
chấp thương mại quốc tế của WTO  
cáo được thông qua là 705,89 ngày (23,21  
tháng); giai đoạn 2007-2011 là 851,34 ngày  
(28 tháng).20 Kể từ năm 2011, tình hình giải  
quyết tranh chấp kéo dài đang tiếp tục diễn  
ra và sự chậm trễ ngày càng dài khi trung  
bình thời gian giải quyết tranh chấp là 33,83  
tháng21. Sự chậm trễ xảy ra ở tất cả các giai  
đoạn từ sau khi tham vấn không thành công  
đến thời điểm DSB ra quyết định thành lập  
Panel. Sau khi Panel được thành lập, việc ra  
báo cáo của Panel cũng không đúng thời hạn  
quy định của DSU22; thủ tục kháng cáo và  
đưa ra báo cáo của AB23 cũng vượt quá 90  
ngày theo quy định; giai đoạn 2012 – 2017,  
thời gian trung bình để AB đưa ra được báo  
cáo là 133 ngày. Sự chậm trễ trong quá trình  
giải quyết tranh chấp của WTO có thể xuất  
phát từ hai lý do: (i) Sự gia tăng số lượng,  
quy mô và mức độ phức tạp của tranh chấp  
và (ii) Ban thư ký hạn chế về nguồn lực luật  
sư giàu kinh nghiệm24.  
Mặc dù có những thành tựu đáng kể,  
nhưng sau 26 năm áp dụng, cơ chế giải  
quyết tranh chấp của WTO đang gặp phải  
những thách thức sau đây:  
Thứ nhất, thời gian giải quyết tranh  
chấp càng ngày càng kéo dài so với quy  
định tại DSU.  
Sự thành công của một cơ chế giải  
quyết tranh chấp có thể được đánh giá  
thông qua tiến độ giải quyết tranh chấp.  
Đây là một trong những yêu cầu thiết yếu  
đối với hiệu quả giải quyết tranh chấp của  
WTO. Căn cứ vào quy định của DSU, thời  
gian để tiến hành tất cả các bước giải quyết  
tranh chấp của WTO (từ thủ tục tham vấn  
đầu tiên đến khi DSB thông qua báo cáo  
Panel) khoảng từ 12 đến 15 tháng (trong  
trường hợp có kháng cáo thì thời gian có  
thể kéo dài từ 15 đến 19 tháng). Tuy nhiên,  
thực tiễn giải quyết tranh chấp cho thấy, các  
tranh chấp tại WTO đã không thể được giải  
quyết trong khung thời gian của DSU. Cụ  
thể, giai đoạn 1995 – 1999, thời gian trung  
bình từ khi có yêu cầu tham vấn đến khi báo  
Thứ hai, Hoa Kỳ phản đối việc bổ  
nhiệm thành viên Cơ quan phúc thẩm.  
Ở thời điểm hiện tại, cơ chế giải quyết  
tranh chấp của WTO đang phải đối mặt với  
những thách thức chưa từng có trong lịch  
20. Arie Reich, The effectiveness of the WTO dispute settlementsystem: A statistical analysis, Department of  
Law, European University Institute, EUI Working Paper LAW 2017/11, p. 22.  
21. Năm 2013 có 20 yêu cầu tham vấn và tính đến năm 2017 thì mới chỉ có 8 báo cáo của Panel và 7 yêu cầu  
kháng cáo được đưa ra.  
22. Điều 12.8 DSU quy định Ban hội thẩm có 6 tháng để đưa ra báo cáo cuối cùng và không có trường hợp  
nào, sẽ vượt quá chín tháng (270 ngày) kể từ ngày thành lập ban hội thẩm (Điều 12.9). Trên thực tiễn, thời gian  
này bị kéo dài trung bình 400-500 ngày, cụ thể 5 Ban hội thẩm được thành lập năm 2012 đã đưa ra các báo cáo  
cuối cùng trung bình trong 17,4 tháng (523 ngày). Xem thêm: Scott S. Lincicome & Davida L. Connon, WTO  
Dispute Settlement- Long Delays Hit the System, https://www.whitecase.com/sites/whitecase/files/files/  
23. Điều 17.5 DSU quy định kể từ ngày kháng cáo trong vòng 60 ngày AB phải ra báo cáo cuối cùng và  
trong mọi trường hợp không quá 90 ngày. Xem thêm: United States Trade Representative, Report on the  
Appellate Body of the world trade Organization, 2/2020, tr. 30, https://ustr.gov/sites/default/files/Report_on_  
24. Scott S. Lincicome & Davida L. Connon, WTO Dispute Settlement- Long Delays Hit the System, https://  
hit-the-system.pdf, truy cập ngày 23/12/2020.  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
43  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
sử thương mại quốc tế khi cuối năm 2019 là  
thời điểm một trong số các thành viên còn  
lại của AB hết nhiệm kỳ mà không có khả  
năng được bổ nhiệm lại khi Hoa Kỳ và một  
số các quốc gia thành viên khác phản đối  
việc tiếp tục bổ nhiệm thành viên của AB25.  
Điều này dẫn đến hệ quả là, sau thời điểm  
tháng 12/2019, AB không còn đủ 3 thành  
viên để thực hiện chức năng xét xử phúc  
thẩm. Việc không duy trì được AB có ảnh  
hưởng đến cơ chế giải quyết tranh chấp hai  
cấp xét xử của WTO.  
của Hoa Kỳ trong WTO. Hậu quả nghiêm  
trọng này thể hiện ở số liệu các tranh chấp  
mà Hoa Kỳ là bị đơn là 155 vụ, trong đó,  
90% vụ tranh chấp đều dẫn đến một báo cáo  
nhận định rằng, pháp luật Hoa Kỳ hoặc các  
biện pháp mà Hoa Kỳ áp dụng không phù  
hợp với các hiệp định của WTO27.  
Thứ ba, các vấn đề pháp lý khác trong  
cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.  
Sau 26 năm áp dụng, ngay trong chính  
cơ chế giải quyết tranh chấp WTO đã bộc lộ  
những hạn chế sau:  
Từ năm 2016, Đại diện Thương mại  
của Hoa Kỳ đã đưa ra tuyên bố về việc ngăn  
chặn tái bổ nhiệm một thành viên AB trong  
nhiệm kỳ thứ hai bởi một loạt các tranh  
chấp của AB mang lại nhiều bất lợi cho Hoa  
Kỳ. Hoa Kỳ cho rằng, AB đã không thực  
hiện đúng chức năng của mình khi nhiều lần  
không áp dụng các quy tắc được quy định  
trong các hiệp định của WTO mà các thành  
viên đã đàm phán thỏa thuận, AB đã vượt  
quá thẩm quyền của mình, các biện pháp  
khuyến nghị của AB đưa ra không phù hợp  
với quy định của WTO để yêu cầu các bên  
tranh chấp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tại  
WTO26… Hoa Kỳ đã đưa một loạt các bằng  
chứng về sự lạm quyền của AB và không  
thực hiện đúng vai trò, thẩm quyền của mình  
ở giai đoạn phúc thẩm và tất cả những hành  
vi này của AB đều gây ra hậu quả nghiêm  
trọng đối với lợi ích thương mại và chính trị  
(i) Cơ chế giải quyết tranh chấp của  
WTO không thể cung cấp một giải pháp  
cuối cùng cho tranh chấp. Theo quy định  
của Điều 16.4 DSU, AB không có khả năng  
trả lại hồ sơ cho Panel. Thẩm quyền của AB  
sẽ bị giới hạn trong các vấn đề pháp lý được  
nêu ra trong báo cáo của Panel và những  
giải thích pháp luật của Panel28. Điều này  
có nghĩa là, AB là cơ quan duy nhất có thể  
xem xét và đưa ra các đánh giá khách quan  
về các vấn đề của vụ tranh chấp sau khi có  
báo cáo của Panel. Đây cũng là mô hình khá  
phổ biến trong tư pháp. Tuy nhiên, trong cơ  
chế giải quyết tranh chấp của WTO, AB  
không có quyền trả lại hồ sơ vụ việc cho  
Panel; AB chỉ có thể đưa ra 3 quyết định là  
giữ nguyên, sửa đổi hoặc quyết định ngược  
lại với các kết luận của Panel29.  
(ii) Cơ chế giải quyết tranh chấp của  
WTO không có biện pháp khắc phục hậu  
25. Alan Wolff, The WTO and the Future of the Global Trading System, speech at the Council on Foreign Relations,  
October 15, 2019, < speech at the Council on Foreign Relations, October 15, 2019>, truy cập ngày 23/12/2020.  
26. United States Trade Representative, Report on the Appellate Body of the world trade Organization, 2/2020,  
truy cập ngày 24/12/2020.  
27. United States Trade Representative, Report on the Appellate Body of the world trade Organization,  
Organization.pdf, truy cập ngày 24/12/2020.  
28. Điều 17.6 DSU.  
29. Điều 17.18 DSU.  
44  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
quả tạm thời để bảo vệ lợi ích thương mại  
cho bên thắng kiện. Hiện nay, DSU đang  
thiếu một biện pháp khắc phục hậu quả tạm  
thời khi đã có quyết định của DSB và đang  
trong giai đoạn chờ bên thua kiện thực thi  
phán quyết. Trên thực tế, hai biện pháp bồi  
thường và tạm hoãn thi hành nhượng bộ  
tại Điều 22 DSU là những biện pháp chính  
thức khi một bên không thực thi được phán  
quyết của DSB sau khi hết khoảng thời gian  
hợp lý. Như vậy, trong khoảng thời gian  
hợp lý để thực thi phán quyết của DSB thì  
bên thắng kiện vẫn phải chịu những hậu quả  
về kinh tế khi bên thua kiện chưa dừng các  
biện pháp vi phạm quy định của WTO.  
giai đoạn phúc thẩm và vấn đề ràng buộc tự  
động của phán quyết giải quyết tranh chấp31.  
Cụ thể, bản thân cơ chế Trọng tài theo Điều  
25 đã cho phép các bên có thể giải quyết  
những tranh chấp nhất định có liên quan  
đến những vấn đề đã được hai bên xác định  
rõ32. Nghĩa là, trong trường hợp sau khi có  
báo cáo của Panel mà 2 bên không đồng ý,  
thì trước hết, các bên phải đồng ý từ bỏ thủ  
tục kháng cáo theo Điều 16.4 và 17 DSU và  
thay vào đó, hai bên đồng ý đưa ra Trọng tài  
theo Điều 25 để xem xét báo cáo của Panel.  
Việc áp dụng cơ chế này vào thủ tục phúc  
thẩm là khá phù hợp khi Điều 25.3 cũng  
quy định, phán quyết của Trọng tài sẽ được  
thông báo cho DSB mà không cần DSB  
thông qua theo nguyên tắc đồng thuận phủ  
quyết. Sau đó, phán quyết sẽ chịu sự giám  
sát và áp dụng các biện pháp nếu như bên  
thua kiện không thực thi theo Điều 21, 22  
DSU như thông thường. Do Điều 25 không  
quy định tương tự đối với Trọng tài viên, vì  
vậy, để đảm bảo giải pháp này có thể diễn  
ra, mô hình trọng tài vụ việc sẽ được áp  
dụng. Theo đó, Tổng Giám đốc WTO có thể  
chọn theo cách ngẫu nhiên từ một danh sách  
kín của các AB trước đây. Tuy nhiên, một  
số quốc gia cho rằng, nếu giải pháp tạm thời  
này có thể trở thành thông lệ sẽ lấy đi sự cấp  
bách liên quan đến việc bổ nhiệm các thành  
viên của AB mới33. Ngoài ra, để đề xuất này  
thành hiện thực thì phụ thuộc vào số lượng  
quốc gia thành viên ủng hộ. Hoa Kỳ, quốc  
gia có sức ảnh hưởng lớn trong WT0, chưa  
thể hiện quan điểm sẽ ủng hộ việc sử dụng  
phương án này.  
3. Giải pháp tạm thời của cơ chế giải  
quyết tranh chấp thương mại quốc tế  
của WTO  
Trước những thách thức đang đặt ra,  
các quốc gia thành viên WTO đang trong  
quá trình thảo luận về các giải pháp để tiếp  
tục duy trì cơ chế giải quyết tranh chấp của  
WTO. Bởi lẽ, các quốc gia thành viên vẫn  
đặt niềm tin vào cơ chế này. Trong số rất  
nhiều giải pháp được đưa ra, một số giải  
pháp mang tính tạm thời, tức là hướng các  
bên sử dụng các giải pháp có sẵn tại DSU:  
Một là, sử dụng thủ tục kháng cáo  
bằng cơ chế Trọng tài theo Điều 25 DSU.  
Giải pháp sử dụng thủ tục kháng cáo  
bằng cơ chế Trọng tài theo Điều 25 DSU do  
EU đề xuất vào ngày 16/5/2019. EU đã ban  
hành một văn bản dự thảo quy định về xét  
xử phúc thẩm tạm thời theo Điều 25 DSU30.  
Đây là biện pháp duy nhất có thể duy trì cả  
31. Joost Pauwelyn, WTO Dispute Settlement Post 2019: What to Expect?, Journal of International Economic  
Law, 2019, Volume 22, Issue 3, p. 313.  
32. Khoản 1 Điều 25 DSU.  
33. Joost Pauwelyn, WTO Dispute Settlement Post 2019: What to Expect?, Journal of International Economic  
Law, 2019, Volume 22, Issue 3, p. 315.  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
45  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Hai là, không sử dụng thủ tục kháng cáo.  
thảo luận và chưa đi đến việc lựa chọn một  
biện pháp nào cụ thể. Vẫn rất nhiều câu hỏi  
được đặt ra cho cơ chế giải quyết tranh chấp  
của WTO trong tương lai gần.  
Giải pháp không sử dụng thủ tục kháng  
cáo có thể diễn ra theo 2 cách sau:  
(i) Không thông qua báo cáo của Panel34.  
Phương án này được đưa ra trong lúc chờ Hoa  
kỳ có một động thái nào đó hoặc WTO mạnh  
mẽ đưa ra các quyết định mang tính lâu dài.  
Cụ thể, sau khi có báo cáo của Panel, nhưng  
báo cáo này sẽ không được DSB thông qua,  
cũng như không kháng cáo. Bởi vì, bản chất  
của báo cáo Panel dù là tạm thời hay cuối  
cùng, dù có được thông qua hay không thông  
qua thì báo cáo của Panel chỉ đóng vài trò  
như là một ý kiến của các chuyên gia về các  
vấn đề pháp lý của vụ tranh chấp. Nếu như  
các bên đồng ý với nội dung trong báo cáo  
của Panel thì họ sẽ tự nguyện thực thi; nếu  
các bên không đồng ý thì phụ thuộc vào các  
cuộc đàm phán tiếp tục giữa các bên tranh  
chấp. Phương án này có ưu điểm là phát huy  
được tiềm năng của hai bên trong quá trình  
đàm phán, nhưng có mặt trái là có thể dẫn  
đến tình trạng “cá lớn nuốt cá bé”.  
4. Thực tiễn Việt nam áp dụng cơ chế  
giải quyết tranh chấp thương mại quốc  
tế của WTO  
Việt Nam đã gia nhập WTO được 14  
năm35. Việt Nam nằm trong 15 nền kinh  
tế đang phát triển lớn nhất trong thương  
mại toàn cầu, cùng với 14 nền kinh tế khác  
như Trung Quốc, Hàn Quốc, Hồng Kông,  
Mexico, Singapore, Các Tiểu vương quốc  
Ả Rập Thống nhất, Ấn Độ, Thái Lan, Ả  
Rập Saudi, Malaysia, Brazil, Indonesia,  
Thổ Nhĩ Kỳ và Nam Phi36. Xuất khẩu  
tích lũy của 15 nền kinh tế này đã tăng  
từ 1.458,1 tỷ USD năm 2000 lên 6,305 tỷ  
USD năm 2017, chiếm 35,6% xuất khẩu  
hàng hóa toàn cầu năm 2017, tăng từ  
22,6% năm 2000, 15 nền kinh tế này chiếm  
khoảng 3/4 xuất khẩu hàng hóa tất cả các  
nước đang phát triển37. Cùng với hiệu quả  
thương mại tăng nhanh, tiềm năng xảy ra  
xung đột, tranh chấp của các quốc gia nêu  
trên cũng cao. Từ năm 1995 đến tháng 10  
năm 2019, các nước đang phát triển đã  
tham gia 45% tổng số vụ tranh chấp với  
tư cách nguyên đơn và 43% tranh chấp với  
tư cách bị đơn38. Xét về kết quả tham gia  
cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, khi  
các quốc gia đang phát triển tham gia với  
(ii) Cam kết không kháng cáo trước khi  
tranh chấp xảy ra hoặc trước thời điểm Panel  
đưa ra báo cáo. Lý giải cho biện pháp này là  
tại thời điểm mà chưa rõ bên nào thắng kiện và  
bên nào thua kiện thì việc từ bỏ quyền kháng  
cáo có thể dễ dàng hơn. Nhưng biện pháp xét  
đến cùng sẽ bất lợi cho bên thua kiện.  
Hiện nay, các quốc gia thành viên  
trong WTO vẫn đang còn trong giai đoạn  
34. ‘floating’ panel reports.  
35. Việt Nam gia nhập WTO từ ngày 11/1/2007.  
36. Anabel González, Euijin Jung, Developing countries can help restore the WTO’s dispute settlement system,  
system, truy cập ngày 24/12/2020.  
37. Anabel González, Euijin Jung, Developing countries can help restore the WTO’s dispute settlement system,  
system, truy cập ngày 24/12/2020.  
ngày 24/12/2020.  
46  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
tư cách nguyên đơn thì có tỷ lệ thắng kiện  
cao hơn so với khi họ là bị đơn39.  
DS540 mới chỉ dừng lại việc Việt Nam gửi  
yêu cầu tham vấn cho Hoa Kỳ).  
Có thể nói rằng, Việt Nam đang tham  
gia và sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp  
của WTO một cách chủ động nên đạt được  
những thắng lợi nhất định. Việt Nam cũng  
đã nắm bắt được cơ chế giải quyết tranh  
chấp của WTO để bảo vệ quyền lợi của  
quốc gia và các doanh nghiệp Việt Nam  
xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài. Tuy  
nhiên, trước những biến động hiện tại của  
cơ chế giải quyết tranh chấp này, Việt Nam  
cũng cần phải chuẩn bị cho những diễn biến  
khó lường tiếp theo trong hai vụ đang trong  
quá trình giải quyết tranh chấp với Hoa Kỳ.  
Trong thời gian qua, Việt Nam đã tham  
gia 05 vụ kiện với tư cách nguyên đơn, không  
có vụ kiện nào với tư cách bị đơn và 33 vụ  
tranh chấp với tư cách là bên thứ ba40. Việt  
Nam đều thắng kiện 3/5 vụ tranh chấp đã  
được giải quyết và không cần sử dụng đến hai  
biện pháp bồi thường và tạm hoãn thi hành  
nhượng bộ theo Điều 22 DSU41. Số liệu này  
cho thấy, Việt Nam đã tận dụng được những  
lợi thế của cơ chế giải quyết tranh chấp để bảo  
vệ mình trên thương mại quốc tế. Cụ thể, với  
05 tranh chấp với tư cách nguyên đơn là: (i)  
DS404 Hoa Kỳ - Các biện pháp chống bán  
phá giá đối với một số loại tôm từ Việt Nam42,  
(ii) DS429 Hoa Kỳ - Các biện pháp chống bán  
phá giá đối với một số loại tôm từ Việt Nam43,  
(iii) DS496 Indonesia – Tự vệ một số sản  
phẩm sắt hoặc thép44, (iv) DS536 Hoa Kỳ -  
Các biện pháp chống bán phá giá đối với philê  
cá từ Việt Nam45, (v) DS540 Hoa Kỳ - Một số  
biện pháp liên quan đến sản phẩm hải sản cá  
tra từ Việt Nam46. Trong đó, 03 tranh chấp đã  
giải quyết xong và 02 tranh chấp đang trong  
quá trình giải quyết tranh chấp (DS536 đang  
trong quá trình làm việc của Ban hội thẩm,  
5. Kết luận  
Đối với các quốc gia đang phát triển, cơ  
chế giải quyết tranh chấp của WTO mang lại  
nhiều lợi ích vì đây có thể là công cụ duy  
nhất để bảo vệ quyền lợi của các quốc gia  
này trong khuôn khổ của WTO. Tuy nhiên,  
trước sức ép của sự tăng trưởng kinh tế,  
thương mại toàn cầu nói chung và của quốc  
gia thành viên WTO nói riêng đòi hỏi cần  
sớm hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp  
của WTO nhằm bảo đảm cân bằng lợi ích  
của mọi quốc gia thành viên  
system, truy cập ngày 24/12/2020  
ngày 24/12/2020.  
dispu_by_country_e.htm, truy cập ngày 24/12/2020.  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
47  
pdf 9 trang yennguyen 31860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế của WTO và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam sau 26 năm phát triển", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfco_che_giai_quyet_tranh_chap_thuong_mai_quoc_te_cua_wto_va_t.pdf