Giáo trình Luật đầu tư quốc tế

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI  
GIÁO TRÌNH  
LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
Đồng chủ biên:  
GS. TS. Claudio Dordi  
Đại học Tổng hợp Bocconi, Italia  
và  
TS. Nguyễn Thanh Tâm  
Trường Đại học Luật Hà Nội  
HÀ NỘI - 2017  
Giáo trình này được biên soạn với sự hỗ trợ tài chính của Liên minh châu Âu. Quan điểm  
trong Giáo trình này là của các tác giả, do đó không thể hiện quan điểm chính thức của  
Liên minh châu Âu hay Bộ Công Thương.  
386  
387  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
CÁC TÁC GIẢ  
NGƯỜI BIÊN DỊCH  
Julien Chaisse  
Từ Chương 1 đến Chương 8 (viết  
bằng tiếng Anh)  
Nguyễn Văn Hiến, và  
Các chương 1, 2, 3, 4, 5, 7  
Nguyễn Thị Kim Thanh,  
và  
Chương 9 và Chương 12 (viết  
bằng tiếng Anh và tiếng Việt)  
Nguyễn Thanh Tâm  
Trịnh Hải Yến  
Trương Thị Thúy Bình  
Chương 10 (viết bằng tiếng Anh  
và tiếng Việt)  
Chương 6  
Chương 8  
Ngô Ngọc Ánh, và  
Tào Thị Huệ  
Chương 11 (viết bằng tiếng Anh  
và tiếng Việt)  
Nguyễn Quỳnh Trang  
Đỗ Thu Hương, và  
Trần Phương Anh, và  
Trần Thu Yến  
388  
389  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
LỜI GIỚI THIỆU  
LỜI MỞ ĐẦU  
Cơ chế điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài thường phải đáp  
ứng hai mục tiêu. Một mặt, cần thu hút đầu tư nước ngoài như một nhân  
tố quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia tiếp  
nhận đầu tư. Mặt khác, chính sách và các nhà làm luật cần đảm bảo phát  
triển kinh tế-xã hội một cách bền vững, nói cách khác, là không gây tác  
động xấu lên những giá trị cơ bản như sức khỏe người tiêu dùng, môi  
trường, quyền của người lao động, hay bất kỳ mục tiêu nào khác được  
coi là quan trọng đối với cộng đồng mà quốc gia tiếp nhận đầu tư đã đặt  
ra. Để đạt những mục tiêu này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính  
sách đầu tư và chính sách phát triển quốc gia. Các quốc gia, đặc biệt là  
các quốc gia đang trong quá trình tăng trưởng nhanh, nên tránh kiểu  
cạnh tranh nhằm thu hút đầu tư thông qua chiến lược ‘chạy đua xuống  
đáy’, nghĩa là giảm chi phí cho các nhà đầu tư nước ngoài bằng việc áp  
dụng các quy định lỏng lẻo để bảo vệ các giá trị cơ bản của quốc gia  
mình. Trên thực tế, các chỉ số chỉ ra rằng các nhà đầu tư thường quan  
tâm tới các nước có cơ chế đầu tư dễ dự đoán và công bằng, hơn là các  
nước có những ưu đãi thiếu bền vững. Trên thực tế, việc đầu tư vào các  
quốc gia không tuân thủ những tiêu chuẩn cơ bản về môi trường hay xã  
hội sẽ làm xấu đi danh tiếng của các nhà đầu tư trong mắt khách hàng.  
Tuy nhiên, tính dễ dự đoán và công bằng của pháp luật đầu tư trong  
nước lại phụ thuộc rất lớn vào yếu tố chính trị. Do vậy, nếu cơ chế pháp  
luật đầu tư trong nước đặc biệt ưu tiên đầu tư nước ngoài, thì có thể bị  
kiện, trong trường hợp định hướng lãnh đạo của quốc gia tiếp nhận đầu  
tư thay đổi.  
Giáo trình này là một trong những kết quả chính của những hỗ  
trợ mà Dự án Hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của châu Âu (EU-  
MUTRAP) do Liên minh châu Âu tài trợ dành cho các trường đại học ở  
Việt Nam.  
Nhiều học giả trong nước, quốc tế và các chuyên gia về luật đầu  
tư đã góp phần xây dựng nội dung Giáo trình này. Trường Đại học Luật  
Hà Nội, đặc biệt là Khoa Pháp luật thương mại quốc tế, đóng vai trò  
chính trong việc hỗ trợ và rà soát nội dung chuyên môn của cuốn Giáo  
trình. Các tác giả biên soạn Giáo trình này chủ yếu nhằm phục vụ cho  
sinh viên luật, và cập nhật những thay đổi mới nhất trong Luật đầu tư  
quốc tế, kể cả hệ thống tòa án đầu tư được thiết lập bởi các hiệp định  
thương mại tự do (FTA) do EU ký kết. Đây là một ví dụ điển hình cho  
những thách thức trong việc xây dựng cơ chế pháp lý cho việc ban hành  
các quy định về đầu tư nước ngoài. Do vậy, cuốn Giáo trình này hy vọng  
sẽ là một công cụ hữu ích cho sinh viên, cán bộ chính phủ và các luật gia  
đang hàng ngày đối mặt với những thách thức trong môi trường quốc  
tế đầy năng động. Việc Giáo trình được xuất bản bằng cả tiếng Anh và  
tiếng Việt sẽ giúp các nhà làm luật và cơ quan tòa án trong việc thực  
hiện chức năng lập pháp và xét xử của mình. Mặc dù tiếng Anh là ngôn  
ngữ chủ yếu trong Luật đầu tư quốc tế, nhưng các cơ quan lập pháp Việt  
Nam phải soạn thảo các văn bản pháp luật bằng tiếng Việt.  
Bùi Huy Sơn  
GS. Claudio Dordi  
Lê Tiến Châu  
Luật đầu tư quốc tế giúp các nhà đầu tư nước ngoài an tâm hơn  
về sự ổn định của cơ chế pháp luật, kể cả khi định hướng lãnh đạo của  
các quốc gia thay đổi, từ đó khuyến khích dòng đầu tư từ nước ngoài  
vào trong nước. Trong luật quốc tế, các hiệp định đầu tư quốc tế (IIAs)  
đã dần thay thế luật tập quán quốc tế bằng cách đưa ra các nguyên tắc  
để nước tiếp nhận đầu tư phải tuân thủ trong các hoạt động xây dựng  
pháp luật đầu tư nước ngoài.  
Giám đốc  
Trưởng nhóm tư vấn Dự án  
Hiệu trưởng  
Trường Đại học  
Luật Hà Nội  
Dự án EU-MUTRAP  
EU-MUTRAP  
GS. Luật quốc tế  
Luật đầu tư quốc tế không còn là một lĩnh vực xa lạ ở Việt Nam -  
vốn đã là thành viên của nhiều hiệp định đầu tư song phương (BIT). Kể  
từ ngày 18 tháng 5 năm 1990 - ngày Việt Nam ký BIT đầu tiên (với Italia),  
Việt Nam đã tham gia 65 BIT. Tuy nhiên, phần lớn các BIT này đã thuộc  
nhóm BIT‘thế hệ cũ’, bởi lẽ từ đầu thế kỷ XXI đã xuất hiện các chính sách  
và luật đầu tư ‘thế hệ mới’, được phát triển từ các tranh luận giữa các  
học giả, các nhà hoạch định chính sách, các luật gia và doanh nhân về  
Đại học Tổng hợp Bocconi -  
Milan - Italia  
390  
391  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
những ranh giới và mâu thuẫn giữa nhu cầu thu hút đầu tư và sự cần  
thiết phải đảm bảo tính bền vững.  
9 đến Chương 12, do Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tâm, Tiến sĩ Trịnh Hải Yến và  
Thạc sĩ Nguyễn Quỳnh Trang biên soạn. Sau khi giới thiệu về hợp đồng  
giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước (Chương 9), Luật đầu tư quốc  
tế được phân tích dưới góc nhìn của Việt Nam. Phần này bao gồm bức  
tranh chi tiết về các hiệp định đầu tư mà Việt Nam đã ký kết (Chương  
10), và phân tích về pháp luật Việt Nam áp dụng cho quan hệ đầu tư  
nước ngoài (Chương 11). Chương cuối cùng - Chương 12 - tập trung vào  
khuôn khổ pháp luật của Việt Nam trong giải quyết tranh chấp đầu tư  
quốc tế. Bên cạnh các văn bản pháp luật liên quan, Phần 4 cũng cung  
cấp một cái nhìn tổng quan về các cơ quan, tổ chức và các cơ quan nhà  
nước chịu trách nhiệm thực thi pháp luật Việt Nam về đầu tư quốc tế.  
Đặc biệt, sự quan tâm và thảo luận về các thủ tục (cụ thể là trong  
lĩnh vực đầu tư) nhằm giải quyết tranh chấp đầu tư (gọi là ISDS - Cơ chế  
giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và Nhà nước), trước đây thường bị  
giới hạn trong khuôn khổ học thuật và ngoại giao, nay đã thu hút sự chú  
ý của nhiều nhóm đối tượng mới. Trong một vài trường hợp, thậm chí  
giới truyền thông đại chúng cũng đã đưa tin liên quan đến những tranh  
luận về cơ hội đưa cơ chế ISDS vào các IIA.  
Sự quan tâm ngày càng lớn đối với luật đầu tư quốc tế cũng xuất  
phát từ sự quan tâm của các chính phủ và một bộ phận dân chúng, sau  
khi các tập đoàn đa quốc gia lớn khởi kiện bằng cơ chế ISDS, nhằm phản  
đối các quy định pháp luật mới mà nước tiếp nhận đầu tư đưa ra vì mục  
tiêu thúc đẩy đầu tư bền vững, nhưng làm tăng chi phí và thiệt hại cho  
nhà đầu tư nước ngoài. Ở cấp độ hoạch định chính sách, các cuộc tranh  
luận tập trung vào những khó khăn trong việc thiết lập giới hạn phạm vi  
hành động của Chính phủ nhằm bảo hộ đầu tư bền vững (ví dụ, thông  
qua pháp luật bảo vệ môi trường hoặc sức khỏe người tiêu dùng), đồng  
thời đảm bảo quyền của nhà đầu tư nước ngoài.  
Tôi tin tưởng chắc chắn rằng cuốn Giáo trình sẽ trở thành một tài  
liệu học thuật và nguồn tham khảo quý giá cho những ai quan tâm tới  
Luật đầu tư quốc tế. Tôi hy vọng rằng Giáo trình này cũng sẽ được đón  
nhận như những cuốn sách khác mà Dự án EU-MUTRAP đã hỗ trợ về tài  
chính và chuyên môn, với sự hợp tác và giám sát chuyên môn của Khoa  
Pháp luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, như cuốn  
Giáo trình Luật thương mại quốc tế song ngữ - đã được đón nhận rộng  
rãi tại nhiều trường đại học ở Việt Nam trong những năm qua.  
Giới học giả đều biết rằng, với mỗi một môn học giảng dạy tại  
trường đại học đều có một cuốn sách làm nền tảng trụ cột, để từ đó xây  
dựng các kiến thức cụ thể liên quan. Tôi hy vọng rằng, trong một vài  
năm tới, các cựu sinh viên sẽ vẫn nhớ tới ‘Giáo trình Luật đầu tư quốc tế  
của Dự án EU-MUTRAP và HLU’ như một công cụ quan trọng trên con  
đường học vấn của mình.  
Các IIA ‘thế hệ mới’ phần nào thể hiện những tranh luận này. Ví  
dụ, chương đầu tư trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) của EU  
thời gian gần đây đặc biệt nhấn mạnh nhu cầu đảm bảo đầu tư bền  
vững, mở rộng quyền tùy ý quyết định của nước tiếp nhận đầu tư trong  
việc áp dụng các quy định bảo vệ các giá trị cơ bản của quốc gia. Thậm  
chí Hệ thống tòa án đầu tư, được thiết lập trong các FTA ‘thế hệ mới’  
của EU, cũng đáp ứng nhu cầu đảm bảo tuân thủ quy trình giải quyết  
tranh chấp đầu tư với các quy tắc đạo đức do các hiệp hội, tổ chức nghề  
nghiệp xây dựng. Với việc tham gia vào một số FTA‘thế hệ mới’, Việt Nam  
là một trong những bên liên quan quan trọng đang nổi lên của Luật đầu  
tư quốc tế.  
Tái bút: Tôi viết Lời mở đầu của Giáo trình này vào những ngày  
hoạt động cuối cùng của Dự án EU-MUTRAP, cũng là những ngày làm  
việc cuối cùng của tôi ở Việt Nam. Sau 12 năm hoạt động tích cực (kể  
từ ngày 19 tháng 5 năm 2005), tôi muốn nói lời cảm ơn tới tất cả những  
người Việt Nam đã cùng tôi làm việc, đặc biệt là những đồng nghiệp tại  
Ban quản lý Dự án EU-MUTRAP, hơn 1.000 chuyên gia, các đồng nghiệp  
tại các trường đại học, các bạn sinh viên đã tham dự các giờ giảng của  
tôi, và những người bạn từ các cơ quan chính phủ và các ban ngành  
khác. Tôi đã học được rất nhiều điều từ tất cả các bạn.  
Vì vậy, một cuốn Giáo trình song ngữ về Luật đầu tư quốc tế sẽ  
đáp ứng những nhu cầu mới này. Phần 1 và Phần 2 của Giáo trình, bao  
gồm các chương từ Chương 1 đến Chương 8, do Giáo sư Julien Chaisse  
biên soạn, tập trung vào sự tiến triến của các nguyên tắc chung của  
Luật đầu tư quốc tế. Giáo trình đã áp dụng các phương pháp luận hiện  
đại trong việc phân tích toàn diện những nguyên tắc liên quan của Luật  
đầu tư quốc tế. Ở đầu mỗi chương, tác giả chỉ rõ mục tiêu học thuật. Tại  
cuối chương, tác giả đưa ra các câu hỏi thảo luận cho các đối tượng liên  
quan như sinh viên, luật sư, cán bộ chính phủ, thẩm phán và nhà nghiên  
cứu. Phần 3 và Phần 4 của Giáo trình, bao gồm các chương từ Chương  
Đồng chủ biên:  
Giáo sư Claudio Dordi  
Trưởng nhóm Chuyên gia tư vấn quốc tế Dự án EU-MUTRAP  
Giáo sư Luật Quốc tế  
Đại học Tổng hợp Bocconi - Milan - Italia  
392  
393  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT  
AA  
Đạo luật Hòa hảo (Accord Acts)  
Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN  
Phương thức giải quyết tranh chấp thay thế  
Hiệp định khung ASEAN về thương mại dịch vụ  
Khu vực thương mại tự do ASEAN  
Khu vực đầu tư ASEAN  
GATT  
GPA  
HĐ  
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại của WTO  
Hiệp định về mua sắm chính phủ của WTO  
Hợp đồng  
ACIA  
ADR  
AFAS  
AFTA  
AIA  
HKIAC  
ICC  
Trung tâm trọng tài quốc tế ở Hong Kong  
Phòng thương mại quốc tế  
ICDR  
ICJ  
Trung tâm giải quyết tranh chấp quốc tế  
ASEAN  
BIS  
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á  
Ngân hàng thanh toán quốc tế  
Toà án công lý quốc tế (Toà án quốc tế ở La Hay, thuộc hệ  
thống Liên hợp quốc)  
Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế  
ICSID  
IEG  
BIT  
Hiệp định đầu tư song phương  
Nhóm chuyên gia về đầu tư  
CAFTA  
CHDCND  
CEPEA  
CIL  
Hiệp định thương mại tự do Hoa Kỳ - Canada  
Cộng hòa dân chủ nhân dân  
IFC  
Tập đoàn tài chính quốc tế (một trong các cơ quan thuộc  
Nhóm Ngân hàng thế giới (WB))  
Hiệp định đầu tư quốc tế  
Quan hệ đối tác kinh tế toàn diện Đông Á  
Luật tập quán quốc tế  
IIA  
IGA  
Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư ASEAN  
Quỹ tiền tệ quốc tế  
DCs  
Các nước đang phát triển  
IMF  
DSB  
Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO  
IPAP  
IPR  
Kế hoạch hành động xúc tiến đầu tư  
Quyền sở hữu trí tuệ  
DSU  
Hiệp định về quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh  
chấp của WTO  
Hiệp định tránh đánh thuế hai lần  
IOSCO  
ISDS  
Tổ chức Chứng khoán Quốc tế  
DTA  
Giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Chính  
phủ nước tiếp nhận đầu tư  
Toà án trọng tài quốc tế London  
EC  
Cộng đồng châu Âu  
ECOSOC  
E&T  
Hội đồng Kinh tế và Xã hội của Liên hợp quốc  
Giáo dục và đào tạo  
LCIA  
LDCs  
MAI  
Các nước kém phát triển  
EU  
Liên minh châu Âu  
Hiệp định đầu tư đa phương  
Thị trường chung Nam Mỹ  
Tối huệ quốc  
EU-MUTRAP  
Dự án hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của Liên minh  
châu Âu  
Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam  
MERCOSUR  
MFN  
EVFTA  
FET  
MUTRAP  
NAFTA  
NGOs  
NT  
Dự án hỗ trợ thương mại đa biên EU-Việt Nam do EU tài trợ  
Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ  
Các tổ chức phi chính phủ  
Đối xử quốc gia  
Đối xử công bằng và thỏa đáng  
Đầu tư trực tiếp nước ngoài  
FDI  
FIPA  
FPI  
Hiệp định khuyến khích đầu tư nước ngoài  
Đầu tư gián tiếp nước ngoài  
OECD  
PCA  
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế  
Tòa trọng tài thường trực  
FPS  
Bảo vệ và an ninh đầy đủ  
FTAs  
GATS  
Hiệp định thương mại tự do  
PCIJ  
Tòa thường trực quốc tế  
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO  
PPP  
Hợp đồng đối tác công-tư  
394  
395  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
PSA  
PTA  
Hợp đồng phân chia sản phẩm  
Hiệp định thương mại ưu đãi  
Quốc tế  
MỤC LỤC  
QT  
Các tác giả  
388  
389  
390  
391  
394  
RTA  
Các hiệp định thương mại khu vực  
Nghiên cứu và phát triển  
Người biên dịch  
Lời giới thiệu  
R&D  
SWFs  
SIAC  
TIFA  
TPP  
Các quỹ đầu tư quốc gia  
Lời mở đầu  
Trung tâm trọng tài quốc tế Singapore  
Hiệp định khung về thương mại và đầu tư  
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương  
Danh mục những từ viết tắt  
PHẦN MỘT: GIỚI THIỆU  
401  
TRIMs  
Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương  
mại của WTO  
Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại  
của WTO  
Chương 1. Khái quát về đầu tư quốc tế và Luật đầu tư quốc tế 403  
TRIPS  
Mục 1. Khái niệm‘đầu tư’trong các hiệp định đầu tư quốc tế  
Mục 2. Toàn cầu hóa và đầu tư quốc tế  
405  
409  
414  
UAE  
Các Tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất  
UN  
Liên hợp quốc  
Mục 3. Lịch sử phát triển của Luật đầu tư quốc tế  
UNCITRAL  
UNCTAD  
UNIDROIT  
USSFTA  
VCLT  
Uỷ ban của Liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế  
Hội nghị Thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc  
Viện quốc tế về thống nhất luật tư  
Hiệp định thương mại tự do Hoa Kỳ - Singapore  
Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế  
Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam  
Ngân hàng Thế giới  
Mục 4. Xác định phạm vi điều chỉnh của các hiệp định đầu tư  
quốc tế  
425  
Mục 5. Nguồn Luật đầu tư quốc tế  
Tóm tắt Chương 1  
445  
642  
464  
466  
Câu hỏi/Bài tập  
VIAC  
Tài liệu cần đọc  
WB  
WTO  
Tổ chức thương mại thế giới  
PHẦN HAI: CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT ĐẦU TƯ  
QUỐC TẾ  
469  
Chương 2. Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN)  
Mục 1. Khái niệm và phạm vi của nguyên tắc MFN  
Mục 2. Nghĩa vụ MFN và các quyền trước đầu tư  
Mục 3. Tiêu chuẩn về so sánh giữa các nhà đầu tư  
Mục 4. MFN và giải quyết tranh chấp  
Tóm tắt Chương 2  
472  
474  
477  
479  
482  
491  
492  
492  
Câu hỏi/Bài tập  
Tài liệu cần đọc  
396  
397  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
Chương 3. Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT)  
Mục 1. Khái niệm và phạm vi của nguyên tắc NT  
Mục 2. NT và các quyền trước khi đầu tư  
Mục 3. NT và các quyền sau khi đầu tư  
Mục 4. Xem xét ý định/động cơ  
Tóm tắt Chương 3  
495  
497  
497  
499  
500  
502  
503  
504  
Câu hỏi/Bài tập  
Tài liệu cần đọc  
566  
567  
Chương 7. Các nguyên tắc khác của Luật đầu tư quốc tế  
Mục 1.‘Điều khoản bao trùm’(‘Umbrella Clause’)  
Mục 2. Các nguyên tắc khác  
Tóm tắt Chương 7  
571  
573  
600  
605  
605  
606  
Câu hỏi/Bài tập  
Tài liệu cần đọc  
Câu hỏi/Bài tập  
Tài liệu cần đọc  
Chương 4. Nguyên tắc đối xử công bằng và thỏa đáng (FET)  
và nguyên tắc bảo vệ và an ninh đầy đủ (FPS)  
505  
Chương 8. Ngoại lệ của các nguyên tắc của Luật đầu tư quốc tế 609  
Mục 1. Khái niệm, phạm vi và áp dụng nguyên tắc FET  
Mục 2. Khái niệm, phạm vi và áp dụng nguyên tắc FPS  
Tóm tắt Chương 4  
Câu hỏi/Bài tập  
Tài liệu cần đọc  
507  
515  
519  
521  
522  
Mục 1. Các ngoại lệ chung  
614  
624  
629  
631  
633  
640  
641  
641  
Mục 2. Các ngoại lệ cụ thể của quốc gia  
Mục 3. Các trường hợp ngoại lệ theo luật tập quán quốc tế  
Mục 4. Ngoại lệ liên quan đến an ninh quốc gia  
Mục 5. Ngoại lệ liên quan đến thuế  
Tóm tắt Chương 8  
Chương 5. Nguyên tắc bảo đảm cho nhà đầu tư nước ngoài  
không bị tước quyền sở hữu một cách bất hợp pháp  
525  
Mục 1. Khái niệm và các hình thức tước quyền sở hữu  
(‘Expropriation’)  
527  
533  
540  
Câu hỏi/Bài tập  
Tài liệu cần đọc  
Mục 2. Tước quyền sở hữu gián tiếp  
Mục 3. Các điều kiện để hành vi tước quyền sở hữu được coi là  
hợp pháp  
PHẦN BA: HỢP ĐỒNG GIỮA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI  
VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC TIẾP NHẬN ĐẦU TƯ  
645  
Tóm tắt Chương 5  
Câu hỏi/Bài tập  
Tài liệu cần đọc  
541  
543  
544  
Chương 9. Hợp đồng giữa nhà đầu tư nước ngoài và chính  
phủ nước tiếp nhận đầu tư  
Mục 1. Khái niệm  
646  
648  
650  
654  
669  
673  
Mục 2. Một số loại hợp đồng cụ thể  
Mục 3. Một số loại điều khoản quan trọng trong hợp đồng  
Mục 4. Kiện do vi phạm hợp đồng  
Tóm tắt Chương 9  
Chương 6. Nguyên tắc bảo đảm cơ chế giải quyết tranh  
chấp đầu tư quốc tế (ISDS)  
545  
Mục 1. Khái quát về giải quyết tranh chấp quốc tế  
Mục 2. Giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế  
Tóm tắt Chương 6  
547  
553  
564  
398  
399  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
Câu hỏi/Bài tập  
Tài liệu cần đọc  
673  
673  
677  
PHẦN BỐN: VIỆT NAM VÀ LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
Chương 10. Các cam kết đầu tư quốc tế của Việt Nam  
678  
Mục 1. Các cam kết của Việt Nam trong WTO  
Mục 2. Các cam kết của Việt Nam trong ASEAN  
Mục 3. Các cam kết của Việt Nam trong một số FTA  
Mục 4. Các cam kết của Việt Nam trong một số BIT  
Tóm tắt Chương 10  
680  
685  
700  
702  
706  
706  
707  
Câu hỏi/Bài tập  
Tài liệu cần đọc  
Chương 11. Pháp luật điều chỉnh quan hệ đầu tư quốc tế  
của Việt Nam  
PHẦN MỘT  
709  
Mục 1. Khuôn khổ pháp lý  
Mục 2. Nội dung cơ bản  
Tóm tắt Chương 11  
Câu hỏi/Bài tập  
712  
715  
739  
740  
741  
Tài liệu cần đọc  
Chương 12. Giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (ISDS) của  
Việt Nam  
743  
Mục 1. Quy trình điều phối hoạt động ISDS của Việt Nam  
Mục 2. Thực tiễn ISDS của Việt Nam  
Tóm tắt Chương 12  
745  
751  
762  
763  
763  
765  
Câu hỏi/Bài tập  
Tài liệu cần đọc  
Tài liệu tham khảo chủ yếu  
400  
401  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
PHẦN 1. GIỚI THIỆU  
GIỚI THIỆU  
Pháp luật đầu tư quốc tế là lĩnh vực đáng được nghiên cứu một cách  
nghiêm túc từ góc độ chính sách công và tư nhân. Giáo trình này sử  
dụng thuật ngữ Hiệp định đầu tư song phương (‘BIT’) để chỉ các văn bản  
pháp luật quốc tế có mục đích chính là khuyến khích và bảo hộ đầu tư  
nước ngoài giữa hai nước. Thí dụ: các ‘Hiệp định đầu tư song phương’,  
các ‘Hiệp định khuyến khích đầu tư nước ngoài’, các ‘Hiệp định khuyến  
khích và bảo hộ đầu tư’. Còn đối với tất cả các hiệp định song phương,  
khu vực hoặc đa phương nhằm mục tiêu tự do hóa trên cơ sở ưu đãi các  
dòng đầu tư đi cùng với thương mại hàng hoá và dịch vụ, trong đó quy  
định các quy tắc áp dụng cho những lĩnh vực khác như sở hữu trí tuệ,  
cạnh tranh, và di chuyển của thể nhân, thì Giáo trình gọi chung là các  
‘Hiệp định thương mại tự do’(‘FTA’). BIT và FTA đi kèm với các nguyên tắc  
đầu tư đều có thể được gọi chung là các hiệp định đầu tư quốc tế (‘IIA’).  
Bên cạnh đó, khái niệm ‘quốc gia’ được Giáo trình sử dụng với phạm vi  
rất rộng, bao gồm một thực thể địa lý có danh tính quốc tế và có khả  
năng thực hiện một chính sách kinh tế đối ngoại độc lập. Việc sử dụng  
các địa danh không thể hiện bất cứ quan điểm nào về tư cách pháp lý  
của bất cứ quốc gia hay vùng lãnh thổ nào.  
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT  
Ở khía cạnh này, một số vấn đề có ý nghĩa quan trọng khi mà  
luật đầu tư quốc tế không chỉ là luật quốc tế về đầu tư nước ngoài, mà  
còn là luật điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế, phát triển kinh tế, các thể  
chế kinh tế và hội nhập kinh tế khu vực. Ngoài ra, luật đầu tư quốc tế  
còn quy định cả về phương thức hành xử của các quốc gia có chủ quyền  
trong quan hệ kinh tế quốc tế, và của các bên tư nhân khi tham gia các  
giao dịch kinh doanh và kinh tế xuyên biên giới. Chính sách, pháp luật  
trong nước, khu vực và quốc tế cũng như thông lệ, tập quán quốc tế là  
toàn bộ các khía cạnh của luật đầu tư quốc tế.  
402  
403  
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
Sau khi phác họa được khái niệm‘đầu tư’trong các IIA hiện hành tại Mục  
1, Mục 2 của Chương này sẽ giải quyết mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và  
đầu tư quốc tế. Mục 3 sẽ bàn về lịch sử phát triển của Luật đầu tư quốc  
tế. Mục 4 tập trung xác định phạm vi điều chỉnh của các IIA. Cuối cùng,  
Mục 5 sẽ mô tả các nguồn của Luật đầu tư quốc tế.  
CHƯƠNG 1  
KHÁI QUÁT  
VỀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ VÀ LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
Mục đích học  
Chương 1  
Mục 1. KHÁI NIỆM‘ĐẦU TƯ’TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
•
•
Trình bày bối cảnh lịch sử của Luật đầu tư quốc tế hiện nay, trong  
đó có vấn đề bảo hộ ngoại giao;  
Khái niệm ‘đầu tư’ không phải là một định nghĩa được chấp nhận rộng  
rãi mà nó thay đổi liên tục do sự ra đời và phát triển của các hình thức  
đầu tư mới của các doanh nhân, các nhà tài phiệt và các công ty đa quốc  
gia. Vì không có một định nghĩa được chấp nhận chung về đầu tư, nên  
định nghĩa như thế nào khái niệm này trong các BIT có ý nghĩa hết sức  
quan trọng.  
Giới thiệu về luật tập quán quốc tế quy định về trách nhiệm bồi  
thường thiệt hại đối với ngoại kiều, là tiền thân của cơ chế bảo hộ  
đầu tư trong các IIA hiện nay;  
•
•
Tìm hiểu lý do tại sao các IIA hiện nay lại đóng vai trò quyết định  
trong bảo hộ đầu tư;  
Thông thường, các quốc gia đều cho rằng đầu tư quốc tế là việc  
huy động một nguồn lực trong một khoảng thời gian nhất định để tạo  
lợi nhuận trong tương lai. Trong khi đó, các định nghĩa pháp lý được sử  
dụng trong các IIA thường có rất nhiều biến thể, khác nhau về cơ bản.  
Những khác biệt này có thể được phân thành hai nhóm lớn, tùy thuộc  
vào mục đích của IIA. Nhóm thứ nhất là các hiệp định có đối tượng là  
việc dịch chuyển vốn và nguồn lực qua biên giới. Trong nhóm này, khái  
niệm ‘đầu tư’ thường được định nghĩa rất hạn chế, trong đó nội dung  
chính là cơ chế kiểm soát doanh nghiệp. Nhóm thứ hai gồm các IIA  
hướng tới mục tiêu bảo hộ đầu tư, vì vậy các IIA này có xu hướng đưa ra  
các định nghĩa rộng và khái quát hơn, dựa trên yếu tố tài sản, bao gồm  
không chỉ các khoản vốn dịch chuyển qua biên giới, mà còn các loại tài  
sản khác. Nhìn chung, các BIT chủ yếu tiếp cận theo nhóm thứ hai. Các  
IIA gần đây nhất thường sử dụng một định nghĩa tương đối chuẩn mực  
về FDI. Các hiệp định này bắt đầu xuất hiện từ những năm 1960, và kể từ  
đó tới nay hầu như không thay đổi.  
Trình bày về mối quan hệ căng thẳng giữa mục tiêu đảm bảo chủ  
quyền, không bị kiểm sóat của quốc gia tiếp nhận đầu tư và mối  
quan tâm của nhà đầu tư về việc được bảo đảm đầu tư và tính dễ  
dự đoán của môi trường pháp lý trong thời gian đầu tư của mình;  
•
•
•
Mô tả các loại rủi ro chính trị mà nhà đầu tư phải đối mặt, nhất là ở  
các thị trường đang nổi;  
Thảo luận các cách thức giúp các nhà đầu tư lường trước những  
rủi ro của mình;  
Giới thiệu khái niệm bảo hiểm rủi ro chính trị như một biện pháp  
thay thế hoặc bổ sung cho các biện pháp bảo hộ và giải quyết  
tranh chấp theo IIA;  
•
Giới thiệu các nguồn của Luật đầu tư quốc tế.  
Trong tất cả các định nghĩa về đầu tư, cụm từ được sử dụng nhiều  
nhất là‘bất kỳ loại tài sản nào’.1 Định nghĩa này thường đi kèm một danh  
mục tài sản. Vì một số lý do, danh mục các tài sản được bảo hộ trong một  
BIT thường không cố định. Thứ nhất, ‘tác giả’ của các BIT đều phải thừa  
nhận rằng rất khó để xây dựng một danh mục đầy đủ. Thứ hai, người ta  
đã rất thận trọng khi để mở khái niệm ‘đầu tư’, để nó có thể áp dụng với  
các hình thức đầu tư mới phát sinh sau này. Thêm nữa, một định nghĩa  
khái quát sẽ giúp tránh được việc phải đàm phán lại BIT trong các tình  
1
Lưu ý là trong các BIT của mình, Hoa Kỳ thường sử dụng cụm từ ‘bất cứ loại đầu tư nào’.  
404  
405  
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
huống đó. Đối với nhiều BIT, đây là cách tiếp cận vừa mang tính tổng  
hợp, vừa có ý nghĩa phân tích, có khả năng bao hàm mọi yếu tố đa dạng  
có thể được coi là một khoản đầu tư. Do đó, còn một vấn đề khác nữa  
mà nước tiếp nhận đầu tư cần xem xét, đó là liệu quốc gia đó có muốn  
chấp nhận một định nghĩa mở về khái niệm đầu tư hay không? Vì nếu  
làm như vậy, trong tương lai, nó sẽ bảo hộ được những hình thức đầu  
tư mà các bên không có thoả thuận cụ thể nào ở thời điểm ký kết BIT.  
Tình huống này đã được tính đến trong quá trình đàm phán MAI trong  
khuôn khổ OECD, đặc biệt đối với các tài sản tài chính. Nhân dịp này,  
người ta đã nhấn mạnh rằng có lý do chính đáng để đưa các hình thức  
đó vào trong BIT, miễn là các khoản đầu tư được thực hiện để thiết lập  
quan hệ kinh tế lâu dài với doanh nghiệp. Tương tự, các nước tiếp nhận  
đầu tư có thể thấy không thích hợp, khi bảo hộ các quyền theo giấy  
phép ở mức độ tương tự với các tài sản nước ngoài khác.  
tư và tuân thủ các yêu cầu pháp lý, một quốc gia có thể đảm bảo rằng  
chỉ có những khoản đầu tư được coi là hấp dẫn, đứng từ góc độ mục tiêu  
phát triển, mới được bảo hộ.  
Từ quan điểm này, các DC có thể tận dụng điều này bằng cách  
xác định một loạt các ưu tiên và xây dựng các tiêu chí sẽ được tính đến,  
khi xác định nên hay không nên bảo hộ một khoản đầu tư theo BIT. Tuy  
nhiên, là một quốc gia có chủ quyền, nước tiếp nhận đầu tư có thể thay  
đổi pháp luật và chính sách của mình, và những thay đổi này có thể ảnh  
hưởng xấu tới sự ổn định của môi trường đầu tư. Vì vậy, nếu pháp luật  
và chính sách thay đổi thường xuyên, thì có thể gây ảnh hưởng không  
tốt cho uy tín của quốc gia.  
Để được bảo hộ, thông thường, việc tiếp cận đầu tư phải tuân thủ  
pháp luật của nước này. Tình huống này sẽ được thảo luận chi tiết hơn  
trong phần quy định về tiếp cận đầu tư.  
Trái lại, nếu định nghĩa quá hẹp, thì định nghĩa về đầu tư sẽ bỏ sót  
những hình thức đầu tư mới mà nước tiếp nhận đầu tư muốn hướng tới  
trong chiến lược phát triển của mình. Nói chung, mỗi quốc gia cần đánh  
giá khả năng tác động của từng loại định nghĩa về đầu tư để theo đuổi  
các chính sách của quốc gia.  
Nội dung các BIT thường có một điều khoản để đảm bảo việc  
thay đổi hình thức đầu tư vốn (thí dụ từ một khoản vay trở thành một  
khoản nợ) sẽ không làm cho nó mất đi tính chất là một khoản đầu tư,  
vì thế vẫn được bảo hộ theo BIT. Thí dụ: một số BIT quy định: ‘Bất cứ sự  
thay đổi nào về hình thức đầu tư cũng không ảnh hưởng đến tính chất  
đầu tư của nó’.  
Các BIT thường sử dụng khái niệm ‘đầu tư’, là một khoản đầu tư  
được thực hiện theo pháp luật của từng nước ký kết hiệp định. Thí dụ:  
trong BIT giữa Malaysia và các Tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE),  
theo Điều 1, định nghĩa đầu tư của Malaysia là ‘khoản đầu tư được chấp  
thuận’. Còn đối với phía bên kia, đầu tư được định nghĩa là ‘các khoản  
đầu tư được các cơ quan có thẩm quyền của UAE chấp thuận và phân  
loại là đầu tư theo pháp luật và quy định của nước tiếp nhận đầu tư’.  
Tuy nhiên, một số BIT còn ra điều kiện là việc thay đổi hình thức  
đầu tư không được trái với nội dung phê duyệt ban đầu mà nước tiếp  
nhận đầu tư đã đưa ra đối với khoản đầu tư đó. Vì thế, ngay trong Điều  
1 của BIT giữa Cộng đồng Bỉ-Luxembourg và Cộng hòa Síp đã quy định:  
(a) bất kỳ sự thay đổi nào về hình thức đầu tư tài sản đều không ảnh  
hưởng đến tính chất đầu tư, với điều kiện là sự thay đổi đó không  
trái với nội dung cho phép, nếu có, đối với tài sản được đầu tư  
ban đầu.  
Nhìn chung, pháp luật trong nước thường yêu việc chấp thuận  
đầu tư, và việc chấp thuận sẽ được thực hiện với những điều kiện nhất  
định. Khi điều kiện này được nêu trong định nghĩa, thì các khoản đầu  
tư sẽ không được chấp thuận, nếu không tuân thủ pháp luật quốc gia,  
hoặc nếu không đáp ứng các điều kiện do cơ quan có thẩm quyền quy  
định, khi đó khoản đầu tư sẽ không được bảo hộ theo BIT, vì chúng  
không được coi là khoản ‘đầu tư’ theo nghĩa của BIT này. Chính vì lý do  
này, một số BIT quy định rất rõ rằng chúng sẽ chỉ áp dụng với những  
khoản đầu tư được thực hiện theo pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư.  
Mục đích của yêu cầu này là để đảm bảo không xảy ra tình trạng  
lợi dụng tái đầu tư để tránh những hạn chế mà nước tiếp nhận đầu tư áp  
đặt đối với khoản đầu tư ban đầu.  
Một phiên bản khác của quy định này là phải chứng tỏ rằng hoạt  
động tái đầu tư không được trái với pháp luật của nước tiếp nhận đầu  
tư. Cụ thể:  
Trên cơ sở các điều kiện kiểu này, một quốc gia có thể từ chối bảo  
hộ theo BIT đối với những khoản đầu tư mà quốc gia đó cho là không  
phù hợp. Do đó, khi xác định mối tương quan trực tiếp giữa bảo hộ đầu  
(a) nếu có thay đổi về hình thức đầu tư, thì việc thay đổi đó không  
được ảnh hưởng tới nội dung và tính chất của khoản đầu tư, với  
406  
407  
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
điều kiện là thay đổi đó không mâu thuẫn với pháp luật của quốc  
gia ký kết kia.  
Mục 2. TOÀN CẦU HÓA VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
Đầu tư quốc tế đóng vai trò rất quan trọng trong‘toàn cầu hoá kinh tế’-  
một quá trình có tính lịch sử, là kết quả của sự tiến bộ công nghệ và đổi  
mới của con người. Khái niệm toàn cầu hoá kinh tế dùng để chỉ sự hội  
nhập ngày càng tăng của các nền kinh tế trên thế giới, đặc biệt là thông  
qua việc dịch chuyển hàng hoá, dịch vụ và vốn qua biên giới.5 Thuật ngữ  
này đôi khi cũng dùng để chỉ hiện tượng dịch chuyển người (người lao  
động) và tri thức (công nghệ) qua biên giới. Quá trình toàn cầu hóa có  
những khía cạnh mang tính văn hoá, chính trị, và môi trường.  
Còn một vấn đề khác đã được nhận diện trong các BIT, đó là vấn  
đề liên quan tới thu nhập từ đầu tư. Nhìn chung, các khoản thu nhập  
này đều được bảo hộ bởi hầu hết các BIT, thí dụ như đảm bảo việc tự do  
chuyển nhượng các khoản lợi nhuận ra khỏi nước tiếp nhận đầu tư. Có  
những BIT lại bảo hộ khoản thu nhập từ đầu tư bằng một điều khoản  
đầu tư riêng. Cụ thể là các BIT đó định nghĩa về khái niệm này. Vì thế,  
trong nhiều năm, định nghĩa được sử dụng phổ biến nhất quy định  
rằng đó là ‘số tiền được báo cáo của một khoản đầu tư’. Tương tự, phần  
lớn các BIT có đưa ra định nghĩa này cũng đều có thêm một danh sách  
không cố định các dòng tiền mặt được coi là lợi tức đầu tư. Danh mục  
này thường bao gồm lợi nhuận, tiền lãi, lợi nhuận từ vốn, cổ tức, tiền bản  
quyền và phí.  
1. Toàn cầu hóa kinh tế  
Thuật ngữ‘toàn cầu hoá’bắt đầu được sử dụng phổ biến hơn vào những  
năm 1980, thể hiện những tiến bộ về công nghệ giúp cho việc thực  
hiện các giao dịch quốc tế - kể cả các dòng thương mại và tài chính - dễ  
dàng hơn và nhanh hơn. Thuật ngữ này dùng để chỉ sự mở rộng ngoài  
biên giới quốc gia của các lực lượng thị trường tương tự vốn từng có  
hàng thế kỷ hoạt động ở mọi cấp độ hoạt động kinh tế của con người  
- thị trường làng, các ngành công nghiệp đô thị, hoặc các trung tâm tài  
chính.6 Có vô số các chỉ số để minh hoạ phương thức toàn cầu hóa của  
hàng hóa, vốn và người.7  
Chính vì vậy, một định nghĩa rộng về khái niệm đầu tư chỉ là điểm  
tham chiếu đầu tiên trong bối cảnh các định nghĩa về đầu tư và nhà đầu  
tư trong các BIT hiện hành. Đây là điều mọi thành viên của cộng đồng  
quốc tế đều quan tâm tới.2 Các quốc gia xuất khẩu vốn sử dụng nó để  
tìm kiếm cơ hội đầu tư ở nước ngoài và bảo hộ các khoản đầu tư của  
mình ở các thị trường xa xôi.3 Các quốc gia nhập khẩu vốn lại dùng nó  
để thúc đẩy nguồn đầu tư vào nước mình bằng cách đảm bảo cho các  
nhà đầu tư nước ngoài một môi trường kinh doanh ổn định, phù hợp  
với các chuẩn mực cao của quốc tế.4 Một số DC đang hướng tới cả hai  
mục tiêu này. Vì là các DC, họ muốn hưởng lợi từ các khoản đầu tư nước  
ngoài. Vì là các quốc gia đang lớn mạnh, họ muốn mở rộng kinh doanh  
sang các thị trường khác.  
Sự phát triển của thị trường toàn cầu đã giúp gia tăng tính hiệu  
quả thông qua cạnh tranh và phân công lao động - chuyên môn hóa  
cho phép con người và nền kinh tế tập trung vào những gì họ có thể  
làm tốt nhất. Thị trường toàn cầu cũng đem lại cho mọi người cơ hội lớn  
hơn để tiếp cận các thị trường đa dạng và rộng khắp trên toàn thế giới.  
Điều đó có nghĩa là tiếp cận được nhiều vốn và công nghệ hơn, hàng  
nhập khẩu rẻ hơn và các thị trường xuất khẩu có quy mô hơn. Song điều  
đó không có nghĩa là thị trường có thể đảm bảo mọi người được hưởng  
lợi như nhau từ hiệu quả gia tăng. Các quốc gia phải chuẩn bị tinh thần  
nắm bắt những chính sách cần thiết, và đối với các nước nghèo nhất,  
2
Andrew Newcombe & Luís Paradell, Law and Practice of Investment Treaties: Standards of  
Treatment 41-46 (2009); Rudolf Dolzer & Christoph Schreuer, Principles of International  
Investment Law 17-20 (2008); Kenneth J. Vandevelde, Bilateral Investment Treaties: History,  
Policy, and Interpretation 49-59 (2010).  
5
Michael J. Trebilcock, ‘Critiquing the Critics of Economic Globalization’, 1 J. Int'l L. & Int'l  
3
Relations 213-38 (2005).  
Amanda Perry, An Ideal Legal System for Attracting Foreign Direct Investment? Some Theory  
and Reality, 15 AM. U. Int'l L. Rev. 1627, 1631 (2000).  
6
Frederick Mayer & Gary Gereffi, Regulation and Economic Globalization: Prospects and Limits  
4
of Private Governance, 12 BUS. & POL., No. 3, Điều 11, 2010, at 5.  
Joshua Boone, How Developing Countries Can Adapt Current Bilateral Investment Treaties to  
7
Provide Benefits to Their Domestic Economies, 1 Global Bus. L. Rev. 187, 187 (2011) (trong đó  
chỉ rõ động lực đằng sau các BIT là để ‘tạo điều kiện thuận lợi ... cho các dòng đầu tư bằng  
cách mở rộng các kênh an toàn cho FDI ... ổn định môi trường đầu tư, đem lại các biện pháp  
bảo đảm đầu tư, và tạo ra cơ chế giải quyết tranh chấp trung lập cho ‘các nhà đầu tư bị  
tổn thương’); UNCTAD, The Role of International Investment Agreements in Attracting Foreign  
Direct Investment to Developing Countries, UN Doc. E.09.II.D.20 p. 4 (2009).  
Thí dụ: để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với các biện pháp tốt hơn để phân tính xu  
hướng toàn cầu hóa, OECD đã có sáng kiến xây dựng một khung khái niệm và phương pháp  
luận để thu thập các thông tin định lượng và xây dựng các chỉ số. Sổ tay Các chỉ số toàn cầu  
hóa kinh tế là kết quả của sáng kiến này. Đó là kết quả của sự hợp tác giữa các chuyên gia từ  
Ban thư ký OECD, các nước thành viên và các tổ chức quốc tế. OECD, Measuring Globalization:  
OECD Economic Globalization Indicators, 2010, Paris, 230 p.  
408  
409  
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
có thể phải cần tới sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế.8 Toàn cầu hóa có  
thể dễ dàng tác động tới những lựa chọn hàng ngày trong đời sống con  
người, kinh tế, và chính trị.9  
sẻ rủi ro quốc tế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.  
Các quốc giá có thể cân nhắc hai bài học chủ yếu được rút ra từ  
việc phân tích tình hình trong những năm gần đây.  
Toàn cầu hoá cũng có thể tạo ra một khuôn khổ hợp tác giữa các  
quốc gia trong một số vấn đề phi kinh tế nhưng lại có hệ lụy xuyên biên  
giới, thí dụ như di dân, môi trường và các vấn đề pháp lý. Đồng thời,  
dòng chảy hàng hoá, dịch vụ và vốn nước ngoài vào một quốc gia có  
thể tạo ra động cơ và nhu cầu củng cố hệ thống giáo dục trong nước, vì  
công dân của nước tiếp nhận sẽ nhận thức được thách thức cạnh tranh  
trước mắt họ.  
Thứ nhất, các kết quả phân tích đều ủng hộ quan điểm cho rằng  
các quốc gia phải cân nhắc thật kỹ rủi ro và lợi ích của các dòng vốn tự  
do. Bằng chứng cho thấy những lợi ích rõ ràng mà các nền kinh tế tiên  
tiến được hưởng từ hội nhập tài chính.12 Ở các nền kinh tế mới nổi và  
đang phát triển, một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến mức độ tác động  
của toàn cầu hoá tài chính đối với sự biến động và tăng trưởng kinh tế.  
Các nền kinh tế mạnh mẽ về tài chính, với các thể chế chắc chắn, các  
chính sách kinh tế vĩ mô ổn định và mức độ mở cửa thị trường đáng kể  
sẽ có khả năng hơn trong việc hưởng lợi từ tự do hóa tài chính và ít khả  
năng gặp phải nguy cơ bất ổn kinh tế vĩ mô và khủng hoảng tài chính.  
Thí dụ: các thị trường tài chính phát triển tốt giúp cải thiện các chu trình  
bùng nổ-phát triển được kích hoạt bởi sự gia tăng và sụt giảm đột ngột  
của dòng vốn quốc tế, trong khi đó các thể chế mạnh trong nước và  
các chính sách kinh tế vĩ mô mạnh mẽ giúp thu hút vốn‘tốt’như vốn cổ  
phần danh mục đầu tư và FDI.  
Quan trọng hơn cả là toàn cầu hoá là phổ biến và chia sẻ thông  
tin, tri thức. Các nhà đổi mới - dù là doanh nghiệp hay chính phủ - đều  
có thể học hỏi từ những ý tưởng thành công của các nước khác và điều  
chỉnh nó cho phù hợp với hoàn cảnh của mình, đồng thời tránh được  
những ý tưởng đã từng thất bại. Joseph Stiglitz, người đoạt giải Nobel,  
mặc dù thường xuyên lên án toàn cầu hóa, cũng nhận thấy toàn cầu hoá  
góp phần‘giảm bớt cảm giác cô lập ở thế giới đang phát triển và đem lại  
cho nhiều người sống trong thế giới này cơ hội tiếp cận những tri thức  
mà cách đây một thế kỷ, ngay cả những người giàu nhất ở bất cứ quốc  
gia nào, cũng không thể có được’.10  
Bài học thứ hai rút ra từ nghiên cứu này là: việc thận trọng thái quá  
trong việc mở cửa cho nguồn vốn cũng phải trả giá. Cái giá đó bao gồm:  
thương mại quốc tế thấp hơn, chi phí đầu tư cao hơn cho doanh nghiệp,  
ưu đãi về kinh tế nghèo, nên gia tăng chi phí hành chính/giám sát. Mở  
cửa cho đầu tư nước ngoài có thể dẫn tới những thay đổi trong nền kinh  
tế góp phần loại bỏ những nhược điểm này và giúp tăng trưởng.  
Các thị trường tài chính thế giới đã trải nghiệm sự gia tăng mạnh  
mẽ về toàn cầu hóa trong những năm gần đây. Mặc dù sự tăng trưởng  
mạnh mẽ nhất diễn ra ở các nền kinh tế tiên tiến, song các thị trường  
mới nổi và các nước đang phát triển cũng đã hội nhập hơn về tài chính.11  
Khi thị trường vốn của mình đã được tăng cường, các quốc gia thu hút  
được nhiều vốn đầu tư hơn, có thể tạo điều kiện cho tầng lớp doanh  
nhân lớn hơn phát triển, phân bổ vốn hiệu quả hơn, khuyến khích chia  
Trong bất kỳ trường hợp nào, thì các quốc gia đều nên cân nhắc  
những rủi ro tiềm ẩn liên quan đến việc mở cửa thị trường thu hút vốn  
đầu tư so với chi phí hiệu quả liên quan đến các biện pháp kiểm soát,  
nhưng trong những điều kiện nhất định (như thể chế tốt, chính sách  
trong nước và nước ngoài ổn định, và các thị trường tài chính phát triển),  
thì lợi ích của việc toàn cầu hóa tài chính sẽ lấn át các rủi ro.  
8
Cynthia A Williams, ‘Corporate Social Responsibility in An Era of Economic Globalization’,  
(2002) 35 UC David L Rev 705 đoạn 721, nêu rõ đầu tư vốn của tư nhân, đặc biệt là của các  
công ty đa quốc gia, ngày càng có ý nghĩa quan trọng đối với các DCs; Mitchell A Kane,  
‘Bootstraps and Poverty Traps: Tax Treaties as Novel Tools for Development Finance’(2012) 29  
Yale J on Reg 255, đoạn 263-72, bàn về tầm quan trọng và sự khó khăn của việc thúc đẩy tài  
trợ cho các hoạt động của khu vực tư nhân ở các DCs, như một biện pháp để giúp họ thoát  
khỏi tình trạng đói nghèo.  
Sự phát triển của truyền thông quốc tế, thương mại quốc tế và  
các yếu tố khác đã góp phần tạo ra một nền kinh tế toàn cầu chưa từng  
có. Gia tăng quốc tế hóa tài chính có thể mang lại nhiều lợi ích to lớn  
cho các nhà đầu tư và các quốc gia, nhưng cũng có thể để lại hậu quả  
nghiêm trọng. Những cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây ở Hoa Kỳ, EU  
9
Thí dụ: trong lĩnh vực y tế, sự gia tăng khả năng tiếp cận các công nghệ hiện đại có thể tạo ra  
sự khác biệt giữa sự sống và cái chết. Trong lĩnh vực truyền thông, nó có thể thúc đẩy và tạo  
điều kiện cho thương mại và giáo dục, và khả năng tiếp cận truyền thông độc lập.  
10  
Joseph Stiglitz (2003), Globalization and Its Discontents, New York: W.W. Norton & Company,  
tr. 4.  
11  
12  
David Zaring, ‘Finding Legal Principle in Global Financial Regulation’, 52 Va. J. Int'l L. 683, 701-  
David Cowen & Ranil Salgado, ‘Globalization of Production and Financial Integration in Asia’,  
16 (2012) (nhận dạng các đặc điểm chung và có thể so sánh được của luật tài chính quốc tế  
và các cơ chế khó của pháp luật quốc tế dựa trên hiệp định của WTO và EU).  
trong David Cowen, et al. eds., Financial Integration in Asia: Recent Developments and Next  
Steps, 4 Int'l Monetary Fund, Working Paper No. 06/196, 2006.  
410  
411  
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
và Nga cũng như những hệ quả của nó đối với thị trường thế giới đã đặt  
ra vấn đề cần phải có các quy định hiệu quả hơn trong bối cảnh mới của  
nền kinh tế toàn cầu.  
đó, mặc dù các rào cản về thuế quan và phi thuế quan đối với thương  
mại hàng hoá đã giảm, nhưng việc áp dụng khác biệt các quy định và  
pháp luật nói chung để hình thành các rào cản phi thuế quan không  
chỉ đối với thương mại hàng hoá, mà còn đối với thương mại dịch vụ và  
đầu tư, ngày càng trở nên ít rõ ràng. Tuy nhiên, những rào cản phi thuế  
quan này có tính hai mặt, khiến chúng rất khó giải quyết. Thứ nhất, đó  
là những yếu tố bắt nguồn từ xã hội, thường được dân chủ hoá, đại diện  
cho tầm nhìn có tính cục bộ về phương thức tổ chức xã hội trong nước  
để đạt được các giá trị trong nước. Thứ hai, chúng là các rào cản thương  
mại quốc tế.  
2. Các quy tắc của toàn cầu hóa  
Sự tăng trưởng trong nền kinh tế của một nước đi kèm với rất nhiều yếu  
tố phát triển mới với những đóng góp tích cực, song cũng đặt ra nhiều  
thách thức. Mặc dù tăng cường hợp tác khu vực gia tăng, song chính  
phủ nhiều nước đã nhận thấy xu hướng toàn cầu hóa làm họ mất đi  
nhiều khả năng kiểm soát nền kinh tế, vì các thương nhân và các công ty  
đã mở rộng hoạt động ra ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật quốc  
gia. Đối với các nước theo định hướng thị trường, sự xói mòn chủ quyền  
quốc gia đồng nghĩa với việc suy giảm sức mạnh trong khả năng tác  
động của những người dân bình thường đối với một sự kiện thông qua  
việc bầu cử, do đó nó có thể làm xói mòn nền dân chủ.  
Giống như một quả cầu tuyết lăn theo triền núi, toàn cầu hóa  
dường như đang thu nạp ngày càng nhiều động lực hơn. Và câu hỏi  
thường xuyên được đặt ra về toàn cầu hoá không phải liên quan tới sự tiếp  
tục của nó, mà chính là tốc độ của nó. Hướng đi trong tương lai của toàn  
cầu hóa được quyết định bởi một loạt các yếu tố khác nhau, song có một  
yếu tố rất quan trọng không thể bỏ qua -là các quốc gia có chủ quyền. Họ  
luôn có khả năng tạo ra những trở ngại đáng kể cho toàn cầu hoá, từ thuế  
quan, hạn chế nhập cư, đến các hành động quân sự thù địch.15  
Chính ở khía cạnh này, các tổ chức quốc tế, mới và cũ, đã đảm  
nhận một số chức năng trước đây của chính phủ các quốc gia. Thí dụ:  
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), một cơ quan độc lập của Liên hợp quốc (UN),  
đã trở thành một‘lưới an toàn’cho các quốc gia khi bị khủng hoảng kinh  
tế và là một cơ quan thực thi quy tắc ứng xử về kinh tế. Tuy nhiên, hai  
vai trò này đã bị tranh cãi, và đã có những đề xuất được đưa ra về việc  
thành lập một cơ quan kinh tế toàn cầu mới. Tổ chức thương mại thế giới  
(WTO) đã thành công trong Hiệp định chung về thuế quan và thương  
mại (GATT)13 trước đây, và đã trở thành không chỉ là một cơ quan giải  
quyết tranh chấp thương mại quốc tế mà còn là tòa án có thẩm quyền  
thực thi các quyết định của mình.14 Các tổ chức quốc tế khác, thí dụ như  
Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) tại Thụy Sỹ và Tổ chức chứng khoán  
quốc tế (IOSCO), hiện đang xây dựng các quy định mới. Các tổ chức này  
hiện đang soạn thảo cuốn Quy tắc kinh tế toàn cầu cho thế kỷ 21.  
Gần một thế kỷ trước, kinh tế toàn cầu hoạt động trong một môi  
trường rất cởi mở, với hàng hoá, dịch vụ và con người có thể di chuyển  
qua biên giới và hầu như không gặp mấy khó khăn. Sự cởi mở đó bắt  
đầu biến mất khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu vào năm 1914,  
và cho tới nay quá trình phục hồi lại những gì đã mất vẫn đang diễn ra.  
Trong quá trình này, các chính phủ nhận thấy tầm quan trọng của hợp  
tác và điều phối quốc tế, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều tổ chức quốc  
tế và các định chế tài chính (trong đó có IMF và Ngân hàng thế giới (WB)  
năm 1944). Quả thật, các bài học rút ra bao gồm phải tránh việc chia cắt  
và làm rạn nứt sự hợp tác giữa các quốc gia.16  
15  
Kal Raustiala, ‘The Architecture of International Cooperation: Transgovernmental Networks  
and the Future of International Law’, 43 Va. J. Int'l L. 1, 5 (2002); David Zaring,‘International Law  
by Other Means: The Twilight Existence of International Financial Regulatory Organizations’,  
33 Tex. Int'l L.J. 281, 312-25 (1998).  
Nếu không có hội nhập, sẽ không thể quyết định được mức độ  
và phương thức tích hợp các quy trình hình thành chính sách. Thêm vào  
16  
Phản ánh tinh thần mới của pháp luật quốc tế ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai, Philip  
13  
Có sự nhầm lẫn bởi‘GATT’vừa là tên gọi của Hiệp định được ký kết vào năm 1947, vừa là tên  
Jessup đã quan sát thấy vào năm 1946 rằng: ‘Chủ quyền, khái niệm thể hiện ý chí tuyệt đối,  
không bị kiểm soát của một quốc gia, được tự do trông cậy vào phán quyết chung thẩm  
của chiến tranh, là một vùng cát lún, nơi mà nền tảng của pháp luật quốc tế được xây dựng’.  
Philip Jessup, A Modern Law of Nations: An Introduction 2 (1948); xem thêm id. ở 157 (‘Điểm  
yếu lớn nhất của pháp luật quốc tế truyền thống là sự thừa nhận rằng một quốc gia có thể sử  
dụng vũ lực để bắt buộc nước khác phải tuân thủ ý chí của mình’). Trong số hàng loạt các bài  
thuyết trình sau này về những thay đổi sau chiến tranh, xem Louis Henkin, ‘Từ C: Chủ quyền,  
và Toàn cầu hoá, và Nhân quyền’, v.v…, 68 FORDHAM L. REV. 1 (1999) (bàn về Liên hợp quốc,  
phản đối chiến tranh, và theo đuổi mục tiêu hợp tác giữa các quốc gia).  
gọi gắn liền với tổ chức sơ khai được hình thành và phát triển liên quan tới Hiệp định đó,  
với sự thất bại của các thành viên GATT (hay còn gọi là ‘các Bên ký kết’) trong việc thành lập  
Tổ chức thương mại quốc tế (ITO). Khái niệm GATT được dùng ở đây là chỉ Hiệp định GATT  
ban đầu, nhưng được sửa đổi và hiện áp dụng cho tất cả các thành viên WTO. Còn hầu hết  
các tham chiếu khác tới GATT trong Giáo trình là để chỉ tổ chức tiền thân của WTO trước khi  
được thành lập năm 1994.  
14  
Gerard Curzon & Victoria Curzon,‘The Management of Trade Relations in the GATT’, trong Tạp  
chí Quan hệ kinh tế quốc tế của thế giới phương Tây: 1959-1971 141, Nxb. Đại học Oxford, 1976.  
412  
413  
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
Thế giới vẫn bao gồm các quốc gia và một thị trường toàn cầu.  
Cần phải có các quy tắc phù hợp để hệ thống toàn cầu có thể thích ứng  
tốt hơn, có lợi hơn và hợp pháp hơn. Các tổ chức quốc tế có vai trò khó  
khăn nhưng không thể thiếu trong việc giúp mang lại nhiều lợi ích toàn  
cầu hóa hơn cho nhiều người hơn trên toàn thế giới.17 Bằng cách hỗ trợ  
việc phá bỏ các rào cản - từ thể chế cho tới văn hoá - ngày càng nhiều  
quốc gia đã có thể hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, và ngày càng  
nhiều người có thể nắm bắt được nhiều lợi ích hơn của toàn cầu hóa.  
mục đích duy nhất là quản lý đầu tư, như trong các hiệp định có phạm vi  
rộng hơn trong đó cũng quy định về các nghĩa vụ chính về đầu tư nước  
ngoài), cũng như ở cấp độ đa phương, bởi lẽ một số quy định của WTO  
cũng có những nới lỏng đối với chế độ đối xử với đầu tư nước ngoài.20  
Mục này cũng sử dụng các ‘BIT mẫu’, vì các nước xuất khẩu vốn rất có  
ảnh hưởng thường đàm phán BIT dựa trên các quy định ‘mẫu’ của họ  
(thí dụ: BIT mẫu của Hoa Kỳ), trong đó có các quy định đã được cải thiện  
đáng kể về việc ban hành các quy định về đầu tư.21  
Mục 3. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
1. Giới thiệu  
Đầu tư quốc tế là một trong các mối quan tâm chủ yếu đối với nền kinh  
tế-chính trị của bất kỳ quốc gia nào. Đầu tư nước ngoài có thể giúp nước  
tiếp nhận đầu tư xây dựng một cơ cấu kinh tế vững chắc, giúp gia tăng  
và đa dạng hóa sản xuất, cung cấp các dịch vụ mới và phát triển hơn, tạo  
việc làm và đem lại công nghệ mới, và nhiều lợi ích khác. Ngoài ra, các  
quốc gia sẽ cố gắng để xây dựng các doanh nghiệp trong nước vững  
mạnh, từ đó có thể mở rộng phạm vi hoạt động sang các thị trường khác.  
Chính sách kinh tế quốc gia thường nhằm mục đích là cùng lúc đạt được  
một số mục tiêu, mà thường các mục tiêu đó luôn mâu thuẫn với nhau,  
trong đó có thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tránh bất ổn xã hội, duy trì an  
ninh và chủ quyền quốc gia, tái phân phối của cải dựa trên một số tiêu  
chuẩn công bằng, và một cách công khai hoặc không công khai, duy  
trì quyền lực của các nhà hoạch định chính sách và đem lại lợi ích cho  
những người hoặc nhóm người có ảnh hưởng.22 Do đó, luật trong nước  
của nhiều quốc gia vẫn được giữ ở mức tương đối linh hoạt và thông  
thường từ chối bảo hộ đầu tư mạnh mẽ - cả đối với đầu tư trong nước và  
Các doanh nghiệp đa quốc gia ở nước ngoài đem lại nguồn thặng  
dư vốn dài hạn, giúp xây dựng các mối quan hệ kinh tế và chính trị với  
các quốc gia khác và có thể bảo đảm việc tiếp cận được các nguồn lực  
lớn mà nước tiếp nhận đầu tư không có sẵn. Trong phạm vi khả năng  
của mình, các chính phủ có rất nhiều công cụ chính sách để có thể đạt  
được những mục tiêu này. Ký kết các IIA với các đối tác liên quan là một  
công cụ chính sách không hề nhỏ.18  
20  
Julien Chaisse, ‘The Regulatory Framework of International Investment: The Challenge  
of Fragmentation in A Changing World Economy, in The Prospects of International Trade  
Regulation - From Fragmentation to Coherence’, 417, in Thomas Cottier & Panagiotis  
Delimatsis, eds, Cambridge Univ. Press, 2010.  
21  
sites/default/files/BIT%20text%C20for%C20ACIEP%Meeting.pdf [sau đây gọi là‘BIT mẫu của  
Hoa Kỳ năm 2012’];  
Hiệp định Mẫu của Đức về Khuyến khích và bảo hộ đầu tư lẫn nhau, các điều 9, 10, năm 2008,  
là ‘BIT mẫu của Đức năm 2008’];  
Hiệp định đầu tư quốc tế (‘IIA’) có thể gửi tín hiệu đến các nhà  
đầu tư quốc tế về một môi trường đầu tư thuận lợi, và bảo đảm với họ  
rằng các khoản đầu tư của họ sẽ được hưởng lợi từ khuôn khổ pháp lý  
đầy đủ cho quá trình hoạt động kinh doanh của họ.19  
Hiệp định mẫu của Canada về Khuyến khích và bảo hộ đầu tư, các điều 24, 48, năm 2004,  
gọi là ‘BIT mẫu của Canada năm 2004’];  
Mục 3 trình bày về những diễn tiến chính mới xảy ra trong thời  
gian gần đây trong luật đầu tư quốc tế. Để đạt được mục đích trên, Mục  
3 này sẽ xem xét về hoạt động xây dựng quy định về đầu tư ở cấp độ  
hiệp định song phương và khu vực (bao gồm hiệp định quốc tế cho  
Dự thảo Hiệp định về Khuyến khích và bảo hộ đầu tư lẫn nhau của Pháp, các điều 7, 10, năm  
gọi là ‘BIT mẫu của Pháp năm 2006’];  
Hiệp định song phương của Colombia về Khuyến khích và bảo hộ đầu tư, các điều 9, 10, năm  
gọi là ‘BIT mẫu của Colombia năm 2007’];  
17  
Sungjoon Cho & Claire R. Kelly,‘Promises and Perils of New Global Governance: A Case of the  
G20’, 12 Chi. J. Int'l L. 491, 548-53 (2012) (bàn về những nghi ngờ liên quan tới hiệu quả điều  
phối các chức năng của G20 sau khủng hoảng tài chính toàn cầu).  
Hiệp định mẫu của Ấn Độ về Khuyến khích và bảo hộ đầu tư, các điều 9, 10, năm 2003, được  
‘BIT mẫu của Ấn Độ năm 2003’].  
18  
Tom Ginsburg, ‘International Substitutes for Domestic Institutions: Bilateral Investment  
22  
Treaties and Governance’, 25 Int'l Rev. L. & Econ. 107, 108 (2005).  
var Kolstad & Espen Villanger, CHR. MICHELSEN INSTITUTE, How Does Social Development  
19  
Kenneth J. ‘Vandevelde, A Brief History of International Investment Agreements’, 12 U. C.  
Affect FDI and Domestic Investment? 1 (2004) (‘Creating A Sound Investment Climate Is Vital  
Davis J. Int'l L. & Pol'y 157, 169 (2005).  
for Improving the Economic Performance of Developing Countries.’)  
414  
415  
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
nước ngoài.23 Đồng thời, hầu hết các nhà hoạch định chính sách đồng  
ý rằng FDI - nghĩa là, đầu tư nước ngoài tại chính quốc gia mình - là phù  
hợp để tăng cường tăng trưởng kinh tế, từ đó nâng cao phúc lợi nói  
chung. Do vậy, FDI thường được mời chào các chế độ khuyến khích về  
tài chính và các chế độ khuyến khích khác.24 Vì thế, một điều không thể  
tránh được là sẽ dẫn đến xung đột giữa tính linh hoạt và tính an toàn  
của các quy định pháp luật, mà tính an toàn của các quy định pháp luật  
là điều mà các nhà đầu tư luôn tìm kiếm.25 Tăng cường an toàn pháp  
luật, bảo hộ chống lại sự thay đổi nhanh chóng của chính trị trong nước  
trong khi vẫn tôn trọng chủ quyền quốc gia, đã và vẫn luôn là trọng  
tâm của bảo hộ đầu tư trong luật tập quán quốc tế và trong các BIT.26  
Theo thời gian, trọng tâm của các nỗ lực bảo hộ nhà đầu tư đã thay đổi.  
Trước đây, khi các quốc gia theo đường lối dân chủ tự do và các nước  
theo đường lối xã hội chủ nghĩa cạnh tranh vị trí áp đảo trên toàn cầu  
trong suốt giai đoạn Chiến tranh Lạnh, điều các nhà đầu tư phương Tây  
thời đó sợ nhất là các quốc gia thuộc thế giới thứ ba và các nước áp  
dụng các chính sách kinh tế xã hội chủ nghĩa có thể thẳng thừng tước  
quyền sở hữu đối với tài sản của họ, mà điều này đã từng xảy ra thường  
xuyên trong suốt giai đoạn xóa bỏ chế độ thực dân sau Chiến tranh thế  
giới thứ hai.27 Hệ quả là, luật tập quán về đầu tư và các BIT được ký kết  
trong giai đoạn này đã nhấn mạnh các quy tắc quốc hữu hóa tài sản và  
bồi thường. Giá trị bồi thường (trên cơ sở bồi thường toàn bộ và ngay  
lập tức, một cách đầy đủ hoặc công bằng) từ đó đến nay vẫn chưa ngã  
23  
Đầu tư có thể được chia thành hai loại lớn gồm: đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp (FDI).  
Đầu tư gián tiếp là mua cổ phần trong các doanh nghiệp nước ngoài mà không thực hiện  
bất kỳ việc kiểm soát trực tiếp nào đối với việc quản lý của doanh nghiệp đó. Ngược lại, FDI  
là mua phần vốn góp có quyền kiểm soát đáng kể trong các công ty nước ngoài hiện đang  
tồn tại hoặc thành lập doanh nghiệp mới. Để biết xem phần vốn góp có quyền kiểm soát  
hay không, nhà đầu tư nước ngoài phải nắm giữ tối thiểu 10% vốn chủ sở hữu của doanh  
nghiệp, thì khoản đầu tư đó mới được xếp loại là FDI. Xem ‘Approaching the Next Frontier  
for Trade in Services: Liberalisation of International Investment’, Indus., Trade, & Tech. Rev. 2  
(USITC, No. 2962, tháng 4/1996). Vì vấn đề kiểm soát ít quan trọng hơn đối với đầu tư gián  
tiếp, do vậy, vấn đề chính sách của chính phủ và cạnh tranh ngành cũng vì thế mà bớt quan  
trọng. Tuy nhiên, vì FDI thường liên quan đến các vấn đề kiểm soát đáng kể đối với một  
doanh nghiệp trong nước, nên FDI dẫn đến vấn đề chủ quyền đối với rất nhiều nước tiếp  
nhận đầu tư. Tuy nhiên, tăng trưởng về FDI được hầu hết các DC coi là có lợi, vì FDI giúp đẩy  
mạnh tăng trưởng kinh tế, năng suất, và khả năng cạnh tranh. Nhìn chung, xem UNCTAD,  
World Investment Report 1996: Investment, Trade and International Policy Arrangements 219  
(1996); Trade and Foreign Direct Investment, đoạn 46-53.  
24  
Bằng chứng về tác động kinh tế của IIA hiện đang ở mức hai chiều. Xem Todd Allee & Clint  
Peindhardt, ‘Contingent Credibility: The Impact of Investment Treaty Violations on Foreign  
Direct Investment’, 65 Int'l Org. 401 (2011) (cho thấy rằng việc ký kết các BIT giúp tăng đáng  
kể FDI, trừ khi quốc gia đó sau đó bị một nhà đầu tư cáo buộc là đã vi phạm BIT tại cơ quan  
trọng tài); Rashmi Banga,‘Do Investment Agreements Matter?’21 J. Econ. Integration 40 (2006)  
(cho thấy rằng việc ký BIT với các quốc gia phát triển đã giúp tăng dòng FDI); Matthias Busse,  
Jens Koniger & Peter Nunnenkamp, ‘FDI Promotion Through Bilateral Investment Treaties:  
More than A Bit?’, 146 Rev. World Econ. 147 (2010) (kiểm soát những vấn đề nội sinh và các  
vấn đề ngoại lai theo thống kê khác và cho thấy rằng BIT giúp gia tăng FDI, với bằng chứng  
rằng BIT có thể giúp thay thế cho các thể chế yếu kém trong nước); Tim Büthe & Helen kiện  
Milner, ‘Bilateral Investment Treaties and Foreign Direct Investment: A Political Analysis’, in  
The Effect of Treaties on Foreign Direct Investment (cho thấy rằng theo thống kê, tỷ lệ FDI so với  
GDP tăng đáng kể khi có thêm mỗi BIT được ký kết); Peter Egger & Michael Pfaffermayr, ‘The  
Impact of Bilateral Investment Treaties on Foreign Direct Investment’, 32 J. Comp. Econ. 788,  
790 (2004) (cho thấy rằng tăng 30% luồng vốn từ quốc gia xuất khẩu vốn chuyển sang quốc  
gia nhập khẩu vốn sau khi các quốc gia này đã ký kết BIT); Kevin P. Gallagher & Melissa B.L.  
Birch, ‘Do Investment Agreements Attract Investment? Evidence from Latin America’, in The  
Effect of Treaties on Foreign Direct Investment (cho thấy mối quan hệ tích cực giữa số lượng  
BIT được ký kết và dòng đầu tư nước ngoài đổ vào các quốc gia Mỹ La-tinh); Robert Grosse &  
Len J. Trevino, ‘New Institutional Economics and FDI Location in Central and Eastern Europe’,  
in The Effect of Treaties on Foreign Direct Investment (chi thấy mối quan hệ tích cực giữa số  
lượng BIT và FDI); Andrew Kerner,‘Why Should I Believe You? The Costs and Consequences of  
Bilateral Investment Treaties’, 53 Int'l Stud. Q. 73, 82-98 (2009) (Kiểm soát các vấn đề nội sinh  
và chi thấy ra rằng việc phê chuẩn một BIT có thể giúp tăng 600 triệu USD đầu tư trực tiếp  
nước ngoài); Eric Neumayer & Laura Spess,‘Do Bilateral Investment Treaties Increase Foreign  
Direct Investment to Developing Countries?’, 33 World Dev. 1567, 1568 (2005) (cho thấy rằng  
việc ký BIT với một số quốc gia xuất khẩu vốn có thể dẫn đến việc FDI tăng gần gấp đôi, tuy  
nhiên tác động này sẽ giảm khi các thể chế pháp lý trong nước dần cải thiện tốt lên); Clint  
Peinhardt & Todd Allee, ‘Devil in the Details? The Investment Effects of Dispute Settlement  
Variation in BITs’, in Yearbook on International Investment Law and Policy 2010-2011, đoạn 837,  
854-56 (Karl P. Sauvant, ed. 2012) (cho thấy rằng kiểm soát các đặc điểm đặc thù cho mỗi  
quốc gia có ảnh hưởng đến việc đàm phán hiệp định, do đó ảnh hưởng đến nội dung của  
hiệp định. Các hiệp định đầu tư quốc tế có mức độ cam kết cao hơn về giải quyết tranh chấp  
giữa nhà đầu tư và chính phủ nước tiếp nhận đầu tư bằng phương thức trọng tài, thay cho  
việc giải quyết tranh chấp ở trong nước, được cho là giúp gia tăng dòng đầu tư trực tiếp  
nước ngoài); Susan Rose-Ackerman,‘The Global BITs Regime and the Domestic Environment  
for Investment’, in The Effect of Treaties on Foreign Direct Investment (cho thấy rằng BIT có tác  
động tích cực đến dòng FDI tới các DC trên cơ sở tương tác với các yếu tố kinh tế và chính trị  
trong nước); Jeswald W. Salacuse & Nicholas P. Sullivan, ‘Do BITs Really Work?: An Evaluation  
of Bilateral Investment Treaties and Their Grand Bargain’, 46 Harv. Int'l L.J. 67, 95?115 (2005)  
(cho thấy rằng việc ký kết BIT với Hoa Kỳ dẫn đến việc tăng đầu tư nước ngoài từ 77 lên 85%,  
tuy nhiên các quốc gia OECD khác không có sự gia tăng đáng kể nào).  
25  
José Guimon & Sergey Filippov, ‘Competing for High-Quality FDI: Management Challenges  
for Investment Promotion Agencies’, 4 Institutions and Economies.  
26  
Francis J. Nicholson,‘The Protection of Foreign Property under Customary International Law’,  
3 B.C. L. Rev. 391, 391-93 (1965) (trong đó giải thích rằng việc phát triển thương mại và đầu tư  
quốc tế đã tạo ra một số nguyên tắc nhất định, theo đó đặt ra nghĩa vụ đối với các quốc gia  
về việc bảo hộ quyền tài sản có được của người nước ngoài).  
27  
Rudolf Dolzer & Margrete Stevens, Bilateral Investment Treaties (1995) (trong đó quy định  
rằng một quy tắc chung là các DC là các nước nhập khẩu vốn, và các quốc gia phát triển  
là các nước xuất khẩu vốn, cùng thúc đẩy thương mại Bắc-Nam). Tuy nhiên, xem UNCTAD,  
South-South Investments Agreements Proliferating, IIA Monitor No. 1, UNCTAD/WEB/ITE/  
IIT/2006/1 (ngày 03/11/2005) (theo đó các dòng FDI hiện nay đã cho thấy sự gia tăng tương  
tác Nam - Nam). Theo UNCTAD, hợp tác Nam - Nam về đầu tư đã gia tăng trong những năm  
gần đây, phản ánh đúng xu hướng gia tăng số lượng các IIA được ký kết giữa các DC. Về khía  
cạnh này, các DC đã bắt đầu quan tâm hơn về việc làm sao có thể bảo hộ các nhà đầu tư của  
mình ở nước ngoài. Đây thực sự là chuyện các quốc gia như Brazil và Trung Quốc đã chiếm  
được vị thế vượt trội đáng kể trong nền kinh tế toàn cầu. UNCTAD, Recent Developments  
in International Investment Agreements IIA Monitor No. 3, 5, UNCTAD/WEB/DIAE/IA/2009/8  
(ngày 03/7/2009).  
416  
417  
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
ngũ. Những cáo buộc về tước quyền sở hữu tài sản của đồng minh hoặc  
đầu tư nước ngoài đối với nước tiếp nhận đầu tư là một trong những  
yếu tố quan trọng nhất, theo đó thể hiện bản chất các tranh chấp đầu  
tư nước ngoài từ lăng kính xét xử trọng tài, dựa trên các hiệp định đầu  
tư. Tước quyền sở hữu hay quốc hữu hóa các khoản đầu tư nước ngoài  
trong lãnh thổ của nước tiếp nhận đầu tư là điều được phép thực hiện  
theo luật đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, điều này phải được chứng minh  
trên cơ sở vì mục đích công, theo một quy trình hợp lệ về pháp lý và  
thanh toán bồi thường. Thanh toán bồi thường một cách đầy đủ đã luôn  
luôn là điểm mấu chốt dẫn đến tranh chấp trong trường hợp nhà đầu  
tư nước ngoài cáo buộc nước tiếp nhận đầu tư tước quyền sở hữu của  
họ một cách bất hợp pháp. Tước quyền sở hữu có thể mang tính trực  
tiếp hoặc gián tiếp. Tước quyền sở hữu có thể được coi là trực tiếp và dễ  
dàng được xác định khi có cáo buộc về việc nước tiếp nhận đầu tư tước  
tài sản của đồng minh hoặc đầu tư nước ngoài trong lãnh thổ của nước  
tiếp nhận đầu tư. 28  
2. Các thế hệ IIA kế tiếp  
Trước khi các IIA ra đời, các quốc gia ký kết các Hiệp định Hữu nghị,  
Thương mại và Hàng hải (‘FCN’), theo đó yêu cầu quốc gia tiếp nhận đầu  
tư phải đối xử đối với các khoản đầu tư nước ngoài giống như được áp  
dụng đối với các khoản đầu tư từ các quốc gia khác, trong một số trường  
hợp, bao gồm cả chế độ đối xử ưu đãi mà quốc gia tiếp nhận đầu tư áp  
dụng đối với các khoản đầu tư của chính mình. FCN cũng quy định các  
điều khoản thương mại và vận chuyển giữa các quốc gia thành viên, và  
quyền của người nước ngoài trong việc tiến hành kinh doanh và sở hữu  
tài sản tại quốc gia tiếp nhận đầu tư.  
Năm 1996, các nước OECD bắt đầu đàm phán để xây dựng Hiệp  
định đầu tư đa phương (‘MAI’) với dự định sau này sẽ cho tất cả các quốc  
gia được gia nhập, để quy định các nguyên tắc MFN và NT cho mọi hình  
thức FDI, cũng như quy định rất nhiều biện pháp bảo đảm về pháp lý và  
tố tụng cho các nhà đầu tư.30 Tuy nhiên, các nhà đàm phán MAI đã gặp  
phải những rào cản mang tính hệ thống đối với tham vọng tự do hóa  
một lĩnh vực rộng như đầu tư, trong đó có cả sự phức tạp của các chế độ  
thuế quốc gia.31 Trebilcock và Howse cũng đã mô tả các động cơ chính trị  
bao phủ các cuộc đàm phán MAI và cuối cùng khiến cho các cuộc đàm  
phán này bị thất bại. Tính đến tháng 5/1997, các nhà đàm phán đã đạt  
được thỏa thuận về rất nhiều yếu tố trong kết cấu cơ bản của MAI, bao  
gồm MFN và NT. Tuy nhiên, các quốc gia có quan điểm rất khác nhau về  
mối quan hệ giữa MAI và các tiêu chuẩn về môi trường, lao động, và các  
chính sách văn hóa. Đồng thời, các quốc gia cũng chia rẽ nghiêm trọng  
về việc liệu các biện pháp khuyến khích đầu tư có nên bị chế tài, và áp  
dụng chế tài như thế nào, dẫn đến việc các biện pháp khuyến khích  
đầu tư sẽ không được đề cập đến trong dự thảo. Tuy nhiên, cùng lúc đó,  
Tháng 7/2017, khung pháp lý về đầu tư quốc tế bao gồm khoảng  
3.500 hiệp định đầu tư, bao gồm các BIT, các hiệp định khu vực, và các  
quy định về bảo hộ đầu tư trong các FTA giữa hai hoặc nhiều quốc gia.  
Động lực chính cho việc ký kết các văn kiện này thường là mong muốn  
của các quốc gia xuất khẩu vốn - các quốc gia phát triển, nhằm bảo đảm  
rằng bất kỳ ai mang quốc tịch của nước đó cũng sẽ được bảo hộ về tài  
chính và pháp lý khi thực hiện đầu tư tại các quốc gia nhập khẩu vốn - là  
các DC. Do vậy, đa phần các IIA được ký kết giữa các quốc gia phát triển  
và các DC hoặc các nền kinh tế đang chuyển đổi, mặc dù điều này đang  
dần dần thay đổi.  
Trong thế giới ngày nay, khi mà kinh tế thị trường dường như duy  
trì tốt vị trí là mô hình kinh tế thống trị toàn cầu trong tương lai có thể  
dự đoán, và với lượng FDI đã tăng gấp đôi, thì các quy định về bảo hộ tài  
sản chí ít sẽ được bổ sung ở các vấn đề như: tiếp cận thị trường, đối xử  
quốc gia, tước quyền sở hữu, không tuân thủ quy định về quản trị tốt, ...  
FDI thuộc diện được bảo hộ theo luật tập quán quốc tế và theo rất nhiều  
trong số 3.500 IIA, thường là dựa trên các hiệp định mẫu giống nhau.  
Law’, Global Bus. & Devel. L.J. 337, 338 (2007) (trong đó ghi nhận tương tự rằng:‘Các hiệp định  
đem lại cho các nhà đầu tư nước ngoài các quyền kinh tế, bao gồm quyền kiện ra trọng tài  
để giải quyết tranh chấp, nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, mà đầu tư trực tiếp nước  
ngoài được cho là giúp các quốc gia ... ổn định kinh tế’).  
30  
Campbell McLachlan, Laurence Shore & Matthew Weiniger, International Investment  
Arbitration: Substantive Principles 219 (2008); Juyrgen Kurtz, ‘NGOs, the Internet and  
International Economic Policy Making: the Failure of the OECD Multilateral Agreement on  
Investment’, 3 Melb. J. Int'l L. 213, 225-26 (2002) (giải thích về vai trò của các NGO trong việc  
rời bỏ MAI); Nii LanteWallace-Bruce,‘The Multilateral Agreement on Investment: An Indecent  
Proposal and Not Learning the Lessons of History’, 2 J. World Investment 53 (2001) (mô tả quá  
trình rời bỏ MAI); Andrew Walter, ‘Unravelling the Faustian Bargain: Non-state Actors and  
the Multilateral Agreement on Investment’, trong Non-state Actors in World Politics 150-68  
(Daphne Josselin & William Wallace eds., 2001).  
BIT là những hiệp định quốc tế quy định các điều khoản và điều  
kiện đối với các khoản đầu tư tư nhân của công dân và các công ty của  
một quốc gia này tại một quốc gia khác.29  
28  
Homayoun Mafi, ‘Controversial Issues of Compensation in Cases of Expropriation and  
Nationalization: Awards of the Iran-United States Claims Tribunal’, 18 Int'l J. Humanities 83-85  
31  
(2011).  
Eric Neumayer, ‘Multilateral Agreement on Investment: Lessons for the WTO from the Failed  
29  
Susan D. Franck, ‘Foreign Direct Investment, Investment Treaty Arbitration and the Rule of  
OECD Negotiatons’, 46 Wirtschaftspolitische Bl tter 618 (1999).  
418  
419  
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
tranh luận công khai bắt đầu nổ ra căng thẳng tại các quốc gia OECD  
như Canada, Hoa Kỳ và Australia về tác động của MAI đối với các quốc  
gia thành viên nói chung, và đối với môi trường, quyền lao động và bảo  
hộ văn hóa nói riêng. Các nhà hoạt động Canada dẫn đầu trong việc  
yêu cầu đưa các cuộc đàm phán MAI ra công chúng để xem xét. Tháng  
01/1997, khi không có bất kỳ bản dự thảo nào được công bố công khai,  
các nhà hoạt động Canada đã có được một bản bí mật, và bắt đầu gửi  
đến các nhóm có tư tưởng giống họ, và Internet được sử dụng như một  
công cụ truyền thông hữu hiệu. Tháng 4/1997, vấn đề MAI bắt đầu xuất  
hiện trên các tờ báo lớn, và các chính phủ bị đặt vào tình thế phải biện  
hộ để chứng minh cho vị thế đàm phán của mình trước công chúng.  
Một số nhóm này thậm chí đã thách thức, tuy không thành công, FTA  
Canada - Hoa Kỳ, cũng như NAFTA, thông thường thông qua việc phóng  
đại quá mức và khiếu kiện giả định về thiệt hại có thể phải gánh chịu  
từ các hiệp định này đối với nước tham gia. Với MAI, cách tiếp cận của  
họ được cho là khôn ngoan hơn và thận trọng hơn. Họ kết hợp việc chỉ  
trính chung chung hơn đối với toàn cầu hóa xoay quanh động cơ là lợi  
ích doanh nghiệp, với việc phân tích rất hợp tình hợp lý các quy định cụ  
thể của dự thảo MAI, hoặc những gì mà dự thảo MAI không quy định,  
cũng như chỉ trích cách thức tiến hành đàm phán. Mặc dù nhiều nhóm  
có vị thế khác nhau và chồng chéo nhau, nhưng sức mạnh của cuộc  
công kích toàn diện đã được Tony Clarke và Maude Barlow mô tả cụ thể  
như sau:  
quy định về ngoại lệ môi trường, y tế hay an ninh, ngay cả khi ở mức độ  
ngang bằng với những quy định tương tự trong GATT 1947, khiến người  
ta cho rằng Hiệp định chỉ quy định về những lợi ích tư bản.32  
Họ cũng đối mặt với sự phản đối mạnh mẽ của công chúng từ các  
tổ chức phi chính phủ (‘NGO’) dưới hình thức phong trào phản đối toàn  
cầu hóa bắt đầu được hình thành, để phản đối cái được cho là mất đi  
chủ quyền kinh tế và sự đặc sắc văn hóa. Sau khi Pháp rút khỏi các cuộc  
thương lượng MAI vào năm 1998 do lo ngại sẽ bị mất tự do văn hóa, dự  
án đã bị hoãn lại. Khi thiết kế dự án, người ta đã không rút kinh nghiệm  
từ những bài học và những hạn chế của quá trình tự do hóa đang được  
thực hiện, cũng như các quy định được đưa vào GATT và GATS một cách  
thành công.  
Sau này, người ta có thể nhận ra ba thế hệ các IIA theo các tình  
tiết được cách điệu hóa của ‘hệ thống’đầu tư quốc tế, bao gồm:  
Thứ nhất: Các BIT‘thế hệ đầu’tập trung vào bảo hộ các nhà đầu tư  
nước ngoài, mặc dù có duy trì một số bảo lưu quan trọng đối với một vài  
bảo đảm chủ chốt cho đầu tư nước ngoài, như NT, các biện pháp chống  
tước quyền sở hữu một cách bất hợp pháp, và tiếp cận trọng tài quốc tế.  
Thứ hai: Các hiệp định đầu tư quốc tế ‘thế hệ thứ hai’ - đại diện là  
đa số các BIT cũng như quy định về chế tài trong đầu tư được đưa vào  
một số FTA, trong đó quy định các nghĩa vụ có phạm vi rộng hơn và có  
tính nội dung hơn về chế độ đối xử với đầu tư nước ngoài. Đối xử quốc  
gia sau đầu tư, mặc dù có một số bảo lưu theo lĩnh vực trong một số  
trường hợp, và không có hạn chế đáng kể nào đối với khả năng của các  
nhà đầu tư nước ngoài trong việc đưa các biện pháp của nước tiếp nhận  
đầu tư ra xét xử tại trọng tài quốc tế, được coi là chuẩn mực trong lĩnh  
vực này.  
Chúng tôi không muốn để lại ấn tượng rằng chúng tôi phản đối  
ý tưởng về hiệp định đầu tư toàn cầu. Chúng tôi nhận thức rõ  
ràng rằng các dòng đầu tư xuyên quốc gia đã và đang gia tăng  
nhanh chóng và cần phải thiết lập một số quy tắc toàn cầu. Tuy  
nhiên, cơ sở cho việc soạn thảo các dự thảo MAI, theo quan điểm  
của chúng tôi, có rất nhiều khúc mắc và mang tính một chiều. Nó  
mở rộng quyền và quyền lực của các công ty xuyên quốc gia mà  
không hề đặt ra bất kỳ nghĩa vụ tương ứng nào. Thay vào đó, dự  
thảo hiệp định lại quy định nghĩa vụ cho chính các chính phủ …  
trong khi MAI không có quy định về các nguyên tắc mà các công  
ty xuyên quốc gia phải tuân thủ để tôn trọng các quyền kinh tế,  
xã hội, văn hóa và môi trường của công dân.  
Rất nhiều Hội đồng xét xử đầu tư đã không xem xét các tiêu  
chuẩn không rõ ràng được quy định trong một số IIA. Thí dụ: Phán quyết  
về trách nhiệm trong các vụ Suez, Barcelona and Interagua v. Argentina và  
AWG v. Argentina nêu rằng:  
a) Đây là một tiêu chuẩn không được xác định rõ ràng và khó hiểu,  
và phạm vi lại không được quy định trong các BIT;  
Sự bí mật bao trùm các cuộc đàm phán và cách các Bộ Ngoại  
giao hành động một cách bí ẩn như thường lệ khi được hỏi ngay từ đầu  
về quá trình đàm phán, đã khiến cho người ta có ấn tượng ngay lập  
tức rằng toàn bộ cam kết đó đều là bí mật. Việc dự thảo MAI không có  
b) Đây là tiêu chuẩn được sử dụng rộng rãi trong hàng trăm BIT trên  
phạm vi toàn cầu;  
32  
Michael Trebilcock & Robert Howse, The Regulation of International Trade (tái bản lần thứ 3,  
Nxb. Routledge) đoạn 458-60.  
420  
421  
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
c) Các điều khoản xác định tiêu chuẩn có tính linh hoạt và áp dụng  
cho mọi loại đầu tư và đầu tư mạo hiểm;  
Dấu hiệu nhận biết của rất nhiều BIT là các BIT này cho phép sử  
dụng cơ chế giải quyết tranh chấp (thay thế) ngoài tòa án, theo đó một  
nhà đầu tư có quyền theo BIT, nếu bị vi phạm, có thể kiện ra trọng tài  
quốc tế,35 mà thường là tại ICSID (Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu  
tư quốc tế), chứ không kiện ra tòa án nước tiếp nhận đầu tư.  
d) Đây là một tiêu chuẩn thực tế, vì nó được thực hiện trên cơ sở  
kết nối chặt chẽ với các tình tiết cụ thể của mỗi vụ việc, sao cho  
phán xét được đưa ra về việc: cái gì được là công bằng và hợp lý  
thì không thể được xây dựng một cách trừu tượng, mà phải dựa  
vào các tình tiết cụ thể của vụ việc;  
Giải quyết tranh chấp bởi bên thứ ba là một yếu tố cấu thành chủ  
chốt của các BIT.  
e) Việc được sử dụng rộng rãi trong các BIT, tính tổng quan và linh  
hoạt của tiêu chuẩn đó cho thấy: đây là một tiêu chuẩn được các  
quốc gia ký kết hiệp định xây dựng như là tiêu chuẩn cơ bản về  
đối xử, mà các quốc gia có nghĩa vụ phải trao cho các khoản đầu  
tư nước ngoài của nước kia như được bảo hộ theo các BIT.33  
... [Đây] là cơ chế cam kết theo đó giải quyết một vấn đề bất đồng  
cho các quốc gia. Phương thức này cho phép quốc gia tiếp nhận  
đầu tư ký kết một hợp đồng mà không sợ chính phủ tương lai sẽ  
tước quyền sở hữu, can thiệp vào tòa án trong nước, hoặc bằng  
cách khác sẽ rút lại những hứa hẹn được quy định trong BIT. Bất  
kể mức độ tin tưởng giữa các bên vào thời điểm đầu tư như thế  
nào, nhà đầu tư sẽ lo ngại rằng chính phủ tương lai có thể phá vơ  
lời hứa của chính phủ hiện tại. Hơn nữa, nhà đầu tư không thể tin  
tưởng rằng các chính phủ tương lai sẽ không can thiệp vào tòa  
án trong nước. Bảo đảm rằng trọng tài quốc tế ... luôn sẵn sàng  
xét xử các tranh chấp đầu tư, sẽ giúp chính phủ nước tiếp nhận  
đầu tư đưa ra một cam kết đáng tin cậy rằng chính phủ sẽ không  
thể can thiệp.’36  
Về một vấn đề khác, trong vụ AIG Capital v. Kazakhstan Award cho  
thấy: không có một từ, cụm từ hay khái niệm được chấp nhận trên toàn  
cầu để mô tả tiêu chuẩn ‘bồi thường thỏa đáng’ để áp dụng theo luật  
quốc tế và kết luận rằng, mặc dù có nhiều thuật ngữ không rõ ràng và  
không xác định, nhưng ngày càng có nhiều người nhất trí về một tiêu  
chuẩn bồi thường sát hơn với ‘giá thị trường hợp lý’ của một tài sản bị  
trưng thu.34  
Thứ ba: Các hiệp định đầu tư ‘thế hệ thứ ba’: Đây là các BIT mẫu  
gần đây và các chương về đầu tư của ngày càng nhiều các FTA. Các hiệp  
định này duy trì các tiêu chuẩn cao về bảo hộ đối với các khoản đầu tư  
đã được công nhận trong các hiệp định ‘thế hệ thứ hai’, trong khi các  
hiệp định này mong muốn mở ra các cơ hội đầu tư mới trong các thị  
trường nước ngoài, thông qua chế độ đối xử quốc gia về quyền tham  
gia thị trường - phụ thuộc vào những loại trừ theo ngành dưới hình thức  
(danh mục) chọn cho (positive list) và chọn bỏ (negative list). Một điều  
thú vị là, các hiệp định đầu tư ‘thế hệ thứ ba’ cũng nhằm vào việc bảo  
đảm rằng các quyền trao cho các nhà đầu tư nước ngoài không nhấn  
chìm các quyền hạn của pháp luật trong nước trong lĩnh vực chính sách  
quan trọng khác. Có lẽ chẳng có gì ngạc nhiên khi đi đầu xu thế này là  
các quốc gia mà từ trước đến nay bị kiện ra trọng tài quốc tế nhiều nhất,  
như EU, Hoa Kỳ và Canada.  
Công ước về Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế  
(‘Công ước ICSID’) quy định một khuôn khổ đa phương cho việc giải  
quyết tranh chấp giữa các chính phủ và nhà đầu tư tư nhân.  
Xét ở tầm khu vực, Hiệp định NAFTA bảo hộ đầu tư trên diện rộng  
theo quy định của Chương 11,37 giống như các FTA khác.38 Ngoài các quy  
35  
Theo UNCTAD, trong hai thập kỷ vừa qua, đã ghi nhận trên 500 tranh chấp giữa nhà đầu tư  
và chính phủ được đưa ra trọng tài quốc tế để giải quyết. UNCTAD, Recent Developments in  
Investor-State Dispute Settlement (‘ISDS’),  
36  
Tom Ginsburg, ‘International Substitutes for Domestic Institutions: Bilateral Investment  
Treaties and Governance’, 25 Int'l Rev. L. & Econ. 107, 108 (2005) đoạn 113.  
Jamie Boyd, ‘Canada's Position Regarding An Emerging International Fresh Water Market  
37  
with Respect of NAFTA’, 2 NAFTA: Law and Bus. Rev. Americas, 3 (1999); Charles H. Brower,  
‘Investor-State Dispute Settlement under NAFTA: The Empire Strikes Back’, 40 Colum. J.  
Transnat'l L. 43 (2001).  
38  
Về đàm phán các chương về đầu tư trong các FTA giữa các quốc gia Mỹ La-tinh và Hoa  
Kỳ, xem Roberto Echandi, A New Generation of International Investment Agreements in the  
Americas: Impact of Investor-State Dispute Settlement over Investment Rule-Making, http://  
(truy cập lần cuối vào ngày 27/12/2014); Charles N. Brower, ‘NAFTA's Investment Chapter:  
Dynamic Laboratory, Failed Experiments, and Lessons for the FTAA’, 97 Am. Soc'y Int'l. L. Proc.  
251, 255-57 (2003).  
33  
Suez, Sociedad General de Aguas de Barcelona S.A. and Interagua Servicios Integrales de Agua  
S.A. v. Argentina, vụ kiện tại ICSID số ARB/03/17, Phán quyết về trách nhiệm, ngày 30/7/2010,  
đoạn 180-181.  
34  
AIG Capital Partners, Inc. and CJSC Tema Real Estate Company v. Kazakhstan, vụ kiện tại ICSID  
số ARB/01/6, Phán quyết ngày 07/10/2003, đoạn 12.1.1.  
422  
423  
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
định của WTO về hàng hóa, dịch vụ và tài sản trí tuệ,39 cho đến nay, vẫn  
chưa có một khung pháp lý đa phương toàn diện để điều chỉnh FDI, mặc  
dù đã có rất nhiều nỗ lực để làm điều này.40  
Điều đó cũng có nghĩa rằng hội đồng trọng tài đã được trao  
nhiệm vụ áp dụng các nguyên tắc của các hiệp định đầu tư trong các  
trường hợp cụ thể, một nhiệm vụ thường không đơn giản, do các điều  
khoản của các hiệp định này luôn rất rộng và đôi khi khó hiểu.  
Các quốc gia thực sự đã rất tích cực trong lĩnh vực này.41 Các IIA  
thay đổi theo thời gian, dẫn đến việc phát triển các thế hệ hiệp định. Về  
khía cạnh này, các cuộc đàm phán đều theo‘mẫu’mà một quốc gia hiện  
đang sử dụng. 42 Vào cuối năm 2017, trên 175 quốc gia đã cùng nhau ký  
kết một con số đáng kinh ngạc là 2.900 BIT. Bên cạnh đó, trên 250 FTA43  
đã thiết lập các khuôn khổ hợp tác đầu tư nhằm đẩy mạnh các quy tắc  
đầu tư trong tương lai hoặc các quy tắc đặc thù về nội dung cho lĩnh  
vực đầu tư, giống như các quy định tương tự trong các BIT. Do vậy, các  
quy tắc quốc tế về đầu tư dựa trên một hệ thống phức tạp và ngày càng  
nhiều các hiệp định song phương, khu vực và đa phương về đầu tư nước  
ngoài, mà đứng đầu là một hiệp định đa phương - Hiệp định chung về  
thương mại dịch vụ (‘GATS’), trong đó điều chỉnh cả về đầu tư quốc tế  
khi đầu tư vào các ngành dịch vụ.  
Hiện tượng tranh tụng đầu tư đã dẫn đến rất nhiều quyết định  
từ các hội đồng trọng tài khác nhau, đóng góp vào ‘hệ thống’ luật đầu  
tư bằng cách quy định ý nghĩa cho các quy định của mình - mà điều này  
cũng mang tính phân cấp. Diễn giải của trọng tài đối với các quy tắc đầu  
tư quốc tế từ trước tới nay không phải là không có tranh cãi, và tiếp theo  
dẫn đến việc một số quốc gia phản ứng bằng cách sửa đổi các hiệp định  
của mình theo những tiến triển mới đó, từ đó lại góp phần làm tiếp tục  
thay đổi bức tranh về việc xây dựng pháp luật về đầu tư.  
Sự thay đổi nhanh chóng của việc xây dựng pháp luật về đầu tư  
khiến cho các quốc gia đang phát triển và các quốc gia phát triển luôn  
quan tâm. Khi các quốc gia đang phát triển trở thành các quốc gia xuất  
khẩu vốn, thì các hiệp định đầu tư có thể được chứng minh là một công  
cụ hữu hiệu trong việc mở ra các cơ hội kinh doanh ở nước ngoài.  
3. Sự xuất hiện các tranh chấp đầu tư  
Vì các quốc gia phát triển tiếp nhận các công ty nước ngoài vào  
thị trường của mình, nên các quốc gia này cũng chịu sự ràng buộc của  
luật đầu tư quốc tế. Sự quan tâm của nhiều quốc gia dành cho các IIA đã  
tăng gấp đôi, khi họ là những quốc gia nhập khẩu vốn hoặc xuất khẩu  
vốn hàng đầu.  
Một loạt sự kiện khác đang góp phần vào việc phát triển‘hệ thống’phân  
cấp luật đầu tư quốc tế này. Trong thập kỷ trước, các tranh chấp đầu tư  
giữa các nhà đầu tư nước ngoài và chính phủ nước tiếp nhận đầu tư đã  
tăng theo cấp số nhân. Thí dụ: trong Phán quyết liên quan đến phản đối  
quyền tài phán trong vụ Quasar de Valors v. Russia, Hội đồng trọng tài  
cho rằng tiếp cận trọng tài quốc tế là một mong muốn thường xuyên và  
cơ bản để bảo hộ đầu tư, do vậy đây là một yếu tố có trọng lượng trong  
việc xem xét đối tượng và mục đích của BIT.44  
Làm thế nào để phản ánh đúng bản chất thay đổi nhanh chóng  
của hệ thống luật đầu tư quốc tế và thu được những lợi ích từ các IIA,  
trong khi phải bảo đảm năng lực quản lý trong nước nhằm duy trì nền  
kinh tế luôn tăng trưởng? Câu hỏi này vẫn luôn là một thách thức khó  
khăn cho tất cả các quốc gia.  
39  
Keith E. Maskus, ‘The Role of Intellectual Property Rights in Encouraging Foreign Direct  
Investment and Technology Transfer’, 9 Duke J. Comp. & Int'l L. 109, 109 (1998) (lấy Trung  
Quốc, Argentina và Mexico làm các thí dụ về các DC mở rộng phạm vi bảo hộ tài sản trí tuệ).  
40  
Jeswald W. Salacuse, ‘The Emerging Global Regime for Investment’, 51 Harv. Int'l L. J. 427, 439  
(2010).  
41  
UNCTAD, Bilateral Investment Treaties 1959-1999, UNCTAD/ITE/IIA/2 ngày 01/12/2000;  
UNCTAD, Bilateral Investment Treaties 1995-2006: Trends in Investment Rulemaking, 105-108,  
UNCTAD/ITE/IIT/2006/5 (ngày 01/02/2007).  
Mục 4. XÁC ĐỊNH PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH CỦA CÁC HIỆP ĐỊNH ĐẦU TƯ  
QUỐC TẾ  
42  
C. Congyan, ‘Change of the Structure of International Investment and the Development of  
Phạm vi áp dụng của các IIA được xác định bởi bốn yếu tố chính: (i)  
Phạm vi địa lý; (ii) Thời gian áp dụng; (iii) Chủ thể; và (iv) Đối tượng áp  
dụng. Nói một cách đơn giản, có thể xác định được phạm vi áp dụng  
của một IIA bằng cách trả lời bốn câu hỏi: đầu tư được thực hiện ở đâu?  
khi nào? bởi ai? Và quan trọng nhất, là loại hình đầu tư nào được bảo hộ  
theo IIA?  
Developing Countries' BIT Practice. Towards A Third Way of BIT Practice’, 8 J. World Inv. & Trade  
8, 29 (2007) (trong đó tổng kết rằng về cơ bản, có ba thế hệ IIA: (i) từ năm 1959 (khi BIT đầu  
tiên được ký kết giữa Đức và Pakistan) đến đầu những năm 1990; (ii) từ cuối những năm 1990  
đến những năm 2000; và (iii) từ cuối thập niên 2000 đến nay).  
43  
David A. Gantz, ‘The Evolution of FTA Investment Provisions: From NAFTA to the United  
States - Chile Free Trade Agreement’, 19 Am. U. Int'l L. Rev. 679, 715 (2003).  
44  
Vụ Quasar de Valors SICAV S.A. et al. (trước đây là Renta 4 S.V.S.A et al.) v. Russia, Vụ kiện tại SCC  
số 24/2007, Phán quyết liên quan đến phản đối quyền tài phán, ngày 20/3/2009, mục 100.  
424  
425  
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT  
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 197 trang yennguyen 35742 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật đầu tư quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_luat_dau_tu_quoc_te.pdf