Giáo trình Luật đầu tư quốc tế
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
GIÁO TRÌNH
LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Đồng chủ biên:
GS. TS. Claudio Dordi
Đại học Tổng hợp Bocconi, Italia
và
TS. Nguyễn Thanh Tâm
Trường Đại học Luật Hà Nội
HÀ NỘI - 2017
Giáo trình này được biên soạn với sự hỗ trợ tài chính của Liên minh châu Âu. Quan điểm
trong Giáo trình này là của các tác giả, do đó không thể hiện quan điểm chính thức của
Liên minh châu Âu hay Bộ Công Thương.
386
387
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
CÁC TÁC GIẢ
NGƯỜI BIÊN DỊCH
Julien Chaisse
Từ Chương 1 đến Chương 8 (viết
bằng tiếng Anh)
Nguyễn Văn Hiến, và
Các chương 1, 2, 3, 4, 5, 7
Nguyễn Thị Kim Thanh,
và
Chương 9 và Chương 12 (viết
bằng tiếng Anh và tiếng Việt)
Nguyễn Thanh Tâm
Trịnh Hải Yến
Trương Thị Thúy Bình
Chương 10 (viết bằng tiếng Anh
và tiếng Việt)
Chương 6
Chương 8
Ngô Ngọc Ánh, và
Tào Thị Huệ
Chương 11 (viết bằng tiếng Anh
và tiếng Việt)
Nguyễn Quỳnh Trang
Đỗ Thu Hương, và
Trần Phương Anh, và
Trần Thu Yến
388
389
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
LỜI GIỚI THIỆU
LỜI MỞ ĐẦU
Cơ chế điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài thường phải đáp
ứng hai mục tiêu. Một mặt, cần thu hút đầu tư nước ngoài như một nhân
tố quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia tiếp
nhận đầu tư. Mặt khác, chính sách và các nhà làm luật cần đảm bảo phát
triển kinh tế-xã hội một cách bền vững, nói cách khác, là không gây tác
động xấu lên những giá trị cơ bản như sức khỏe người tiêu dùng, môi
trường, quyền của người lao động, hay bất kỳ mục tiêu nào khác được
coi là quan trọng đối với cộng đồng mà quốc gia tiếp nhận đầu tư đã đặt
ra. Để đạt những mục tiêu này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính
sách đầu tư và chính sách phát triển quốc gia. Các quốc gia, đặc biệt là
các quốc gia đang trong quá trình tăng trưởng nhanh, nên tránh kiểu
cạnh tranh nhằm thu hút đầu tư thông qua chiến lược ‘chạy đua xuống
đáy’, nghĩa là giảm chi phí cho các nhà đầu tư nước ngoài bằng việc áp
dụng các quy định lỏng lẻo để bảo vệ các giá trị cơ bản của quốc gia
mình. Trên thực tế, các chỉ số chỉ ra rằng các nhà đầu tư thường quan
tâm tới các nước có cơ chế đầu tư dễ dự đoán và công bằng, hơn là các
nước có những ưu đãi thiếu bền vững. Trên thực tế, việc đầu tư vào các
quốc gia không tuân thủ những tiêu chuẩn cơ bản về môi trường hay xã
hội sẽ làm xấu đi danh tiếng của các nhà đầu tư trong mắt khách hàng.
Tuy nhiên, tính dễ dự đoán và công bằng của pháp luật đầu tư trong
nước lại phụ thuộc rất lớn vào yếu tố chính trị. Do vậy, nếu cơ chế pháp
luật đầu tư trong nước đặc biệt ưu tiên đầu tư nước ngoài, thì có thể bị
kiện, trong trường hợp định hướng lãnh đạo của quốc gia tiếp nhận đầu
tư thay đổi.
Giáo trình này là một trong những kết quả chính của những hỗ
trợ mà Dự án Hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của châu Âu (EU-
MUTRAP) do Liên minh châu Âu tài trợ dành cho các trường đại học ở
Việt Nam.
Nhiều học giả trong nước, quốc tế và các chuyên gia về luật đầu
tư đã góp phần xây dựng nội dung Giáo trình này. Trường Đại học Luật
Hà Nội, đặc biệt là Khoa Pháp luật thương mại quốc tế, đóng vai trò
chính trong việc hỗ trợ và rà soát nội dung chuyên môn của cuốn Giáo
trình. Các tác giả biên soạn Giáo trình này chủ yếu nhằm phục vụ cho
sinh viên luật, và cập nhật những thay đổi mới nhất trong Luật đầu tư
quốc tế, kể cả hệ thống tòa án đầu tư được thiết lập bởi các hiệp định
thương mại tự do (FTA) do EU ký kết. Đây là một ví dụ điển hình cho
những thách thức trong việc xây dựng cơ chế pháp lý cho việc ban hành
các quy định về đầu tư nước ngoài. Do vậy, cuốn Giáo trình này hy vọng
sẽ là một công cụ hữu ích cho sinh viên, cán bộ chính phủ và các luật gia
đang hàng ngày đối mặt với những thách thức trong môi trường quốc
tế đầy năng động. Việc Giáo trình được xuất bản bằng cả tiếng Anh và
tiếng Việt sẽ giúp các nhà làm luật và cơ quan tòa án trong việc thực
hiện chức năng lập pháp và xét xử của mình. Mặc dù tiếng Anh là ngôn
ngữ chủ yếu trong Luật đầu tư quốc tế, nhưng các cơ quan lập pháp Việt
Nam phải soạn thảo các văn bản pháp luật bằng tiếng Việt.
Bùi Huy Sơn
GS. Claudio Dordi
Lê Tiến Châu
Luật đầu tư quốc tế giúp các nhà đầu tư nước ngoài an tâm hơn
về sự ổn định của cơ chế pháp luật, kể cả khi định hướng lãnh đạo của
các quốc gia thay đổi, từ đó khuyến khích dòng đầu tư từ nước ngoài
vào trong nước. Trong luật quốc tế, các hiệp định đầu tư quốc tế (IIAs)
đã dần thay thế luật tập quán quốc tế bằng cách đưa ra các nguyên tắc
để nước tiếp nhận đầu tư phải tuân thủ trong các hoạt động xây dựng
pháp luật đầu tư nước ngoài.
Giám đốc
Trưởng nhóm tư vấn Dự án
Hiệu trưởng
Trường Đại học
Luật Hà Nội
Dự án EU-MUTRAP
EU-MUTRAP
GS. Luật quốc tế
Luật đầu tư quốc tế không còn là một lĩnh vực xa lạ ở Việt Nam -
vốn đã là thành viên của nhiều hiệp định đầu tư song phương (BIT). Kể
từ ngày 18 tháng 5 năm 1990 - ngày Việt Nam ký BIT đầu tiên (với Italia),
Việt Nam đã tham gia 65 BIT. Tuy nhiên, phần lớn các BIT này đã thuộc
nhóm BIT‘thế hệ cũ’, bởi lẽ từ đầu thế kỷ XXI đã xuất hiện các chính sách
và luật đầu tư ‘thế hệ mới’, được phát triển từ các tranh luận giữa các
học giả, các nhà hoạch định chính sách, các luật gia và doanh nhân về
Đại học Tổng hợp Bocconi -
Milan - Italia
390
391
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
những ranh giới và mâu thuẫn giữa nhu cầu thu hút đầu tư và sự cần
thiết phải đảm bảo tính bền vững.
9 đến Chương 12, do Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tâm, Tiến sĩ Trịnh Hải Yến và
Thạc sĩ Nguyễn Quỳnh Trang biên soạn. Sau khi giới thiệu về hợp đồng
giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước (Chương 9), Luật đầu tư quốc
tế được phân tích dưới góc nhìn của Việt Nam. Phần này bao gồm bức
tranh chi tiết về các hiệp định đầu tư mà Việt Nam đã ký kết (Chương
10), và phân tích về pháp luật Việt Nam áp dụng cho quan hệ đầu tư
nước ngoài (Chương 11). Chương cuối cùng - Chương 12 - tập trung vào
khuôn khổ pháp luật của Việt Nam trong giải quyết tranh chấp đầu tư
quốc tế. Bên cạnh các văn bản pháp luật liên quan, Phần 4 cũng cung
cấp một cái nhìn tổng quan về các cơ quan, tổ chức và các cơ quan nhà
nước chịu trách nhiệm thực thi pháp luật Việt Nam về đầu tư quốc tế.
Đặc biệt, sự quan tâm và thảo luận về các thủ tục (cụ thể là trong
lĩnh vực đầu tư) nhằm giải quyết tranh chấp đầu tư (gọi là ISDS - Cơ chế
giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và Nhà nước), trước đây thường bị
giới hạn trong khuôn khổ học thuật và ngoại giao, nay đã thu hút sự chú
ý của nhiều nhóm đối tượng mới. Trong một vài trường hợp, thậm chí
giới truyền thông đại chúng cũng đã đưa tin liên quan đến những tranh
luận về cơ hội đưa cơ chế ISDS vào các IIA.
Sự quan tâm ngày càng lớn đối với luật đầu tư quốc tế cũng xuất
phát từ sự quan tâm của các chính phủ và một bộ phận dân chúng, sau
khi các tập đoàn đa quốc gia lớn khởi kiện bằng cơ chế ISDS, nhằm phản
đối các quy định pháp luật mới mà nước tiếp nhận đầu tư đưa ra vì mục
tiêu thúc đẩy đầu tư bền vững, nhưng làm tăng chi phí và thiệt hại cho
nhà đầu tư nước ngoài. Ở cấp độ hoạch định chính sách, các cuộc tranh
luận tập trung vào những khó khăn trong việc thiết lập giới hạn phạm vi
hành động của Chính phủ nhằm bảo hộ đầu tư bền vững (ví dụ, thông
qua pháp luật bảo vệ môi trường hoặc sức khỏe người tiêu dùng), đồng
thời đảm bảo quyền của nhà đầu tư nước ngoài.
Tôi tin tưởng chắc chắn rằng cuốn Giáo trình sẽ trở thành một tài
liệu học thuật và nguồn tham khảo quý giá cho những ai quan tâm tới
Luật đầu tư quốc tế. Tôi hy vọng rằng Giáo trình này cũng sẽ được đón
nhận như những cuốn sách khác mà Dự án EU-MUTRAP đã hỗ trợ về tài
chính và chuyên môn, với sự hợp tác và giám sát chuyên môn của Khoa
Pháp luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, như cuốn
Giáo trình Luật thương mại quốc tế song ngữ - đã được đón nhận rộng
rãi tại nhiều trường đại học ở Việt Nam trong những năm qua.
Giới học giả đều biết rằng, với mỗi một môn học giảng dạy tại
trường đại học đều có một cuốn sách làm nền tảng trụ cột, để từ đó xây
dựng các kiến thức cụ thể liên quan. Tôi hy vọng rằng, trong một vài
năm tới, các cựu sinh viên sẽ vẫn nhớ tới ‘Giáo trình Luật đầu tư quốc tế
của Dự án EU-MUTRAP và HLU’ như một công cụ quan trọng trên con
đường học vấn của mình.
Các IIA ‘thế hệ mới’ phần nào thể hiện những tranh luận này. Ví
dụ, chương đầu tư trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) của EU
thời gian gần đây đặc biệt nhấn mạnh nhu cầu đảm bảo đầu tư bền
vững, mở rộng quyền tùy ý quyết định của nước tiếp nhận đầu tư trong
việc áp dụng các quy định bảo vệ các giá trị cơ bản của quốc gia. Thậm
chí Hệ thống tòa án đầu tư, được thiết lập trong các FTA ‘thế hệ mới’
của EU, cũng đáp ứng nhu cầu đảm bảo tuân thủ quy trình giải quyết
tranh chấp đầu tư với các quy tắc đạo đức do các hiệp hội, tổ chức nghề
nghiệp xây dựng. Với việc tham gia vào một số FTA‘thế hệ mới’, Việt Nam
là một trong những bên liên quan quan trọng đang nổi lên của Luật đầu
tư quốc tế.
Tái bút: Tôi viết Lời mở đầu của Giáo trình này vào những ngày
hoạt động cuối cùng của Dự án EU-MUTRAP, cũng là những ngày làm
việc cuối cùng của tôi ở Việt Nam. Sau 12 năm hoạt động tích cực (kể
từ ngày 19 tháng 5 năm 2005), tôi muốn nói lời cảm ơn tới tất cả những
người Việt Nam đã cùng tôi làm việc, đặc biệt là những đồng nghiệp tại
Ban quản lý Dự án EU-MUTRAP, hơn 1.000 chuyên gia, các đồng nghiệp
tại các trường đại học, các bạn sinh viên đã tham dự các giờ giảng của
tôi, và những người bạn từ các cơ quan chính phủ và các ban ngành
khác. Tôi đã học được rất nhiều điều từ tất cả các bạn.
Vì vậy, một cuốn Giáo trình song ngữ về Luật đầu tư quốc tế sẽ
đáp ứng những nhu cầu mới này. Phần 1 và Phần 2 của Giáo trình, bao
gồm các chương từ Chương 1 đến Chương 8, do Giáo sư Julien Chaisse
biên soạn, tập trung vào sự tiến triến của các nguyên tắc chung của
Luật đầu tư quốc tế. Giáo trình đã áp dụng các phương pháp luận hiện
đại trong việc phân tích toàn diện những nguyên tắc liên quan của Luật
đầu tư quốc tế. Ở đầu mỗi chương, tác giả chỉ rõ mục tiêu học thuật. Tại
cuối chương, tác giả đưa ra các câu hỏi thảo luận cho các đối tượng liên
quan như sinh viên, luật sư, cán bộ chính phủ, thẩm phán và nhà nghiên
cứu. Phần 3 và Phần 4 của Giáo trình, bao gồm các chương từ Chương
Đồng chủ biên:
Giáo sư Claudio Dordi
Trưởng nhóm Chuyên gia tư vấn quốc tế Dự án EU-MUTRAP
Giáo sư Luật Quốc tế
Đại học Tổng hợp Bocconi - Milan - Italia
392
393
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
AA
Đạo luật Hòa hảo (Accord Acts)
Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN
Phương thức giải quyết tranh chấp thay thế
Hiệp định khung ASEAN về thương mại dịch vụ
Khu vực thương mại tự do ASEAN
Khu vực đầu tư ASEAN
GATT
GPA
HĐ
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại của WTO
Hiệp định về mua sắm chính phủ của WTO
Hợp đồng
ACIA
ADR
AFAS
AFTA
AIA
HKIAC
ICC
Trung tâm trọng tài quốc tế ở Hong Kong
Phòng thương mại quốc tế
ICDR
ICJ
Trung tâm giải quyết tranh chấp quốc tế
ASEAN
BIS
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Ngân hàng thanh toán quốc tế
Toà án công lý quốc tế (Toà án quốc tế ở La Hay, thuộc hệ
thống Liên hợp quốc)
Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế
ICSID
IEG
BIT
Hiệp định đầu tư song phương
Nhóm chuyên gia về đầu tư
CAFTA
CHDCND
CEPEA
CIL
Hiệp định thương mại tự do Hoa Kỳ - Canada
Cộng hòa dân chủ nhân dân
IFC
Tập đoàn tài chính quốc tế (một trong các cơ quan thuộc
Nhóm Ngân hàng thế giới (WB))
Hiệp định đầu tư quốc tế
Quan hệ đối tác kinh tế toàn diện Đông Á
Luật tập quán quốc tế
IIA
IGA
Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư ASEAN
Quỹ tiền tệ quốc tế
DCs
Các nước đang phát triển
IMF
DSB
Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO
IPAP
IPR
Kế hoạch hành động xúc tiến đầu tư
Quyền sở hữu trí tuệ
DSU
Hiệp định về quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh
chấp của WTO
Hiệp định tránh đánh thuế hai lần
IOSCO
ISDS
Tổ chức Chứng khoán Quốc tế
DTA
Giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Chính
phủ nước tiếp nhận đầu tư
Toà án trọng tài quốc tế London
EC
Cộng đồng châu Âu
ECOSOC
E&T
Hội đồng Kinh tế và Xã hội của Liên hợp quốc
Giáo dục và đào tạo
LCIA
LDCs
MAI
Các nước kém phát triển
EU
Liên minh châu Âu
Hiệp định đầu tư đa phương
Thị trường chung Nam Mỹ
Tối huệ quốc
EU-MUTRAP
Dự án hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của Liên minh
châu Âu
Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam
MERCOSUR
MFN
EVFTA
FET
MUTRAP
NAFTA
NGOs
NT
Dự án hỗ trợ thương mại đa biên EU-Việt Nam do EU tài trợ
Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ
Các tổ chức phi chính phủ
Đối xử quốc gia
Đối xử công bằng và thỏa đáng
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI
FIPA
FPI
Hiệp định khuyến khích đầu tư nước ngoài
Đầu tư gián tiếp nước ngoài
OECD
PCA
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
Tòa trọng tài thường trực
FPS
Bảo vệ và an ninh đầy đủ
FTAs
GATS
Hiệp định thương mại tự do
PCIJ
Tòa thường trực quốc tế
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO
PPP
Hợp đồng đối tác công-tư
394
395
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
PSA
PTA
Hợp đồng phân chia sản phẩm
Hiệp định thương mại ưu đãi
Quốc tế
MỤC LỤC
QT
Các tác giả
388
389
390
391
394
RTA
Các hiệp định thương mại khu vực
Nghiên cứu và phát triển
Người biên dịch
Lời giới thiệu
R&D
SWFs
SIAC
TIFA
TPP
Các quỹ đầu tư quốc gia
Lời mở đầu
Trung tâm trọng tài quốc tế Singapore
Hiệp định khung về thương mại và đầu tư
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
Danh mục những từ viết tắt
PHẦN MỘT: GIỚI THIỆU
401
TRIMs
Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương
mại của WTO
Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại
của WTO
Chương 1. Khái quát về đầu tư quốc tế và Luật đầu tư quốc tế 403
TRIPS
Mục 1. Khái niệm‘đầu tư’trong các hiệp định đầu tư quốc tế
Mục 2. Toàn cầu hóa và đầu tư quốc tế
405
409
414
UAE
Các Tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất
UN
Liên hợp quốc
Mục 3. Lịch sử phát triển của Luật đầu tư quốc tế
UNCITRAL
UNCTAD
UNIDROIT
USSFTA
VCLT
Uỷ ban của Liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế
Hội nghị Thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc
Viện quốc tế về thống nhất luật tư
Hiệp định thương mại tự do Hoa Kỳ - Singapore
Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế
Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
Ngân hàng Thế giới
Mục 4. Xác định phạm vi điều chỉnh của các hiệp định đầu tư
quốc tế
425
Mục 5. Nguồn Luật đầu tư quốc tế
Tóm tắt Chương 1
445
642
464
466
Câu hỏi/Bài tập
VIAC
Tài liệu cần đọc
WB
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
PHẦN HAI: CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT ĐẦU TƯ
QUỐC TẾ
469
Chương 2. Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN)
Mục 1. Khái niệm và phạm vi của nguyên tắc MFN
Mục 2. Nghĩa vụ MFN và các quyền trước đầu tư
Mục 3. Tiêu chuẩn về so sánh giữa các nhà đầu tư
Mục 4. MFN và giải quyết tranh chấp
Tóm tắt Chương 2
472
474
477
479
482
491
492
492
Câu hỏi/Bài tập
Tài liệu cần đọc
396
397
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Chương 3. Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT)
Mục 1. Khái niệm và phạm vi của nguyên tắc NT
Mục 2. NT và các quyền trước khi đầu tư
Mục 3. NT và các quyền sau khi đầu tư
Mục 4. Xem xét ý định/động cơ
Tóm tắt Chương 3
495
497
497
499
500
502
503
504
Câu hỏi/Bài tập
Tài liệu cần đọc
566
567
Chương 7. Các nguyên tắc khác của Luật đầu tư quốc tế
Mục 1.‘Điều khoản bao trùm’(‘Umbrella Clause’)
Mục 2. Các nguyên tắc khác
Tóm tắt Chương 7
571
573
600
605
605
606
Câu hỏi/Bài tập
Tài liệu cần đọc
Câu hỏi/Bài tập
Tài liệu cần đọc
Chương 4. Nguyên tắc đối xử công bằng và thỏa đáng (FET)
và nguyên tắc bảo vệ và an ninh đầy đủ (FPS)
505
Chương 8. Ngoại lệ của các nguyên tắc của Luật đầu tư quốc tế 609
Mục 1. Khái niệm, phạm vi và áp dụng nguyên tắc FET
Mục 2. Khái niệm, phạm vi và áp dụng nguyên tắc FPS
Tóm tắt Chương 4
Câu hỏi/Bài tập
Tài liệu cần đọc
507
515
519
521
522
Mục 1. Các ngoại lệ chung
614
624
629
631
633
640
641
641
Mục 2. Các ngoại lệ cụ thể của quốc gia
Mục 3. Các trường hợp ngoại lệ theo luật tập quán quốc tế
Mục 4. Ngoại lệ liên quan đến an ninh quốc gia
Mục 5. Ngoại lệ liên quan đến thuế
Tóm tắt Chương 8
Chương 5. Nguyên tắc bảo đảm cho nhà đầu tư nước ngoài
không bị tước quyền sở hữu một cách bất hợp pháp
525
Mục 1. Khái niệm và các hình thức tước quyền sở hữu
(‘Expropriation’)
527
533
540
Câu hỏi/Bài tập
Tài liệu cần đọc
Mục 2. Tước quyền sở hữu gián tiếp
Mục 3. Các điều kiện để hành vi tước quyền sở hữu được coi là
hợp pháp
PHẦN BA: HỢP ĐỒNG GIỮA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC TIẾP NHẬN ĐẦU TƯ
645
Tóm tắt Chương 5
Câu hỏi/Bài tập
Tài liệu cần đọc
541
543
544
Chương 9. Hợp đồng giữa nhà đầu tư nước ngoài và chính
phủ nước tiếp nhận đầu tư
Mục 1. Khái niệm
646
648
650
654
669
673
Mục 2. Một số loại hợp đồng cụ thể
Mục 3. Một số loại điều khoản quan trọng trong hợp đồng
Mục 4. Kiện do vi phạm hợp đồng
Tóm tắt Chương 9
Chương 6. Nguyên tắc bảo đảm cơ chế giải quyết tranh
chấp đầu tư quốc tế (ISDS)
545
Mục 1. Khái quát về giải quyết tranh chấp quốc tế
Mục 2. Giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế
Tóm tắt Chương 6
547
553
564
398
399
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Câu hỏi/Bài tập
Tài liệu cần đọc
673
673
677
PHẦN BỐN: VIỆT NAM VÀ LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Chương 10. Các cam kết đầu tư quốc tế của Việt Nam
678
Mục 1. Các cam kết của Việt Nam trong WTO
Mục 2. Các cam kết của Việt Nam trong ASEAN
Mục 3. Các cam kết của Việt Nam trong một số FTA
Mục 4. Các cam kết của Việt Nam trong một số BIT
Tóm tắt Chương 10
680
685
700
702
706
706
707
Câu hỏi/Bài tập
Tài liệu cần đọc
Chương 11. Pháp luật điều chỉnh quan hệ đầu tư quốc tế
của Việt Nam
PHẦN MỘT
709
Mục 1. Khuôn khổ pháp lý
Mục 2. Nội dung cơ bản
Tóm tắt Chương 11
Câu hỏi/Bài tập
712
715
739
740
741
Tài liệu cần đọc
Chương 12. Giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (ISDS) của
Việt Nam
743
Mục 1. Quy trình điều phối hoạt động ISDS của Việt Nam
Mục 2. Thực tiễn ISDS của Việt Nam
Tóm tắt Chương 12
745
751
762
763
763
765
Câu hỏi/Bài tập
Tài liệu cần đọc
Tài liệu tham khảo chủ yếu
400
401
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
PHẦN 1. GIỚI THIỆU
GIỚI THIỆU
Pháp luật đầu tư quốc tế là lĩnh vực đáng được nghiên cứu một cách
nghiêm túc từ góc độ chính sách công và tư nhân. Giáo trình này sử
dụng thuật ngữ Hiệp định đầu tư song phương (‘BIT’) để chỉ các văn bản
pháp luật quốc tế có mục đích chính là khuyến khích và bảo hộ đầu tư
nước ngoài giữa hai nước. Thí dụ: các ‘Hiệp định đầu tư song phương’,
các ‘Hiệp định khuyến khích đầu tư nước ngoài’, các ‘Hiệp định khuyến
khích và bảo hộ đầu tư’. Còn đối với tất cả các hiệp định song phương,
khu vực hoặc đa phương nhằm mục tiêu tự do hóa trên cơ sở ưu đãi các
dòng đầu tư đi cùng với thương mại hàng hoá và dịch vụ, trong đó quy
định các quy tắc áp dụng cho những lĩnh vực khác như sở hữu trí tuệ,
cạnh tranh, và di chuyển của thể nhân, thì Giáo trình gọi chung là các
‘Hiệp định thương mại tự do’(‘FTA’). BIT và FTA đi kèm với các nguyên tắc
đầu tư đều có thể được gọi chung là các hiệp định đầu tư quốc tế (‘IIA’).
Bên cạnh đó, khái niệm ‘quốc gia’ được Giáo trình sử dụng với phạm vi
rất rộng, bao gồm một thực thể địa lý có danh tính quốc tế và có khả
năng thực hiện một chính sách kinh tế đối ngoại độc lập. Việc sử dụng
các địa danh không thể hiện bất cứ quan điểm nào về tư cách pháp lý
của bất cứ quốc gia hay vùng lãnh thổ nào.
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT
Ở khía cạnh này, một số vấn đề có ý nghĩa quan trọng khi mà
luật đầu tư quốc tế không chỉ là luật quốc tế về đầu tư nước ngoài, mà
còn là luật điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế, phát triển kinh tế, các thể
chế kinh tế và hội nhập kinh tế khu vực. Ngoài ra, luật đầu tư quốc tế
còn quy định cả về phương thức hành xử của các quốc gia có chủ quyền
trong quan hệ kinh tế quốc tế, và của các bên tư nhân khi tham gia các
giao dịch kinh doanh và kinh tế xuyên biên giới. Chính sách, pháp luật
trong nước, khu vực và quốc tế cũng như thông lệ, tập quán quốc tế là
toàn bộ các khía cạnh của luật đầu tư quốc tế.
402
403
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Sau khi phác họa được khái niệm‘đầu tư’trong các IIA hiện hành tại Mục
1, Mục 2 của Chương này sẽ giải quyết mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và
đầu tư quốc tế. Mục 3 sẽ bàn về lịch sử phát triển của Luật đầu tư quốc
tế. Mục 4 tập trung xác định phạm vi điều chỉnh của các IIA. Cuối cùng,
Mục 5 sẽ mô tả các nguồn của Luật đầu tư quốc tế.
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT
VỀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ VÀ LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Mục đích học
Chương 1
Mục 1. KHÁI NIỆM‘ĐẦU TƯ’TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
•
•
Trình bày bối cảnh lịch sử của Luật đầu tư quốc tế hiện nay, trong
đó có vấn đề bảo hộ ngoại giao;
Khái niệm ‘đầu tư’ không phải là một định nghĩa được chấp nhận rộng
rãi mà nó thay đổi liên tục do sự ra đời và phát triển của các hình thức
đầu tư mới của các doanh nhân, các nhà tài phiệt và các công ty đa quốc
gia. Vì không có một định nghĩa được chấp nhận chung về đầu tư, nên
định nghĩa như thế nào khái niệm này trong các BIT có ý nghĩa hết sức
quan trọng.
Giới thiệu về luật tập quán quốc tế quy định về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại đối với ngoại kiều, là tiền thân của cơ chế bảo hộ
đầu tư trong các IIA hiện nay;
•
•
Tìm hiểu lý do tại sao các IIA hiện nay lại đóng vai trò quyết định
trong bảo hộ đầu tư;
Thông thường, các quốc gia đều cho rằng đầu tư quốc tế là việc
huy động một nguồn lực trong một khoảng thời gian nhất định để tạo
lợi nhuận trong tương lai. Trong khi đó, các định nghĩa pháp lý được sử
dụng trong các IIA thường có rất nhiều biến thể, khác nhau về cơ bản.
Những khác biệt này có thể được phân thành hai nhóm lớn, tùy thuộc
vào mục đích của IIA. Nhóm thứ nhất là các hiệp định có đối tượng là
việc dịch chuyển vốn và nguồn lực qua biên giới. Trong nhóm này, khái
niệm ‘đầu tư’ thường được định nghĩa rất hạn chế, trong đó nội dung
chính là cơ chế kiểm soát doanh nghiệp. Nhóm thứ hai gồm các IIA
hướng tới mục tiêu bảo hộ đầu tư, vì vậy các IIA này có xu hướng đưa ra
các định nghĩa rộng và khái quát hơn, dựa trên yếu tố tài sản, bao gồm
không chỉ các khoản vốn dịch chuyển qua biên giới, mà còn các loại tài
sản khác. Nhìn chung, các BIT chủ yếu tiếp cận theo nhóm thứ hai. Các
IIA gần đây nhất thường sử dụng một định nghĩa tương đối chuẩn mực
về FDI. Các hiệp định này bắt đầu xuất hiện từ những năm 1960, và kể từ
đó tới nay hầu như không thay đổi.
Trình bày về mối quan hệ căng thẳng giữa mục tiêu đảm bảo chủ
quyền, không bị kiểm sóat của quốc gia tiếp nhận đầu tư và mối
quan tâm của nhà đầu tư về việc được bảo đảm đầu tư và tính dễ
dự đoán của môi trường pháp lý trong thời gian đầu tư của mình;
•
•
•
Mô tả các loại rủi ro chính trị mà nhà đầu tư phải đối mặt, nhất là ở
các thị trường đang nổi;
Thảo luận các cách thức giúp các nhà đầu tư lường trước những
rủi ro của mình;
Giới thiệu khái niệm bảo hiểm rủi ro chính trị như một biện pháp
thay thế hoặc bổ sung cho các biện pháp bảo hộ và giải quyết
tranh chấp theo IIA;
•
Giới thiệu các nguồn của Luật đầu tư quốc tế.
Trong tất cả các định nghĩa về đầu tư, cụm từ được sử dụng nhiều
nhất là‘bất kỳ loại tài sản nào’.1 Định nghĩa này thường đi kèm một danh
mục tài sản. Vì một số lý do, danh mục các tài sản được bảo hộ trong một
BIT thường không cố định. Thứ nhất, ‘tác giả’ của các BIT đều phải thừa
nhận rằng rất khó để xây dựng một danh mục đầy đủ. Thứ hai, người ta
đã rất thận trọng khi để mở khái niệm ‘đầu tư’, để nó có thể áp dụng với
các hình thức đầu tư mới phát sinh sau này. Thêm nữa, một định nghĩa
khái quát sẽ giúp tránh được việc phải đàm phán lại BIT trong các tình
1
Lưu ý là trong các BIT của mình, Hoa Kỳ thường sử dụng cụm từ ‘bất cứ loại đầu tư nào’.
404
405
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
huống đó. Đối với nhiều BIT, đây là cách tiếp cận vừa mang tính tổng
hợp, vừa có ý nghĩa phân tích, có khả năng bao hàm mọi yếu tố đa dạng
có thể được coi là một khoản đầu tư. Do đó, còn một vấn đề khác nữa
mà nước tiếp nhận đầu tư cần xem xét, đó là liệu quốc gia đó có muốn
chấp nhận một định nghĩa mở về khái niệm đầu tư hay không? Vì nếu
làm như vậy, trong tương lai, nó sẽ bảo hộ được những hình thức đầu
tư mà các bên không có thoả thuận cụ thể nào ở thời điểm ký kết BIT.
Tình huống này đã được tính đến trong quá trình đàm phán MAI trong
khuôn khổ OECD, đặc biệt đối với các tài sản tài chính. Nhân dịp này,
người ta đã nhấn mạnh rằng có lý do chính đáng để đưa các hình thức
đó vào trong BIT, miễn là các khoản đầu tư được thực hiện để thiết lập
quan hệ kinh tế lâu dài với doanh nghiệp. Tương tự, các nước tiếp nhận
đầu tư có thể thấy không thích hợp, khi bảo hộ các quyền theo giấy
phép ở mức độ tương tự với các tài sản nước ngoài khác.
tư và tuân thủ các yêu cầu pháp lý, một quốc gia có thể đảm bảo rằng
chỉ có những khoản đầu tư được coi là hấp dẫn, đứng từ góc độ mục tiêu
phát triển, mới được bảo hộ.
Từ quan điểm này, các DC có thể tận dụng điều này bằng cách
xác định một loạt các ưu tiên và xây dựng các tiêu chí sẽ được tính đến,
khi xác định nên hay không nên bảo hộ một khoản đầu tư theo BIT. Tuy
nhiên, là một quốc gia có chủ quyền, nước tiếp nhận đầu tư có thể thay
đổi pháp luật và chính sách của mình, và những thay đổi này có thể ảnh
hưởng xấu tới sự ổn định của môi trường đầu tư. Vì vậy, nếu pháp luật
và chính sách thay đổi thường xuyên, thì có thể gây ảnh hưởng không
tốt cho uy tín của quốc gia.
Để được bảo hộ, thông thường, việc tiếp cận đầu tư phải tuân thủ
pháp luật của nước này. Tình huống này sẽ được thảo luận chi tiết hơn
trong phần quy định về tiếp cận đầu tư.
Trái lại, nếu định nghĩa quá hẹp, thì định nghĩa về đầu tư sẽ bỏ sót
những hình thức đầu tư mới mà nước tiếp nhận đầu tư muốn hướng tới
trong chiến lược phát triển của mình. Nói chung, mỗi quốc gia cần đánh
giá khả năng tác động của từng loại định nghĩa về đầu tư để theo đuổi
các chính sách của quốc gia.
Nội dung các BIT thường có một điều khoản để đảm bảo việc
thay đổi hình thức đầu tư vốn (thí dụ từ một khoản vay trở thành một
khoản nợ) sẽ không làm cho nó mất đi tính chất là một khoản đầu tư,
vì thế vẫn được bảo hộ theo BIT. Thí dụ: một số BIT quy định: ‘Bất cứ sự
thay đổi nào về hình thức đầu tư cũng không ảnh hưởng đến tính chất
đầu tư của nó’.
Các BIT thường sử dụng khái niệm ‘đầu tư’, là một khoản đầu tư
được thực hiện theo pháp luật của từng nước ký kết hiệp định. Thí dụ:
trong BIT giữa Malaysia và các Tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE),
theo Điều 1, định nghĩa đầu tư của Malaysia là ‘khoản đầu tư được chấp
thuận’. Còn đối với phía bên kia, đầu tư được định nghĩa là ‘các khoản
đầu tư được các cơ quan có thẩm quyền của UAE chấp thuận và phân
loại là đầu tư theo pháp luật và quy định của nước tiếp nhận đầu tư’.
Tuy nhiên, một số BIT còn ra điều kiện là việc thay đổi hình thức
đầu tư không được trái với nội dung phê duyệt ban đầu mà nước tiếp
nhận đầu tư đã đưa ra đối với khoản đầu tư đó. Vì thế, ngay trong Điều
1 của BIT giữa Cộng đồng Bỉ-Luxembourg và Cộng hòa Síp đã quy định:
(a) bất kỳ sự thay đổi nào về hình thức đầu tư tài sản đều không ảnh
hưởng đến tính chất đầu tư, với điều kiện là sự thay đổi đó không
trái với nội dung cho phép, nếu có, đối với tài sản được đầu tư
ban đầu.
Nhìn chung, pháp luật trong nước thường yêu việc chấp thuận
đầu tư, và việc chấp thuận sẽ được thực hiện với những điều kiện nhất
định. Khi điều kiện này được nêu trong định nghĩa, thì các khoản đầu
tư sẽ không được chấp thuận, nếu không tuân thủ pháp luật quốc gia,
hoặc nếu không đáp ứng các điều kiện do cơ quan có thẩm quyền quy
định, khi đó khoản đầu tư sẽ không được bảo hộ theo BIT, vì chúng
không được coi là khoản ‘đầu tư’ theo nghĩa của BIT này. Chính vì lý do
này, một số BIT quy định rất rõ rằng chúng sẽ chỉ áp dụng với những
khoản đầu tư được thực hiện theo pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư.
Mục đích của yêu cầu này là để đảm bảo không xảy ra tình trạng
lợi dụng tái đầu tư để tránh những hạn chế mà nước tiếp nhận đầu tư áp
đặt đối với khoản đầu tư ban đầu.
Một phiên bản khác của quy định này là phải chứng tỏ rằng hoạt
động tái đầu tư không được trái với pháp luật của nước tiếp nhận đầu
tư. Cụ thể:
Trên cơ sở các điều kiện kiểu này, một quốc gia có thể từ chối bảo
hộ theo BIT đối với những khoản đầu tư mà quốc gia đó cho là không
phù hợp. Do đó, khi xác định mối tương quan trực tiếp giữa bảo hộ đầu
(a) nếu có thay đổi về hình thức đầu tư, thì việc thay đổi đó không
được ảnh hưởng tới nội dung và tính chất của khoản đầu tư, với
406
407
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
điều kiện là thay đổi đó không mâu thuẫn với pháp luật của quốc
gia ký kết kia.
Mục 2. TOÀN CẦU HÓA VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Đầu tư quốc tế đóng vai trò rất quan trọng trong‘toàn cầu hoá kinh tế’-
một quá trình có tính lịch sử, là kết quả của sự tiến bộ công nghệ và đổi
mới của con người. Khái niệm toàn cầu hoá kinh tế dùng để chỉ sự hội
nhập ngày càng tăng của các nền kinh tế trên thế giới, đặc biệt là thông
qua việc dịch chuyển hàng hoá, dịch vụ và vốn qua biên giới.5 Thuật ngữ
này đôi khi cũng dùng để chỉ hiện tượng dịch chuyển người (người lao
động) và tri thức (công nghệ) qua biên giới. Quá trình toàn cầu hóa có
những khía cạnh mang tính văn hoá, chính trị, và môi trường.
Còn một vấn đề khác đã được nhận diện trong các BIT, đó là vấn
đề liên quan tới thu nhập từ đầu tư. Nhìn chung, các khoản thu nhập
này đều được bảo hộ bởi hầu hết các BIT, thí dụ như đảm bảo việc tự do
chuyển nhượng các khoản lợi nhuận ra khỏi nước tiếp nhận đầu tư. Có
những BIT lại bảo hộ khoản thu nhập từ đầu tư bằng một điều khoản
đầu tư riêng. Cụ thể là các BIT đó định nghĩa về khái niệm này. Vì thế,
trong nhiều năm, định nghĩa được sử dụng phổ biến nhất quy định
rằng đó là ‘số tiền được báo cáo của một khoản đầu tư’. Tương tự, phần
lớn các BIT có đưa ra định nghĩa này cũng đều có thêm một danh sách
không cố định các dòng tiền mặt được coi là lợi tức đầu tư. Danh mục
này thường bao gồm lợi nhuận, tiền lãi, lợi nhuận từ vốn, cổ tức, tiền bản
quyền và phí.
1. Toàn cầu hóa kinh tế
Thuật ngữ‘toàn cầu hoá’bắt đầu được sử dụng phổ biến hơn vào những
năm 1980, thể hiện những tiến bộ về công nghệ giúp cho việc thực
hiện các giao dịch quốc tế - kể cả các dòng thương mại và tài chính - dễ
dàng hơn và nhanh hơn. Thuật ngữ này dùng để chỉ sự mở rộng ngoài
biên giới quốc gia của các lực lượng thị trường tương tự vốn từng có
hàng thế kỷ hoạt động ở mọi cấp độ hoạt động kinh tế của con người
- thị trường làng, các ngành công nghiệp đô thị, hoặc các trung tâm tài
chính.6 Có vô số các chỉ số để minh hoạ phương thức toàn cầu hóa của
hàng hóa, vốn và người.7
Chính vì vậy, một định nghĩa rộng về khái niệm đầu tư chỉ là điểm
tham chiếu đầu tiên trong bối cảnh các định nghĩa về đầu tư và nhà đầu
tư trong các BIT hiện hành. Đây là điều mọi thành viên của cộng đồng
quốc tế đều quan tâm tới.2 Các quốc gia xuất khẩu vốn sử dụng nó để
tìm kiếm cơ hội đầu tư ở nước ngoài và bảo hộ các khoản đầu tư của
mình ở các thị trường xa xôi.3 Các quốc gia nhập khẩu vốn lại dùng nó
để thúc đẩy nguồn đầu tư vào nước mình bằng cách đảm bảo cho các
nhà đầu tư nước ngoài một môi trường kinh doanh ổn định, phù hợp
với các chuẩn mực cao của quốc tế.4 Một số DC đang hướng tới cả hai
mục tiêu này. Vì là các DC, họ muốn hưởng lợi từ các khoản đầu tư nước
ngoài. Vì là các quốc gia đang lớn mạnh, họ muốn mở rộng kinh doanh
sang các thị trường khác.
Sự phát triển của thị trường toàn cầu đã giúp gia tăng tính hiệu
quả thông qua cạnh tranh và phân công lao động - chuyên môn hóa
cho phép con người và nền kinh tế tập trung vào những gì họ có thể
làm tốt nhất. Thị trường toàn cầu cũng đem lại cho mọi người cơ hội lớn
hơn để tiếp cận các thị trường đa dạng và rộng khắp trên toàn thế giới.
Điều đó có nghĩa là tiếp cận được nhiều vốn và công nghệ hơn, hàng
nhập khẩu rẻ hơn và các thị trường xuất khẩu có quy mô hơn. Song điều
đó không có nghĩa là thị trường có thể đảm bảo mọi người được hưởng
lợi như nhau từ hiệu quả gia tăng. Các quốc gia phải chuẩn bị tinh thần
nắm bắt những chính sách cần thiết, và đối với các nước nghèo nhất,
2
Andrew Newcombe & Luís Paradell, Law and Practice of Investment Treaties: Standards of
Treatment 41-46 (2009); Rudolf Dolzer & Christoph Schreuer, Principles of International
Investment Law 17-20 (2008); Kenneth J. Vandevelde, Bilateral Investment Treaties: History,
Policy, and Interpretation 49-59 (2010).
5
Michael J. Trebilcock, ‘Critiquing the Critics of Economic Globalization’, 1 J. Int'l L. & Int'l
3
Relations 213-38 (2005).
Amanda Perry, An Ideal Legal System for Attracting Foreign Direct Investment? Some Theory
and Reality, 15 AM. U. Int'l L. Rev. 1627, 1631 (2000).
6
Frederick Mayer & Gary Gereffi, Regulation and Economic Globalization: Prospects and Limits
4
of Private Governance, 12 BUS. & POL., No. 3, Điều 11, 2010, at 5.
Joshua Boone, How Developing Countries Can Adapt Current Bilateral Investment Treaties to
7
Provide Benefits to Their Domestic Economies, 1 Global Bus. L. Rev. 187, 187 (2011) (trong đó
chỉ rõ động lực đằng sau các BIT là để ‘tạo điều kiện thuận lợi ... cho các dòng đầu tư bằng
cách mở rộng các kênh an toàn cho FDI ... ổn định môi trường đầu tư, đem lại các biện pháp
bảo đảm đầu tư, và tạo ra cơ chế giải quyết tranh chấp trung lập cho ‘các nhà đầu tư bị
tổn thương’); UNCTAD, The Role of International Investment Agreements in Attracting Foreign
Direct Investment to Developing Countries, UN Doc. E.09.II.D.20 p. 4 (2009).
Thí dụ: để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với các biện pháp tốt hơn để phân tính xu
hướng toàn cầu hóa, OECD đã có sáng kiến xây dựng một khung khái niệm và phương pháp
luận để thu thập các thông tin định lượng và xây dựng các chỉ số. Sổ tay Các chỉ số toàn cầu
hóa kinh tế là kết quả của sáng kiến này. Đó là kết quả của sự hợp tác giữa các chuyên gia từ
Ban thư ký OECD, các nước thành viên và các tổ chức quốc tế. OECD, Measuring Globalization:
OECD Economic Globalization Indicators, 2010, Paris, 230 p.
408
409
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
có thể phải cần tới sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế.8 Toàn cầu hóa có
thể dễ dàng tác động tới những lựa chọn hàng ngày trong đời sống con
người, kinh tế, và chính trị.9
sẻ rủi ro quốc tế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Các quốc giá có thể cân nhắc hai bài học chủ yếu được rút ra từ
việc phân tích tình hình trong những năm gần đây.
Toàn cầu hoá cũng có thể tạo ra một khuôn khổ hợp tác giữa các
quốc gia trong một số vấn đề phi kinh tế nhưng lại có hệ lụy xuyên biên
giới, thí dụ như di dân, môi trường và các vấn đề pháp lý. Đồng thời,
dòng chảy hàng hoá, dịch vụ và vốn nước ngoài vào một quốc gia có
thể tạo ra động cơ và nhu cầu củng cố hệ thống giáo dục trong nước, vì
công dân của nước tiếp nhận sẽ nhận thức được thách thức cạnh tranh
trước mắt họ.
Thứ nhất, các kết quả phân tích đều ủng hộ quan điểm cho rằng
các quốc gia phải cân nhắc thật kỹ rủi ro và lợi ích của các dòng vốn tự
do. Bằng chứng cho thấy những lợi ích rõ ràng mà các nền kinh tế tiên
tiến được hưởng từ hội nhập tài chính.12 Ở các nền kinh tế mới nổi và
đang phát triển, một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến mức độ tác động
của toàn cầu hoá tài chính đối với sự biến động và tăng trưởng kinh tế.
Các nền kinh tế mạnh mẽ về tài chính, với các thể chế chắc chắn, các
chính sách kinh tế vĩ mô ổn định và mức độ mở cửa thị trường đáng kể
sẽ có khả năng hơn trong việc hưởng lợi từ tự do hóa tài chính và ít khả
năng gặp phải nguy cơ bất ổn kinh tế vĩ mô và khủng hoảng tài chính.
Thí dụ: các thị trường tài chính phát triển tốt giúp cải thiện các chu trình
bùng nổ-phát triển được kích hoạt bởi sự gia tăng và sụt giảm đột ngột
của dòng vốn quốc tế, trong khi đó các thể chế mạnh trong nước và
các chính sách kinh tế vĩ mô mạnh mẽ giúp thu hút vốn‘tốt’như vốn cổ
phần danh mục đầu tư và FDI.
Quan trọng hơn cả là toàn cầu hoá là phổ biến và chia sẻ thông
tin, tri thức. Các nhà đổi mới - dù là doanh nghiệp hay chính phủ - đều
có thể học hỏi từ những ý tưởng thành công của các nước khác và điều
chỉnh nó cho phù hợp với hoàn cảnh của mình, đồng thời tránh được
những ý tưởng đã từng thất bại. Joseph Stiglitz, người đoạt giải Nobel,
mặc dù thường xuyên lên án toàn cầu hóa, cũng nhận thấy toàn cầu hoá
góp phần‘giảm bớt cảm giác cô lập ở thế giới đang phát triển và đem lại
cho nhiều người sống trong thế giới này cơ hội tiếp cận những tri thức
mà cách đây một thế kỷ, ngay cả những người giàu nhất ở bất cứ quốc
gia nào, cũng không thể có được’.10
Bài học thứ hai rút ra từ nghiên cứu này là: việc thận trọng thái quá
trong việc mở cửa cho nguồn vốn cũng phải trả giá. Cái giá đó bao gồm:
thương mại quốc tế thấp hơn, chi phí đầu tư cao hơn cho doanh nghiệp,
ưu đãi về kinh tế nghèo, nên gia tăng chi phí hành chính/giám sát. Mở
cửa cho đầu tư nước ngoài có thể dẫn tới những thay đổi trong nền kinh
tế góp phần loại bỏ những nhược điểm này và giúp tăng trưởng.
Các thị trường tài chính thế giới đã trải nghiệm sự gia tăng mạnh
mẽ về toàn cầu hóa trong những năm gần đây. Mặc dù sự tăng trưởng
mạnh mẽ nhất diễn ra ở các nền kinh tế tiên tiến, song các thị trường
mới nổi và các nước đang phát triển cũng đã hội nhập hơn về tài chính.11
Khi thị trường vốn của mình đã được tăng cường, các quốc gia thu hút
được nhiều vốn đầu tư hơn, có thể tạo điều kiện cho tầng lớp doanh
nhân lớn hơn phát triển, phân bổ vốn hiệu quả hơn, khuyến khích chia
Trong bất kỳ trường hợp nào, thì các quốc gia đều nên cân nhắc
những rủi ro tiềm ẩn liên quan đến việc mở cửa thị trường thu hút vốn
đầu tư so với chi phí hiệu quả liên quan đến các biện pháp kiểm soát,
nhưng trong những điều kiện nhất định (như thể chế tốt, chính sách
trong nước và nước ngoài ổn định, và các thị trường tài chính phát triển),
thì lợi ích của việc toàn cầu hóa tài chính sẽ lấn át các rủi ro.
8
Cynthia A Williams, ‘Corporate Social Responsibility in An Era of Economic Globalization’,
(2002) 35 UC David L Rev 705 đoạn 721, nêu rõ đầu tư vốn của tư nhân, đặc biệt là của các
công ty đa quốc gia, ngày càng có ý nghĩa quan trọng đối với các DCs; Mitchell A Kane,
‘Bootstraps and Poverty Traps: Tax Treaties as Novel Tools for Development Finance’(2012) 29
Yale J on Reg 255, đoạn 263-72, bàn về tầm quan trọng và sự khó khăn của việc thúc đẩy tài
trợ cho các hoạt động của khu vực tư nhân ở các DCs, như một biện pháp để giúp họ thoát
khỏi tình trạng đói nghèo.
Sự phát triển của truyền thông quốc tế, thương mại quốc tế và
các yếu tố khác đã góp phần tạo ra một nền kinh tế toàn cầu chưa từng
có. Gia tăng quốc tế hóa tài chính có thể mang lại nhiều lợi ích to lớn
cho các nhà đầu tư và các quốc gia, nhưng cũng có thể để lại hậu quả
nghiêm trọng. Những cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây ở Hoa Kỳ, EU
9
Thí dụ: trong lĩnh vực y tế, sự gia tăng khả năng tiếp cận các công nghệ hiện đại có thể tạo ra
sự khác biệt giữa sự sống và cái chết. Trong lĩnh vực truyền thông, nó có thể thúc đẩy và tạo
điều kiện cho thương mại và giáo dục, và khả năng tiếp cận truyền thông độc lập.
10
Joseph Stiglitz (2003), Globalization and Its Discontents, New York: W.W. Norton & Company,
tr. 4.
11
12
David Zaring, ‘Finding Legal Principle in Global Financial Regulation’, 52 Va. J. Int'l L. 683, 701-
David Cowen & Ranil Salgado, ‘Globalization of Production and Financial Integration in Asia’,
16 (2012) (nhận dạng các đặc điểm chung và có thể so sánh được của luật tài chính quốc tế
và các cơ chế khó của pháp luật quốc tế dựa trên hiệp định của WTO và EU).
trong David Cowen, et al. eds., Financial Integration in Asia: Recent Developments and Next
Steps, 4 Int'l Monetary Fund, Working Paper No. 06/196, 2006.
410
411
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
và Nga cũng như những hệ quả của nó đối với thị trường thế giới đã đặt
ra vấn đề cần phải có các quy định hiệu quả hơn trong bối cảnh mới của
nền kinh tế toàn cầu.
đó, mặc dù các rào cản về thuế quan và phi thuế quan đối với thương
mại hàng hoá đã giảm, nhưng việc áp dụng khác biệt các quy định và
pháp luật nói chung để hình thành các rào cản phi thuế quan không
chỉ đối với thương mại hàng hoá, mà còn đối với thương mại dịch vụ và
đầu tư, ngày càng trở nên ít rõ ràng. Tuy nhiên, những rào cản phi thuế
quan này có tính hai mặt, khiến chúng rất khó giải quyết. Thứ nhất, đó
là những yếu tố bắt nguồn từ xã hội, thường được dân chủ hoá, đại diện
cho tầm nhìn có tính cục bộ về phương thức tổ chức xã hội trong nước
để đạt được các giá trị trong nước. Thứ hai, chúng là các rào cản thương
mại quốc tế.
2. Các quy tắc của toàn cầu hóa
Sự tăng trưởng trong nền kinh tế của một nước đi kèm với rất nhiều yếu
tố phát triển mới với những đóng góp tích cực, song cũng đặt ra nhiều
thách thức. Mặc dù tăng cường hợp tác khu vực gia tăng, song chính
phủ nhiều nước đã nhận thấy xu hướng toàn cầu hóa làm họ mất đi
nhiều khả năng kiểm soát nền kinh tế, vì các thương nhân và các công ty
đã mở rộng hoạt động ra ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật quốc
gia. Đối với các nước theo định hướng thị trường, sự xói mòn chủ quyền
quốc gia đồng nghĩa với việc suy giảm sức mạnh trong khả năng tác
động của những người dân bình thường đối với một sự kiện thông qua
việc bầu cử, do đó nó có thể làm xói mòn nền dân chủ.
Giống như một quả cầu tuyết lăn theo triền núi, toàn cầu hóa
dường như đang thu nạp ngày càng nhiều động lực hơn. Và câu hỏi
thường xuyên được đặt ra về toàn cầu hoá không phải liên quan tới sự tiếp
tục của nó, mà chính là tốc độ của nó. Hướng đi trong tương lai của toàn
cầu hóa được quyết định bởi một loạt các yếu tố khác nhau, song có một
yếu tố rất quan trọng không thể bỏ qua -là các quốc gia có chủ quyền. Họ
luôn có khả năng tạo ra những trở ngại đáng kể cho toàn cầu hoá, từ thuế
quan, hạn chế nhập cư, đến các hành động quân sự thù địch.15
Chính ở khía cạnh này, các tổ chức quốc tế, mới và cũ, đã đảm
nhận một số chức năng trước đây của chính phủ các quốc gia. Thí dụ:
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), một cơ quan độc lập của Liên hợp quốc (UN),
đã trở thành một‘lưới an toàn’cho các quốc gia khi bị khủng hoảng kinh
tế và là một cơ quan thực thi quy tắc ứng xử về kinh tế. Tuy nhiên, hai
vai trò này đã bị tranh cãi, và đã có những đề xuất được đưa ra về việc
thành lập một cơ quan kinh tế toàn cầu mới. Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) đã thành công trong Hiệp định chung về thuế quan và thương
mại (GATT)13 trước đây, và đã trở thành không chỉ là một cơ quan giải
quyết tranh chấp thương mại quốc tế mà còn là tòa án có thẩm quyền
thực thi các quyết định của mình.14 Các tổ chức quốc tế khác, thí dụ như
Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) tại Thụy Sỹ và Tổ chức chứng khoán
quốc tế (IOSCO), hiện đang xây dựng các quy định mới. Các tổ chức này
hiện đang soạn thảo cuốn Quy tắc kinh tế toàn cầu cho thế kỷ 21.
Gần một thế kỷ trước, kinh tế toàn cầu hoạt động trong một môi
trường rất cởi mở, với hàng hoá, dịch vụ và con người có thể di chuyển
qua biên giới và hầu như không gặp mấy khó khăn. Sự cởi mở đó bắt
đầu biến mất khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu vào năm 1914,
và cho tới nay quá trình phục hồi lại những gì đã mất vẫn đang diễn ra.
Trong quá trình này, các chính phủ nhận thấy tầm quan trọng của hợp
tác và điều phối quốc tế, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều tổ chức quốc
tế và các định chế tài chính (trong đó có IMF và Ngân hàng thế giới (WB)
năm 1944). Quả thật, các bài học rút ra bao gồm phải tránh việc chia cắt
và làm rạn nứt sự hợp tác giữa các quốc gia.16
15
Kal Raustiala, ‘The Architecture of International Cooperation: Transgovernmental Networks
and the Future of International Law’, 43 Va. J. Int'l L. 1, 5 (2002); David Zaring,‘International Law
by Other Means: The Twilight Existence of International Financial Regulatory Organizations’,
33 Tex. Int'l L.J. 281, 312-25 (1998).
Nếu không có hội nhập, sẽ không thể quyết định được mức độ
và phương thức tích hợp các quy trình hình thành chính sách. Thêm vào
16
Phản ánh tinh thần mới của pháp luật quốc tế ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai, Philip
13
Có sự nhầm lẫn bởi‘GATT’vừa là tên gọi của Hiệp định được ký kết vào năm 1947, vừa là tên
Jessup đã quan sát thấy vào năm 1946 rằng: ‘Chủ quyền, khái niệm thể hiện ý chí tuyệt đối,
không bị kiểm soát của một quốc gia, được tự do trông cậy vào phán quyết chung thẩm
của chiến tranh, là một vùng cát lún, nơi mà nền tảng của pháp luật quốc tế được xây dựng’.
Philip Jessup, A Modern Law of Nations: An Introduction 2 (1948); xem thêm id. ở 157 (‘Điểm
yếu lớn nhất của pháp luật quốc tế truyền thống là sự thừa nhận rằng một quốc gia có thể sử
dụng vũ lực để bắt buộc nước khác phải tuân thủ ý chí của mình’). Trong số hàng loạt các bài
thuyết trình sau này về những thay đổi sau chiến tranh, xem Louis Henkin, ‘Từ C: Chủ quyền,
và Toàn cầu hoá, và Nhân quyền’, v.v…, 68 FORDHAM L. REV. 1 (1999) (bàn về Liên hợp quốc,
phản đối chiến tranh, và theo đuổi mục tiêu hợp tác giữa các quốc gia).
gọi gắn liền với tổ chức sơ khai được hình thành và phát triển liên quan tới Hiệp định đó,
với sự thất bại của các thành viên GATT (hay còn gọi là ‘các Bên ký kết’) trong việc thành lập
Tổ chức thương mại quốc tế (ITO). Khái niệm GATT được dùng ở đây là chỉ Hiệp định GATT
ban đầu, nhưng được sửa đổi và hiện áp dụng cho tất cả các thành viên WTO. Còn hầu hết
các tham chiếu khác tới GATT trong Giáo trình là để chỉ tổ chức tiền thân của WTO trước khi
được thành lập năm 1994.
14
Gerard Curzon & Victoria Curzon,‘The Management of Trade Relations in the GATT’, trong Tạp
chí Quan hệ kinh tế quốc tế của thế giới phương Tây: 1959-1971 141, Nxb. Đại học Oxford, 1976.
412
413
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Thế giới vẫn bao gồm các quốc gia và một thị trường toàn cầu.
Cần phải có các quy tắc phù hợp để hệ thống toàn cầu có thể thích ứng
tốt hơn, có lợi hơn và hợp pháp hơn. Các tổ chức quốc tế có vai trò khó
khăn nhưng không thể thiếu trong việc giúp mang lại nhiều lợi ích toàn
cầu hóa hơn cho nhiều người hơn trên toàn thế giới.17 Bằng cách hỗ trợ
việc phá bỏ các rào cản - từ thể chế cho tới văn hoá - ngày càng nhiều
quốc gia đã có thể hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, và ngày càng
nhiều người có thể nắm bắt được nhiều lợi ích hơn của toàn cầu hóa.
mục đích duy nhất là quản lý đầu tư, như trong các hiệp định có phạm vi
rộng hơn trong đó cũng quy định về các nghĩa vụ chính về đầu tư nước
ngoài), cũng như ở cấp độ đa phương, bởi lẽ một số quy định của WTO
cũng có những nới lỏng đối với chế độ đối xử với đầu tư nước ngoài.20
Mục này cũng sử dụng các ‘BIT mẫu’, vì các nước xuất khẩu vốn rất có
ảnh hưởng thường đàm phán BIT dựa trên các quy định ‘mẫu’ của họ
(thí dụ: BIT mẫu của Hoa Kỳ), trong đó có các quy định đã được cải thiện
đáng kể về việc ban hành các quy định về đầu tư.21
Mục 3. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
1. Giới thiệu
Đầu tư quốc tế là một trong các mối quan tâm chủ yếu đối với nền kinh
tế-chính trị của bất kỳ quốc gia nào. Đầu tư nước ngoài có thể giúp nước
tiếp nhận đầu tư xây dựng một cơ cấu kinh tế vững chắc, giúp gia tăng
và đa dạng hóa sản xuất, cung cấp các dịch vụ mới và phát triển hơn, tạo
việc làm và đem lại công nghệ mới, và nhiều lợi ích khác. Ngoài ra, các
quốc gia sẽ cố gắng để xây dựng các doanh nghiệp trong nước vững
mạnh, từ đó có thể mở rộng phạm vi hoạt động sang các thị trường khác.
Chính sách kinh tế quốc gia thường nhằm mục đích là cùng lúc đạt được
một số mục tiêu, mà thường các mục tiêu đó luôn mâu thuẫn với nhau,
trong đó có thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tránh bất ổn xã hội, duy trì an
ninh và chủ quyền quốc gia, tái phân phối của cải dựa trên một số tiêu
chuẩn công bằng, và một cách công khai hoặc không công khai, duy
trì quyền lực của các nhà hoạch định chính sách và đem lại lợi ích cho
những người hoặc nhóm người có ảnh hưởng.22 Do đó, luật trong nước
của nhiều quốc gia vẫn được giữ ở mức tương đối linh hoạt và thông
thường từ chối bảo hộ đầu tư mạnh mẽ - cả đối với đầu tư trong nước và
Các doanh nghiệp đa quốc gia ở nước ngoài đem lại nguồn thặng
dư vốn dài hạn, giúp xây dựng các mối quan hệ kinh tế và chính trị với
các quốc gia khác và có thể bảo đảm việc tiếp cận được các nguồn lực
lớn mà nước tiếp nhận đầu tư không có sẵn. Trong phạm vi khả năng
của mình, các chính phủ có rất nhiều công cụ chính sách để có thể đạt
được những mục tiêu này. Ký kết các IIA với các đối tác liên quan là một
công cụ chính sách không hề nhỏ.18
20
Julien Chaisse, ‘The Regulatory Framework of International Investment: The Challenge
of Fragmentation in A Changing World Economy, in The Prospects of International Trade
Regulation - From Fragmentation to Coherence’, 417, in Thomas Cottier & Panagiotis
Delimatsis, eds, Cambridge Univ. Press, 2010.
21
sites/default/files/BIT%20text%C20for%C20ACIEP%Meeting.pdf [sau đây gọi là‘BIT mẫu của
Hoa Kỳ năm 2012’];
Hiệp định Mẫu của Đức về Khuyến khích và bảo hộ đầu tư lẫn nhau, các điều 9, 10, năm 2008,
là ‘BIT mẫu của Đức năm 2008’];
Hiệp định đầu tư quốc tế (‘IIA’) có thể gửi tín hiệu đến các nhà
đầu tư quốc tế về một môi trường đầu tư thuận lợi, và bảo đảm với họ
rằng các khoản đầu tư của họ sẽ được hưởng lợi từ khuôn khổ pháp lý
đầy đủ cho quá trình hoạt động kinh doanh của họ.19
Hiệp định mẫu của Canada về Khuyến khích và bảo hộ đầu tư, các điều 24, 48, năm 2004,
gọi là ‘BIT mẫu của Canada năm 2004’];
Mục 3 trình bày về những diễn tiến chính mới xảy ra trong thời
gian gần đây trong luật đầu tư quốc tế. Để đạt được mục đích trên, Mục
3 này sẽ xem xét về hoạt động xây dựng quy định về đầu tư ở cấp độ
hiệp định song phương và khu vực (bao gồm hiệp định quốc tế cho
Dự thảo Hiệp định về Khuyến khích và bảo hộ đầu tư lẫn nhau của Pháp, các điều 7, 10, năm
gọi là ‘BIT mẫu của Pháp năm 2006’];
Hiệp định song phương của Colombia về Khuyến khích và bảo hộ đầu tư, các điều 9, 10, năm
gọi là ‘BIT mẫu của Colombia năm 2007’];
17
Sungjoon Cho & Claire R. Kelly,‘Promises and Perils of New Global Governance: A Case of the
G20’, 12 Chi. J. Int'l L. 491, 548-53 (2012) (bàn về những nghi ngờ liên quan tới hiệu quả điều
phối các chức năng của G20 sau khủng hoảng tài chính toàn cầu).
Hiệp định mẫu của Ấn Độ về Khuyến khích và bảo hộ đầu tư, các điều 9, 10, năm 2003, được
‘BIT mẫu của Ấn Độ năm 2003’].
18
Tom Ginsburg, ‘International Substitutes for Domestic Institutions: Bilateral Investment
22
Treaties and Governance’, 25 Int'l Rev. L. & Econ. 107, 108 (2005).
var Kolstad & Espen Villanger, CHR. MICHELSEN INSTITUTE, How Does Social Development
19
Kenneth J. ‘Vandevelde, A Brief History of International Investment Agreements’, 12 U. C.
Affect FDI and Domestic Investment? 1 (2004) (‘Creating A Sound Investment Climate Is Vital
Davis J. Int'l L. & Pol'y 157, 169 (2005).
for Improving the Economic Performance of Developing Countries.’)
414
415
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
nước ngoài.23 Đồng thời, hầu hết các nhà hoạch định chính sách đồng
ý rằng FDI - nghĩa là, đầu tư nước ngoài tại chính quốc gia mình - là phù
hợp để tăng cường tăng trưởng kinh tế, từ đó nâng cao phúc lợi nói
chung. Do vậy, FDI thường được mời chào các chế độ khuyến khích về
tài chính và các chế độ khuyến khích khác.24 Vì thế, một điều không thể
tránh được là sẽ dẫn đến xung đột giữa tính linh hoạt và tính an toàn
của các quy định pháp luật, mà tính an toàn của các quy định pháp luật
là điều mà các nhà đầu tư luôn tìm kiếm.25 Tăng cường an toàn pháp
luật, bảo hộ chống lại sự thay đổi nhanh chóng của chính trị trong nước
trong khi vẫn tôn trọng chủ quyền quốc gia, đã và vẫn luôn là trọng
tâm của bảo hộ đầu tư trong luật tập quán quốc tế và trong các BIT.26
Theo thời gian, trọng tâm của các nỗ lực bảo hộ nhà đầu tư đã thay đổi.
Trước đây, khi các quốc gia theo đường lối dân chủ tự do và các nước
theo đường lối xã hội chủ nghĩa cạnh tranh vị trí áp đảo trên toàn cầu
trong suốt giai đoạn Chiến tranh Lạnh, điều các nhà đầu tư phương Tây
thời đó sợ nhất là các quốc gia thuộc thế giới thứ ba và các nước áp
dụng các chính sách kinh tế xã hội chủ nghĩa có thể thẳng thừng tước
quyền sở hữu đối với tài sản của họ, mà điều này đã từng xảy ra thường
xuyên trong suốt giai đoạn xóa bỏ chế độ thực dân sau Chiến tranh thế
giới thứ hai.27 Hệ quả là, luật tập quán về đầu tư và các BIT được ký kết
trong giai đoạn này đã nhấn mạnh các quy tắc quốc hữu hóa tài sản và
bồi thường. Giá trị bồi thường (trên cơ sở bồi thường toàn bộ và ngay
lập tức, một cách đầy đủ hoặc công bằng) từ đó đến nay vẫn chưa ngã
23
Đầu tư có thể được chia thành hai loại lớn gồm: đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp (FDI).
Đầu tư gián tiếp là mua cổ phần trong các doanh nghiệp nước ngoài mà không thực hiện
bất kỳ việc kiểm soát trực tiếp nào đối với việc quản lý của doanh nghiệp đó. Ngược lại, FDI
là mua phần vốn góp có quyền kiểm soát đáng kể trong các công ty nước ngoài hiện đang
tồn tại hoặc thành lập doanh nghiệp mới. Để biết xem phần vốn góp có quyền kiểm soát
hay không, nhà đầu tư nước ngoài phải nắm giữ tối thiểu 10% vốn chủ sở hữu của doanh
nghiệp, thì khoản đầu tư đó mới được xếp loại là FDI. Xem ‘Approaching the Next Frontier
for Trade in Services: Liberalisation of International Investment’, Indus., Trade, & Tech. Rev. 2
(USITC, No. 2962, tháng 4/1996). Vì vấn đề kiểm soát ít quan trọng hơn đối với đầu tư gián
tiếp, do vậy, vấn đề chính sách của chính phủ và cạnh tranh ngành cũng vì thế mà bớt quan
trọng. Tuy nhiên, vì FDI thường liên quan đến các vấn đề kiểm soát đáng kể đối với một
doanh nghiệp trong nước, nên FDI dẫn đến vấn đề chủ quyền đối với rất nhiều nước tiếp
nhận đầu tư. Tuy nhiên, tăng trưởng về FDI được hầu hết các DC coi là có lợi, vì FDI giúp đẩy
mạnh tăng trưởng kinh tế, năng suất, và khả năng cạnh tranh. Nhìn chung, xem UNCTAD,
World Investment Report 1996: Investment, Trade and International Policy Arrangements 219
(1996); Trade and Foreign Direct Investment, đoạn 46-53.
24
Bằng chứng về tác động kinh tế của IIA hiện đang ở mức hai chiều. Xem Todd Allee & Clint
Peindhardt, ‘Contingent Credibility: The Impact of Investment Treaty Violations on Foreign
Direct Investment’, 65 Int'l Org. 401 (2011) (cho thấy rằng việc ký kết các BIT giúp tăng đáng
kể FDI, trừ khi quốc gia đó sau đó bị một nhà đầu tư cáo buộc là đã vi phạm BIT tại cơ quan
trọng tài); Rashmi Banga,‘Do Investment Agreements Matter?’21 J. Econ. Integration 40 (2006)
(cho thấy rằng việc ký BIT với các quốc gia phát triển đã giúp tăng dòng FDI); Matthias Busse,
Jens Koniger & Peter Nunnenkamp, ‘FDI Promotion Through Bilateral Investment Treaties:
More than A Bit?’, 146 Rev. World Econ. 147 (2010) (kiểm soát những vấn đề nội sinh và các
vấn đề ngoại lai theo thống kê khác và cho thấy rằng BIT giúp gia tăng FDI, với bằng chứng
rằng BIT có thể giúp thay thế cho các thể chế yếu kém trong nước); Tim Büthe & Helen kiện
Milner, ‘Bilateral Investment Treaties and Foreign Direct Investment: A Political Analysis’, in
The Effect of Treaties on Foreign Direct Investment (cho thấy rằng theo thống kê, tỷ lệ FDI so với
GDP tăng đáng kể khi có thêm mỗi BIT được ký kết); Peter Egger & Michael Pfaffermayr, ‘The
Impact of Bilateral Investment Treaties on Foreign Direct Investment’, 32 J. Comp. Econ. 788,
790 (2004) (cho thấy rằng tăng 30% luồng vốn từ quốc gia xuất khẩu vốn chuyển sang quốc
gia nhập khẩu vốn sau khi các quốc gia này đã ký kết BIT); Kevin P. Gallagher & Melissa B.L.
Birch, ‘Do Investment Agreements Attract Investment? Evidence from Latin America’, in The
Effect of Treaties on Foreign Direct Investment (cho thấy mối quan hệ tích cực giữa số lượng
BIT được ký kết và dòng đầu tư nước ngoài đổ vào các quốc gia Mỹ La-tinh); Robert Grosse &
Len J. Trevino, ‘New Institutional Economics and FDI Location in Central and Eastern Europe’,
in The Effect of Treaties on Foreign Direct Investment (chi thấy mối quan hệ tích cực giữa số
lượng BIT và FDI); Andrew Kerner,‘Why Should I Believe You? The Costs and Consequences of
Bilateral Investment Treaties’, 53 Int'l Stud. Q. 73, 82-98 (2009) (Kiểm soát các vấn đề nội sinh
và chi thấy ra rằng việc phê chuẩn một BIT có thể giúp tăng 600 triệu USD đầu tư trực tiếp
nước ngoài); Eric Neumayer & Laura Spess,‘Do Bilateral Investment Treaties Increase Foreign
Direct Investment to Developing Countries?’, 33 World Dev. 1567, 1568 (2005) (cho thấy rằng
việc ký BIT với một số quốc gia xuất khẩu vốn có thể dẫn đến việc FDI tăng gần gấp đôi, tuy
nhiên tác động này sẽ giảm khi các thể chế pháp lý trong nước dần cải thiện tốt lên); Clint
Peinhardt & Todd Allee, ‘Devil in the Details? The Investment Effects of Dispute Settlement
Variation in BITs’, in Yearbook on International Investment Law and Policy 2010-2011, đoạn 837,
854-56 (Karl P. Sauvant, ed. 2012) (cho thấy rằng kiểm soát các đặc điểm đặc thù cho mỗi
quốc gia có ảnh hưởng đến việc đàm phán hiệp định, do đó ảnh hưởng đến nội dung của
hiệp định. Các hiệp định đầu tư quốc tế có mức độ cam kết cao hơn về giải quyết tranh chấp
giữa nhà đầu tư và chính phủ nước tiếp nhận đầu tư bằng phương thức trọng tài, thay cho
việc giải quyết tranh chấp ở trong nước, được cho là giúp gia tăng dòng đầu tư trực tiếp
nước ngoài); Susan Rose-Ackerman,‘The Global BITs Regime and the Domestic Environment
for Investment’, in The Effect of Treaties on Foreign Direct Investment (cho thấy rằng BIT có tác
động tích cực đến dòng FDI tới các DC trên cơ sở tương tác với các yếu tố kinh tế và chính trị
trong nước); Jeswald W. Salacuse & Nicholas P. Sullivan, ‘Do BITs Really Work?: An Evaluation
of Bilateral Investment Treaties and Their Grand Bargain’, 46 Harv. Int'l L.J. 67, 95?115 (2005)
(cho thấy rằng việc ký kết BIT với Hoa Kỳ dẫn đến việc tăng đầu tư nước ngoài từ 77 lên 85%,
tuy nhiên các quốc gia OECD khác không có sự gia tăng đáng kể nào).
25
José Guimon & Sergey Filippov, ‘Competing for High-Quality FDI: Management Challenges
for Investment Promotion Agencies’, 4 Institutions and Economies.
26
Francis J. Nicholson,‘The Protection of Foreign Property under Customary International Law’,
3 B.C. L. Rev. 391, 391-93 (1965) (trong đó giải thích rằng việc phát triển thương mại và đầu tư
quốc tế đã tạo ra một số nguyên tắc nhất định, theo đó đặt ra nghĩa vụ đối với các quốc gia
về việc bảo hộ quyền tài sản có được của người nước ngoài).
27
Rudolf Dolzer & Margrete Stevens, Bilateral Investment Treaties (1995) (trong đó quy định
rằng một quy tắc chung là các DC là các nước nhập khẩu vốn, và các quốc gia phát triển
là các nước xuất khẩu vốn, cùng thúc đẩy thương mại Bắc-Nam). Tuy nhiên, xem UNCTAD,
South-South Investments Agreements Proliferating, IIA Monitor No. 1, UNCTAD/WEB/ITE/
IIT/2006/1 (ngày 03/11/2005) (theo đó các dòng FDI hiện nay đã cho thấy sự gia tăng tương
tác Nam - Nam). Theo UNCTAD, hợp tác Nam - Nam về đầu tư đã gia tăng trong những năm
gần đây, phản ánh đúng xu hướng gia tăng số lượng các IIA được ký kết giữa các DC. Về khía
cạnh này, các DC đã bắt đầu quan tâm hơn về việc làm sao có thể bảo hộ các nhà đầu tư của
mình ở nước ngoài. Đây thực sự là chuyện các quốc gia như Brazil và Trung Quốc đã chiếm
được vị thế vượt trội đáng kể trong nền kinh tế toàn cầu. UNCTAD, Recent Developments
in International Investment Agreements IIA Monitor No. 3, 5, UNCTAD/WEB/DIAE/IA/2009/8
(ngày 03/7/2009).
416
417
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
ngũ. Những cáo buộc về tước quyền sở hữu tài sản của đồng minh hoặc
đầu tư nước ngoài đối với nước tiếp nhận đầu tư là một trong những
yếu tố quan trọng nhất, theo đó thể hiện bản chất các tranh chấp đầu
tư nước ngoài từ lăng kính xét xử trọng tài, dựa trên các hiệp định đầu
tư. Tước quyền sở hữu hay quốc hữu hóa các khoản đầu tư nước ngoài
trong lãnh thổ của nước tiếp nhận đầu tư là điều được phép thực hiện
theo luật đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, điều này phải được chứng minh
trên cơ sở vì mục đích công, theo một quy trình hợp lệ về pháp lý và
thanh toán bồi thường. Thanh toán bồi thường một cách đầy đủ đã luôn
luôn là điểm mấu chốt dẫn đến tranh chấp trong trường hợp nhà đầu
tư nước ngoài cáo buộc nước tiếp nhận đầu tư tước quyền sở hữu của
họ một cách bất hợp pháp. Tước quyền sở hữu có thể mang tính trực
tiếp hoặc gián tiếp. Tước quyền sở hữu có thể được coi là trực tiếp và dễ
dàng được xác định khi có cáo buộc về việc nước tiếp nhận đầu tư tước
tài sản của đồng minh hoặc đầu tư nước ngoài trong lãnh thổ của nước
tiếp nhận đầu tư. 28
2. Các thế hệ IIA kế tiếp
Trước khi các IIA ra đời, các quốc gia ký kết các Hiệp định Hữu nghị,
Thương mại và Hàng hải (‘FCN’), theo đó yêu cầu quốc gia tiếp nhận đầu
tư phải đối xử đối với các khoản đầu tư nước ngoài giống như được áp
dụng đối với các khoản đầu tư từ các quốc gia khác, trong một số trường
hợp, bao gồm cả chế độ đối xử ưu đãi mà quốc gia tiếp nhận đầu tư áp
dụng đối với các khoản đầu tư của chính mình. FCN cũng quy định các
điều khoản thương mại và vận chuyển giữa các quốc gia thành viên, và
quyền của người nước ngoài trong việc tiến hành kinh doanh và sở hữu
tài sản tại quốc gia tiếp nhận đầu tư.
Năm 1996, các nước OECD bắt đầu đàm phán để xây dựng Hiệp
định đầu tư đa phương (‘MAI’) với dự định sau này sẽ cho tất cả các quốc
gia được gia nhập, để quy định các nguyên tắc MFN và NT cho mọi hình
thức FDI, cũng như quy định rất nhiều biện pháp bảo đảm về pháp lý và
tố tụng cho các nhà đầu tư.30 Tuy nhiên, các nhà đàm phán MAI đã gặp
phải những rào cản mang tính hệ thống đối với tham vọng tự do hóa
một lĩnh vực rộng như đầu tư, trong đó có cả sự phức tạp của các chế độ
thuế quốc gia.31 Trebilcock và Howse cũng đã mô tả các động cơ chính trị
bao phủ các cuộc đàm phán MAI và cuối cùng khiến cho các cuộc đàm
phán này bị thất bại. Tính đến tháng 5/1997, các nhà đàm phán đã đạt
được thỏa thuận về rất nhiều yếu tố trong kết cấu cơ bản của MAI, bao
gồm MFN và NT. Tuy nhiên, các quốc gia có quan điểm rất khác nhau về
mối quan hệ giữa MAI và các tiêu chuẩn về môi trường, lao động, và các
chính sách văn hóa. Đồng thời, các quốc gia cũng chia rẽ nghiêm trọng
về việc liệu các biện pháp khuyến khích đầu tư có nên bị chế tài, và áp
dụng chế tài như thế nào, dẫn đến việc các biện pháp khuyến khích
đầu tư sẽ không được đề cập đến trong dự thảo. Tuy nhiên, cùng lúc đó,
Tháng 7/2017, khung pháp lý về đầu tư quốc tế bao gồm khoảng
3.500 hiệp định đầu tư, bao gồm các BIT, các hiệp định khu vực, và các
quy định về bảo hộ đầu tư trong các FTA giữa hai hoặc nhiều quốc gia.
Động lực chính cho việc ký kết các văn kiện này thường là mong muốn
của các quốc gia xuất khẩu vốn - các quốc gia phát triển, nhằm bảo đảm
rằng bất kỳ ai mang quốc tịch của nước đó cũng sẽ được bảo hộ về tài
chính và pháp lý khi thực hiện đầu tư tại các quốc gia nhập khẩu vốn - là
các DC. Do vậy, đa phần các IIA được ký kết giữa các quốc gia phát triển
và các DC hoặc các nền kinh tế đang chuyển đổi, mặc dù điều này đang
dần dần thay đổi.
Trong thế giới ngày nay, khi mà kinh tế thị trường dường như duy
trì tốt vị trí là mô hình kinh tế thống trị toàn cầu trong tương lai có thể
dự đoán, và với lượng FDI đã tăng gấp đôi, thì các quy định về bảo hộ tài
sản chí ít sẽ được bổ sung ở các vấn đề như: tiếp cận thị trường, đối xử
quốc gia, tước quyền sở hữu, không tuân thủ quy định về quản trị tốt, ...
FDI thuộc diện được bảo hộ theo luật tập quán quốc tế và theo rất nhiều
trong số 3.500 IIA, thường là dựa trên các hiệp định mẫu giống nhau.
Law’, Global Bus. & Devel. L.J. 337, 338 (2007) (trong đó ghi nhận tương tự rằng:‘Các hiệp định
đem lại cho các nhà đầu tư nước ngoài các quyền kinh tế, bao gồm quyền kiện ra trọng tài
để giải quyết tranh chấp, nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, mà đầu tư trực tiếp nước
ngoài được cho là giúp các quốc gia ... ổn định kinh tế’).
30
Campbell McLachlan, Laurence Shore & Matthew Weiniger, International Investment
Arbitration: Substantive Principles 219 (2008); Juyrgen Kurtz, ‘NGOs, the Internet and
International Economic Policy Making: the Failure of the OECD Multilateral Agreement on
Investment’, 3 Melb. J. Int'l L. 213, 225-26 (2002) (giải thích về vai trò của các NGO trong việc
rời bỏ MAI); Nii LanteWallace-Bruce,‘The Multilateral Agreement on Investment: An Indecent
Proposal and Not Learning the Lessons of History’, 2 J. World Investment 53 (2001) (mô tả quá
trình rời bỏ MAI); Andrew Walter, ‘Unravelling the Faustian Bargain: Non-state Actors and
the Multilateral Agreement on Investment’, trong Non-state Actors in World Politics 150-68
(Daphne Josselin & William Wallace eds., 2001).
BIT là những hiệp định quốc tế quy định các điều khoản và điều
kiện đối với các khoản đầu tư tư nhân của công dân và các công ty của
một quốc gia này tại một quốc gia khác.29
28
Homayoun Mafi, ‘Controversial Issues of Compensation in Cases of Expropriation and
Nationalization: Awards of the Iran-United States Claims Tribunal’, 18 Int'l J. Humanities 83-85
31
(2011).
Eric Neumayer, ‘Multilateral Agreement on Investment: Lessons for the WTO from the Failed
29
Susan D. Franck, ‘Foreign Direct Investment, Investment Treaty Arbitration and the Rule of
OECD Negotiatons’, 46 Wirtschaftspolitische Bl tter 618 (1999).
418
419
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
tranh luận công khai bắt đầu nổ ra căng thẳng tại các quốc gia OECD
như Canada, Hoa Kỳ và Australia về tác động của MAI đối với các quốc
gia thành viên nói chung, và đối với môi trường, quyền lao động và bảo
hộ văn hóa nói riêng. Các nhà hoạt động Canada dẫn đầu trong việc
yêu cầu đưa các cuộc đàm phán MAI ra công chúng để xem xét. Tháng
01/1997, khi không có bất kỳ bản dự thảo nào được công bố công khai,
các nhà hoạt động Canada đã có được một bản bí mật, và bắt đầu gửi
đến các nhóm có tư tưởng giống họ, và Internet được sử dụng như một
công cụ truyền thông hữu hiệu. Tháng 4/1997, vấn đề MAI bắt đầu xuất
hiện trên các tờ báo lớn, và các chính phủ bị đặt vào tình thế phải biện
hộ để chứng minh cho vị thế đàm phán của mình trước công chúng.
Một số nhóm này thậm chí đã thách thức, tuy không thành công, FTA
Canada - Hoa Kỳ, cũng như NAFTA, thông thường thông qua việc phóng
đại quá mức và khiếu kiện giả định về thiệt hại có thể phải gánh chịu
từ các hiệp định này đối với nước tham gia. Với MAI, cách tiếp cận của
họ được cho là khôn ngoan hơn và thận trọng hơn. Họ kết hợp việc chỉ
trính chung chung hơn đối với toàn cầu hóa xoay quanh động cơ là lợi
ích doanh nghiệp, với việc phân tích rất hợp tình hợp lý các quy định cụ
thể của dự thảo MAI, hoặc những gì mà dự thảo MAI không quy định,
cũng như chỉ trích cách thức tiến hành đàm phán. Mặc dù nhiều nhóm
có vị thế khác nhau và chồng chéo nhau, nhưng sức mạnh của cuộc
công kích toàn diện đã được Tony Clarke và Maude Barlow mô tả cụ thể
như sau:
quy định về ngoại lệ môi trường, y tế hay an ninh, ngay cả khi ở mức độ
ngang bằng với những quy định tương tự trong GATT 1947, khiến người
ta cho rằng Hiệp định chỉ quy định về những lợi ích tư bản.32
Họ cũng đối mặt với sự phản đối mạnh mẽ của công chúng từ các
tổ chức phi chính phủ (‘NGO’) dưới hình thức phong trào phản đối toàn
cầu hóa bắt đầu được hình thành, để phản đối cái được cho là mất đi
chủ quyền kinh tế và sự đặc sắc văn hóa. Sau khi Pháp rút khỏi các cuộc
thương lượng MAI vào năm 1998 do lo ngại sẽ bị mất tự do văn hóa, dự
án đã bị hoãn lại. Khi thiết kế dự án, người ta đã không rút kinh nghiệm
từ những bài học và những hạn chế của quá trình tự do hóa đang được
thực hiện, cũng như các quy định được đưa vào GATT và GATS một cách
thành công.
Sau này, người ta có thể nhận ra ba thế hệ các IIA theo các tình
tiết được cách điệu hóa của ‘hệ thống’đầu tư quốc tế, bao gồm:
Thứ nhất: Các BIT‘thế hệ đầu’tập trung vào bảo hộ các nhà đầu tư
nước ngoài, mặc dù có duy trì một số bảo lưu quan trọng đối với một vài
bảo đảm chủ chốt cho đầu tư nước ngoài, như NT, các biện pháp chống
tước quyền sở hữu một cách bất hợp pháp, và tiếp cận trọng tài quốc tế.
Thứ hai: Các hiệp định đầu tư quốc tế ‘thế hệ thứ hai’ - đại diện là
đa số các BIT cũng như quy định về chế tài trong đầu tư được đưa vào
một số FTA, trong đó quy định các nghĩa vụ có phạm vi rộng hơn và có
tính nội dung hơn về chế độ đối xử với đầu tư nước ngoài. Đối xử quốc
gia sau đầu tư, mặc dù có một số bảo lưu theo lĩnh vực trong một số
trường hợp, và không có hạn chế đáng kể nào đối với khả năng của các
nhà đầu tư nước ngoài trong việc đưa các biện pháp của nước tiếp nhận
đầu tư ra xét xử tại trọng tài quốc tế, được coi là chuẩn mực trong lĩnh
vực này.
Chúng tôi không muốn để lại ấn tượng rằng chúng tôi phản đối
ý tưởng về hiệp định đầu tư toàn cầu. Chúng tôi nhận thức rõ
ràng rằng các dòng đầu tư xuyên quốc gia đã và đang gia tăng
nhanh chóng và cần phải thiết lập một số quy tắc toàn cầu. Tuy
nhiên, cơ sở cho việc soạn thảo các dự thảo MAI, theo quan điểm
của chúng tôi, có rất nhiều khúc mắc và mang tính một chiều. Nó
mở rộng quyền và quyền lực của các công ty xuyên quốc gia mà
không hề đặt ra bất kỳ nghĩa vụ tương ứng nào. Thay vào đó, dự
thảo hiệp định lại quy định nghĩa vụ cho chính các chính phủ …
trong khi MAI không có quy định về các nguyên tắc mà các công
ty xuyên quốc gia phải tuân thủ để tôn trọng các quyền kinh tế,
xã hội, văn hóa và môi trường của công dân.
Rất nhiều Hội đồng xét xử đầu tư đã không xem xét các tiêu
chuẩn không rõ ràng được quy định trong một số IIA. Thí dụ: Phán quyết
về trách nhiệm trong các vụ Suez, Barcelona and Interagua v. Argentina và
AWG v. Argentina nêu rằng:
a) Đây là một tiêu chuẩn không được xác định rõ ràng và khó hiểu,
và phạm vi lại không được quy định trong các BIT;
Sự bí mật bao trùm các cuộc đàm phán và cách các Bộ Ngoại
giao hành động một cách bí ẩn như thường lệ khi được hỏi ngay từ đầu
về quá trình đàm phán, đã khiến cho người ta có ấn tượng ngay lập
tức rằng toàn bộ cam kết đó đều là bí mật. Việc dự thảo MAI không có
b) Đây là tiêu chuẩn được sử dụng rộng rãi trong hàng trăm BIT trên
phạm vi toàn cầu;
32
Michael Trebilcock & Robert Howse, The Regulation of International Trade (tái bản lần thứ 3,
Nxb. Routledge) đoạn 458-60.
420
421
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
c) Các điều khoản xác định tiêu chuẩn có tính linh hoạt và áp dụng
cho mọi loại đầu tư và đầu tư mạo hiểm;
Dấu hiệu nhận biết của rất nhiều BIT là các BIT này cho phép sử
dụng cơ chế giải quyết tranh chấp (thay thế) ngoài tòa án, theo đó một
nhà đầu tư có quyền theo BIT, nếu bị vi phạm, có thể kiện ra trọng tài
quốc tế,35 mà thường là tại ICSID (Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu
tư quốc tế), chứ không kiện ra tòa án nước tiếp nhận đầu tư.
d) Đây là một tiêu chuẩn thực tế, vì nó được thực hiện trên cơ sở
kết nối chặt chẽ với các tình tiết cụ thể của mỗi vụ việc, sao cho
phán xét được đưa ra về việc: cái gì được là công bằng và hợp lý
thì không thể được xây dựng một cách trừu tượng, mà phải dựa
vào các tình tiết cụ thể của vụ việc;
Giải quyết tranh chấp bởi bên thứ ba là một yếu tố cấu thành chủ
chốt của các BIT.
e) Việc được sử dụng rộng rãi trong các BIT, tính tổng quan và linh
hoạt của tiêu chuẩn đó cho thấy: đây là một tiêu chuẩn được các
quốc gia ký kết hiệp định xây dựng như là tiêu chuẩn cơ bản về
đối xử, mà các quốc gia có nghĩa vụ phải trao cho các khoản đầu
tư nước ngoài của nước kia như được bảo hộ theo các BIT.33
... [Đây] là cơ chế cam kết theo đó giải quyết một vấn đề bất đồng
cho các quốc gia. Phương thức này cho phép quốc gia tiếp nhận
đầu tư ký kết một hợp đồng mà không sợ chính phủ tương lai sẽ
tước quyền sở hữu, can thiệp vào tòa án trong nước, hoặc bằng
cách khác sẽ rút lại những hứa hẹn được quy định trong BIT. Bất
kể mức độ tin tưởng giữa các bên vào thời điểm đầu tư như thế
nào, nhà đầu tư sẽ lo ngại rằng chính phủ tương lai có thể phá vơ
lời hứa của chính phủ hiện tại. Hơn nữa, nhà đầu tư không thể tin
tưởng rằng các chính phủ tương lai sẽ không can thiệp vào tòa
án trong nước. Bảo đảm rằng trọng tài quốc tế ... luôn sẵn sàng
xét xử các tranh chấp đầu tư, sẽ giúp chính phủ nước tiếp nhận
đầu tư đưa ra một cam kết đáng tin cậy rằng chính phủ sẽ không
thể can thiệp.’36
Về một vấn đề khác, trong vụ AIG Capital v. Kazakhstan Award cho
thấy: không có một từ, cụm từ hay khái niệm được chấp nhận trên toàn
cầu để mô tả tiêu chuẩn ‘bồi thường thỏa đáng’ để áp dụng theo luật
quốc tế và kết luận rằng, mặc dù có nhiều thuật ngữ không rõ ràng và
không xác định, nhưng ngày càng có nhiều người nhất trí về một tiêu
chuẩn bồi thường sát hơn với ‘giá thị trường hợp lý’ của một tài sản bị
trưng thu.34
Thứ ba: Các hiệp định đầu tư ‘thế hệ thứ ba’: Đây là các BIT mẫu
gần đây và các chương về đầu tư của ngày càng nhiều các FTA. Các hiệp
định này duy trì các tiêu chuẩn cao về bảo hộ đối với các khoản đầu tư
đã được công nhận trong các hiệp định ‘thế hệ thứ hai’, trong khi các
hiệp định này mong muốn mở ra các cơ hội đầu tư mới trong các thị
trường nước ngoài, thông qua chế độ đối xử quốc gia về quyền tham
gia thị trường - phụ thuộc vào những loại trừ theo ngành dưới hình thức
(danh mục) chọn cho (positive list) và chọn bỏ (negative list). Một điều
thú vị là, các hiệp định đầu tư ‘thế hệ thứ ba’ cũng nhằm vào việc bảo
đảm rằng các quyền trao cho các nhà đầu tư nước ngoài không nhấn
chìm các quyền hạn của pháp luật trong nước trong lĩnh vực chính sách
quan trọng khác. Có lẽ chẳng có gì ngạc nhiên khi đi đầu xu thế này là
các quốc gia mà từ trước đến nay bị kiện ra trọng tài quốc tế nhiều nhất,
như EU, Hoa Kỳ và Canada.
Công ước về Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế
(‘Công ước ICSID’) quy định một khuôn khổ đa phương cho việc giải
quyết tranh chấp giữa các chính phủ và nhà đầu tư tư nhân.
Xét ở tầm khu vực, Hiệp định NAFTA bảo hộ đầu tư trên diện rộng
theo quy định của Chương 11,37 giống như các FTA khác.38 Ngoài các quy
35
Theo UNCTAD, trong hai thập kỷ vừa qua, đã ghi nhận trên 500 tranh chấp giữa nhà đầu tư
và chính phủ được đưa ra trọng tài quốc tế để giải quyết. UNCTAD, Recent Developments in
Investor-State Dispute Settlement (‘ISDS’),
36
Tom Ginsburg, ‘International Substitutes for Domestic Institutions: Bilateral Investment
Treaties and Governance’, 25 Int'l Rev. L. & Econ. 107, 108 (2005) đoạn 113.
Jamie Boyd, ‘Canada's Position Regarding An Emerging International Fresh Water Market
37
with Respect of NAFTA’, 2 NAFTA: Law and Bus. Rev. Americas, 3 (1999); Charles H. Brower,
‘Investor-State Dispute Settlement under NAFTA: The Empire Strikes Back’, 40 Colum. J.
Transnat'l L. 43 (2001).
38
Về đàm phán các chương về đầu tư trong các FTA giữa các quốc gia Mỹ La-tinh và Hoa
Kỳ, xem Roberto Echandi, A New Generation of International Investment Agreements in the
Americas: Impact of Investor-State Dispute Settlement over Investment Rule-Making, http://
(truy cập lần cuối vào ngày 27/12/2014); Charles N. Brower, ‘NAFTA's Investment Chapter:
Dynamic Laboratory, Failed Experiments, and Lessons for the FTAA’, 97 Am. Soc'y Int'l. L. Proc.
251, 255-57 (2003).
33
Suez, Sociedad General de Aguas de Barcelona S.A. and Interagua Servicios Integrales de Agua
S.A. v. Argentina, vụ kiện tại ICSID số ARB/03/17, Phán quyết về trách nhiệm, ngày 30/7/2010,
đoạn 180-181.
34
AIG Capital Partners, Inc. and CJSC Tema Real Estate Company v. Kazakhstan, vụ kiện tại ICSID
số ARB/01/6, Phán quyết ngày 07/10/2003, đoạn 12.1.1.
422
423
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
định của WTO về hàng hóa, dịch vụ và tài sản trí tuệ,39 cho đến nay, vẫn
chưa có một khung pháp lý đa phương toàn diện để điều chỉnh FDI, mặc
dù đã có rất nhiều nỗ lực để làm điều này.40
Điều đó cũng có nghĩa rằng hội đồng trọng tài đã được trao
nhiệm vụ áp dụng các nguyên tắc của các hiệp định đầu tư trong các
trường hợp cụ thể, một nhiệm vụ thường không đơn giản, do các điều
khoản của các hiệp định này luôn rất rộng và đôi khi khó hiểu.
Các quốc gia thực sự đã rất tích cực trong lĩnh vực này.41 Các IIA
thay đổi theo thời gian, dẫn đến việc phát triển các thế hệ hiệp định. Về
khía cạnh này, các cuộc đàm phán đều theo‘mẫu’mà một quốc gia hiện
đang sử dụng. 42 Vào cuối năm 2017, trên 175 quốc gia đã cùng nhau ký
kết một con số đáng kinh ngạc là 2.900 BIT. Bên cạnh đó, trên 250 FTA43
đã thiết lập các khuôn khổ hợp tác đầu tư nhằm đẩy mạnh các quy tắc
đầu tư trong tương lai hoặc các quy tắc đặc thù về nội dung cho lĩnh
vực đầu tư, giống như các quy định tương tự trong các BIT. Do vậy, các
quy tắc quốc tế về đầu tư dựa trên một hệ thống phức tạp và ngày càng
nhiều các hiệp định song phương, khu vực và đa phương về đầu tư nước
ngoài, mà đứng đầu là một hiệp định đa phương - Hiệp định chung về
thương mại dịch vụ (‘GATS’), trong đó điều chỉnh cả về đầu tư quốc tế
khi đầu tư vào các ngành dịch vụ.
Hiện tượng tranh tụng đầu tư đã dẫn đến rất nhiều quyết định
từ các hội đồng trọng tài khác nhau, đóng góp vào ‘hệ thống’ luật đầu
tư bằng cách quy định ý nghĩa cho các quy định của mình - mà điều này
cũng mang tính phân cấp. Diễn giải của trọng tài đối với các quy tắc đầu
tư quốc tế từ trước tới nay không phải là không có tranh cãi, và tiếp theo
dẫn đến việc một số quốc gia phản ứng bằng cách sửa đổi các hiệp định
của mình theo những tiến triển mới đó, từ đó lại góp phần làm tiếp tục
thay đổi bức tranh về việc xây dựng pháp luật về đầu tư.
Sự thay đổi nhanh chóng của việc xây dựng pháp luật về đầu tư
khiến cho các quốc gia đang phát triển và các quốc gia phát triển luôn
quan tâm. Khi các quốc gia đang phát triển trở thành các quốc gia xuất
khẩu vốn, thì các hiệp định đầu tư có thể được chứng minh là một công
cụ hữu hiệu trong việc mở ra các cơ hội kinh doanh ở nước ngoài.
3. Sự xuất hiện các tranh chấp đầu tư
Vì các quốc gia phát triển tiếp nhận các công ty nước ngoài vào
thị trường của mình, nên các quốc gia này cũng chịu sự ràng buộc của
luật đầu tư quốc tế. Sự quan tâm của nhiều quốc gia dành cho các IIA đã
tăng gấp đôi, khi họ là những quốc gia nhập khẩu vốn hoặc xuất khẩu
vốn hàng đầu.
Một loạt sự kiện khác đang góp phần vào việc phát triển‘hệ thống’phân
cấp luật đầu tư quốc tế này. Trong thập kỷ trước, các tranh chấp đầu tư
giữa các nhà đầu tư nước ngoài và chính phủ nước tiếp nhận đầu tư đã
tăng theo cấp số nhân. Thí dụ: trong Phán quyết liên quan đến phản đối
quyền tài phán trong vụ Quasar de Valors v. Russia, Hội đồng trọng tài
cho rằng tiếp cận trọng tài quốc tế là một mong muốn thường xuyên và
cơ bản để bảo hộ đầu tư, do vậy đây là một yếu tố có trọng lượng trong
việc xem xét đối tượng và mục đích của BIT.44
Làm thế nào để phản ánh đúng bản chất thay đổi nhanh chóng
của hệ thống luật đầu tư quốc tế và thu được những lợi ích từ các IIA,
trong khi phải bảo đảm năng lực quản lý trong nước nhằm duy trì nền
kinh tế luôn tăng trưởng? Câu hỏi này vẫn luôn là một thách thức khó
khăn cho tất cả các quốc gia.
39
Keith E. Maskus, ‘The Role of Intellectual Property Rights in Encouraging Foreign Direct
Investment and Technology Transfer’, 9 Duke J. Comp. & Int'l L. 109, 109 (1998) (lấy Trung
Quốc, Argentina và Mexico làm các thí dụ về các DC mở rộng phạm vi bảo hộ tài sản trí tuệ).
40
Jeswald W. Salacuse, ‘The Emerging Global Regime for Investment’, 51 Harv. Int'l L. J. 427, 439
(2010).
41
UNCTAD, Bilateral Investment Treaties 1959-1999, UNCTAD/ITE/IIA/2 ngày 01/12/2000;
UNCTAD, Bilateral Investment Treaties 1995-2006: Trends in Investment Rulemaking, 105-108,
UNCTAD/ITE/IIT/2006/5 (ngày 01/02/2007).
Mục 4. XÁC ĐỊNH PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH CỦA CÁC HIỆP ĐỊNH ĐẦU TƯ
QUỐC TẾ
42
C. Congyan, ‘Change of the Structure of International Investment and the Development of
Phạm vi áp dụng của các IIA được xác định bởi bốn yếu tố chính: (i)
Phạm vi địa lý; (ii) Thời gian áp dụng; (iii) Chủ thể; và (iv) Đối tượng áp
dụng. Nói một cách đơn giản, có thể xác định được phạm vi áp dụng
của một IIA bằng cách trả lời bốn câu hỏi: đầu tư được thực hiện ở đâu?
khi nào? bởi ai? Và quan trọng nhất, là loại hình đầu tư nào được bảo hộ
theo IIA?
Developing Countries' BIT Practice. Towards A Third Way of BIT Practice’, 8 J. World Inv. & Trade
8, 29 (2007) (trong đó tổng kết rằng về cơ bản, có ba thế hệ IIA: (i) từ năm 1959 (khi BIT đầu
tiên được ký kết giữa Đức và Pakistan) đến đầu những năm 1990; (ii) từ cuối những năm 1990
đến những năm 2000; và (iii) từ cuối thập niên 2000 đến nay).
43
David A. Gantz, ‘The Evolution of FTA Investment Provisions: From NAFTA to the United
States - Chile Free Trade Agreement’, 19 Am. U. Int'l L. Rev. 679, 715 (2003).
44
Vụ Quasar de Valors SICAV S.A. et al. (trước đây là Renta 4 S.V.S.A et al.) v. Russia, Vụ kiện tại SCC
số 24/2007, Phán quyết liên quan đến phản đối quyền tài phán, ngày 20/3/2009, mục 100.
424
425
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT
GIÁO TRÌNH LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật đầu tư quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_luat_dau_tu_quoc_te.pdf

