Sự khác biệt của chi phí trong pháp luật kế toán và pháp luật thuế

Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1619-1626  
Bài tổng quan  
Open Access Full Text Article  
Sự khác biệt của chi phí trong pháp luật kế toán và pháp luật thuế  
Trần Thị Thu Ngân*  
TÓM TẮT  
Chi phí là một trong những thông tin quan trọng hàng đầu trong quá trình tổ chức điều hành hoạt  
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí ở góc độ khoa học có nhiều định nghĩa khác  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
nhau và theo quy định của pháp luật cũng có sự khác biệt ở những văn bản quy phạm pháp luật  
khác nhau. Đối với các nhà quản lý, đặc biệt là quản lý về tài chính của doanh nghiệp, vấn đề tuân  
thủ luật pháp bên cạnh việc tối ưu hóa giá trị của doanh nghiệp là yêu cầu song song. Tuy nhiên,  
trên thực tế, hai mục tiêu này trong một vài trường hợp lại đối kháng nhau. Thậm chí, về cùng một  
vấn đề nhưng các văn bản quy phạm pháp luật lại có những khác biệt đáng lưu ý. Chính vì vậy,  
phân biệt chi phí theo quy định của pháp luật kế toán và chi phí theo pháp luật thuế là một đòi  
hỏi cần thiết cho bất cứ nhà quản lý nào, để họ có thể dự liệu được hậu quả pháp lý khi lựa chọn  
hành vi của mình. Bài viết trên cơ sở trình bày, liệt kê sự khác biệt của chi phí trong quy định của  
pháp luật về kế toán và pháp luật về thuế đã đưa ra một số các khuyến nghị sửa đổi, bổ sung cho  
phù hợp về chi phí, giúp cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế thuận lợi hơn khi  
phát sinh các giao dịch liên quan đến chi phí trong quá trình hoạt động, từ đó tạo sự bình đẳng  
giữa các doanh nghiệp, kích thích kinh tế phát triển.  
Từ khoá: chi phí kế toán, chi phí thuế, sự khác nhau  
cơ sở so sánh với chi phí theo quy định của pháp luật  
thuế. Từ đó có những bình luận về tính hợp lý của các  
GIỚI THIỆU  
Với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, cùng với  
quy định trong pháp luật thuế về chi phí. Trên cơ sở  
mong muốn hội nhập vào nền kinh tế thế giới, chúng  
này, tác giả cũng có những khuyến nghị nhằm hoàn  
ta đã có những cố gắng trong việc khuyến khích người  
thiện các quy định của pháp luật thuế liên quan đế chi  
phí.  
dân tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên  
cạnh những chính sách về kinh tế thì pháp luật cũng  
là một trong những lĩnh vực được đặc biệt chú trọng.  
Cụ thể là pháp luật về kế toán. Nhà nước đã ban hành  
CƠ SỞ LÝ THUYẾT  
Trường Đại học Kinh tế Luật,  
ĐHQG-HCM, Việt Nam  
các chuẩn mực kế toán cũng như các chế độ kế toán Sự khác biệt của chi phí trong quy định pháp luật kế  
phù hợp với quy mô đa dạng của các doanh nghiệp  
trên cơ sở tham khảo các chuẩn mực kế toán quốc tế.  
Từ đó rút ngắn được khoảng cách giữa chuẩn mực kế  
toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế.  
toán và pháp luật thuế xuất phát từ bản chất của kế  
toán và thuế.  
Pháp luật kế toán dựa trên các chuẩn mực kế toán [1,  
Khoản 1, Điều 7], các chế độ kế toán [1, Khoản 2,  
Điều 3]. Và các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán  
này được xây dựng dựa trên các cơ sở sau:  
ứ nhất, lý thuyết kế toán chuẩn tắc (Normative Ac-  
counting eory) diễn giải cho chúng ta các quy định  
của khung nguyên tắc kế toán (Accounting Frame-  
work) và các chuẩn mực kế toán. Lý thuyết kế toán  
chuẩn tắc quy định các nghiệp vụ phát sinh thì cần  
phải được ghi nhận và công bố như thế nào. Điều đó  
có nghĩa là lý thuyết kế toán chuẩn tắc trả lời câu hỏi  
“người lập báo cáo tài chính được yêu cầu phải làm  
cái gì?”[3, Trang 7].  
Liên hệ  
Trần Thị Thu Ngân, Trường Đại học Kinh tế  
Luật, ĐHQG-HCM, Việt Nam  
Email: [email protected]u.vn  
Tuy nhiên, dưới gốc độ thuế và quản lý thuế, các  
chuẩn mực kế toán này được áp dụng trong các chế  
độ kế toán có một độ chênh nhất định. Cụ thể là sự  
khác biệt trong chuẩn mức kế toán về chi phí và pháp  
luật thuế về chi phí. Sự khác biệt này là đương nhiên vì  
vai trò của kế toán và thuế ngay từ bản chất đã không  
giống nhau. Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra,  
phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới  
hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động [1,  
Khoản 8, Điều 3]. Trong khi đó, thuế là một khoản  
nộp ngân sách nhà nước bắt buộc của tổ chức, hộ gia  
đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các  
luật thuế [2, Khoản 1, Điều 3].  
Lịch sử  
• Ngày nhận: 18/01/2021  
• Ngày chấp nhận: 27/05/2021  
• Ngày đăng: 03/06/2021  
DOI : 10.32508/stdjelm.v5i3.763  
Bản quyền  
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố  
mở được phát hành theo các điều khoản của  
the Creative Commons Attribution 4.0  
International license.  
ứ hai, các chuẩn mực kế toán quốc tế (International  
Accounting Standards) là những qui định và hướng  
Bài viết sẽ phân tích và trình bày một số sự khác biệt  
của chi phí theo quy định của pháp luật kế toán trên dẫn về các nguyên tắc, phương pháp kế toán có tính  
Trích dẫn bài báo này: Ngân T T T. Sự khác biệt của chi phí trong pháp luật kế toán và pháp luật thuế.  
Sci. Tech. Dev. J. - Eco. Law Manag.; 5(3):1619-1626.  
1619  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1619-1626  
khuôn mẫu, nền tảng chung cho các quốc gia trong  
việc ghi chép và trình bày hệ thống báo cáo tài chính.  
Dựa trên các cơ sở này, pháp luật kế toán quy định  
các chuẩn mực kế toán cũng như các chế độ kế toán  
cho Việt Nam, trong đó có các quy định về chi phí.  
Một trong những yêu cầu của thông tin kế toán đó là  
thông tin kế toán phải đầy đủ. Mọi nghiệp vụ kinh tế,  
tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được  
ghi chép và báo cáo đầy đủ [4, Trang 28].  
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CHI PHÍ THEO  
PHÁP LUẬT KẾ TOÁN VÀ PHÁP LUẬT  
THUẾ  
Chi phí là một khái niệm cơ bản nhất trong hoạt động  
sản xuất kinh doanh của bất kỳ một chủ thể kinh  
doanh nào trên thị trường. Bởi vì, để tối đa hóa lợi  
nhuận, chủ thể kinh doanh bắt buộc phải tối thiểu hóa  
chi phí. Vậy, chi phí là gì?  
Trong từ điển kinh tế, “chi phí là cái mà chúng ta từ  
bỏ để nhận được một cái gì đó, có thể thông qua hành  
vi mua, trao đổi hay sản xuất” [7, trang 40]. Dưới gốc  
độ kinh doanh, “Chi phí sản xuất kinh doanh của một  
doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao  
phí về vật chất và về lao động mà doanh nghiệp phải  
bỏ ra để sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và một số khoản  
tiền thuế gián thu mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực  
hiện hoạt động sản xuất - kinh doanh trong một thời  
kỳ nhất định” [8, Trang 125]. Ngoài ra, theo chuẩn  
mực kế toán Việt Nam số 01 “Chuẩn mực chung” thì  
“Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích  
kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền  
chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các  
khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không  
bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở  
hữu” [9, Điểm b khoản 31].  
Như vừa trình bày, hiện nay có nhiều quan điểm khác  
nhau về khái niệm chi phí, nhưng tựu chung lại, chi  
phí doanh nghiệp là toàn bộ các khoản chi phát sinh  
liên quan đến hoạt động thường xuyên của doanh  
nghiệp trong một thời kỳ nhất định.  
Đối với pháp luật về kế toán, thì nguyên tắc kế toán  
chi phí trong quy định về hướng dẫn chế độ kế toán  
doanh nghiệp quy định:  
“1. Chi phí là những khoản làm giảm lợi ích kinh  
tế, được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh  
hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh  
trong tương lai không phân biệt đã chi tiền hay chưa.  
2. Việc ghi nhận chi phí ngay cả khi chưa đến kỳ hạn  
thanh toán nhưng có khả năng chắc chắn sẽ phát sinh  
nhằm đảm bảo nguyên tắc thận trọng và bảo toàn vốn.  
Chi phí và khoản doanh thu do nó tạo ra phải được ghi  
nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp. Tuy nhiên  
trong một số trường hợp, nguyên tắc phù hợp có thể  
xung đột với nguyên tắc thận trọng trong kế toán, thì  
kế toán phải căn cứ vào bản chất và các Chuẩn mực  
kế toán để phản ánh giao dịch một cách trung thực,  
Pháp luật về thuế, ở khía cạnh quản lý nhà nước về  
thuế, lại dựa trên các cơ sở khoa học sau:  
ứ nhất, học thuyết về thuế của Adam Smith (1723 –  
1790): Có thể nói Adam Smith là người đặt nền móng  
đầu tiên cho học thuyết về thuế. eo ông, “uế của  
quốc gia, phù hợp với khả năng và thực lực của mình,  
có thể tham gia vào điều hành Chính phủ, có nghĩa  
là phù hợp với những nguồn thu, chúng sẽ được sử  
dụng với mục đích bảo vệ đất nước. Khoản thuế, mà  
mỗi một người bắt buộc phải đóng góp, cần phải được  
xác định chính xác, chứ không thể tùy tiện, chuyên  
quyền, độc đoán. ời hạn nộp thuế, cách thức nộp  
thuế và cả những người khác… Việc không xác định  
qui củ khoản nộp thuế sẽ làm tăng tính vô liêm sỉ và  
bị mua chuộc, đút lót ở những người, mà vốn dĩ ngay  
cả trong môi trường lành mạnh đã không tách khỏi  
được tính vô liêm sỉ và mua chuộc. Xác định chính  
xác số tiền mà mỗi người phải nộp là việc chính trong  
bài toán thuế. Cần nộp lúc nào, bằng cách nào, khi  
nào và như thế nào… mỗi loại thuế phải làm sao đó  
để người nộp thuế cảm thây thuận tiện nhất khi nộp  
chúng. Việc thu thuế cũng phải suy nghĩ và tính đến  
khả năng số tiền thu được có thể ít hơn số tiền thực  
đưa vào trong kho bạc Nhà nước… Rõ ràng rằng sự  
công bằng ít nhiều luôn gây được sự chú ý của các tầng  
lớp nhân dân.”5  
eo thuyết tương đương thì thuế thu nhập doanh  
nghiệp (TNDN) là một hình thức bồi hoàn những lợi  
thế mà Nhà nước đã thực hiện cho các doanh nghiệp  
sử dụng. Những lợi thế này có thể là những ưu đãi  
về thuế TNDN, cơ sở hạ tầng nơi doanh nghiệp tiến  
hành hoạt động sản xuất kinh doanh, sự bảo vệ bằng  
pháp luật của nhà nước trong những vấn đề về hợp  
đồng, sự bảo hộ của nhà nước trong ban hành các quy  
định về cạnh tranh…  
Trên cơ sở các lý thuyết vừa đề cập, pháp luật thuế  
về chi phí đưa ra các “hàng rào” kỹ thuật, đó chính  
là những quy định ràng buộc để chi phí kế toán trở  
thành chi phí thuế. Dựa vào đó, nhà nước tiến hành hợp lý”.[10, Điều 82]  
thu thuế, để thuế là nguồn thu thường xuyên, tương Nguyên tắc kế toán chi phí trong quy định về hướng  
đối ổn định tạo lập ngân sách nhà nước[6, Trang 25]. dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng quy  
Ngoài ra, những điều kiện để chi phí được đưa vào định:  
chi phí thuế đã giúp thuế điều tiết thu nhập, thực hiện “1. Chi phí là những khoản làm giảm lợi ích kinh  
công bằng xã hội [5, Trang 31].  
tế, được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh  
1620  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1619-1626  
hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh chịu sự điều chỉnh của pháp luật, chắc chắn phải tuân  
trong tương lai không phân biệt đã chi tiền hay chưa.  
2. Việc ghi nhận chi phí ngay cả khi chưa đến kỳ hạn  
thanh toán nhưng có khả năng chắc chắn sẽ phát sinh  
nhằm đảm bảo nguyên tắc thận trọng và bảo toàn vốn.  
Chi phívà khoản doanh thu do nó tạo ra phải được ghi  
nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp. Tuy nhiên  
trong một số trường hợp, nguyên tắc phù hợp có thể  
xung đột với nguyên tắc thận trọng trong kế toán, thì  
kế toán phải căn cứ vào bản chất của giao dịch để phản  
ánh một cách trung thực, hợp lý” [11, Điều 59].  
Pháp luật thuế về chi phí của doanh nghiệp bao gồm  
những quy định của pháp luật đối với chi phí của  
doanh nghiệp mà chi phí này cần thiết để xác định,  
từ đó phục vụ quá trình xác định số thuế mà doanh  
nghiệp phải nộp. eo quy định của pháp luật thuế,  
đối với phương pháp tính thuế kê khai, khi đó, chi phí  
là một chỉ tiêu cực kỳ quan trọng nhưng lại rất phức  
tạp. eo đó, chi phí lại được phân chia thành chi  
phí được trừ và chi phí không được trừ khi tính thuế  
TNDN. eo quy định hiện tại, để đáp ứng là chi phí  
được trừ, khoản chi này phải đáp ứng các điều kiện  
cần sau đây:  
theo. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, một số  
các quy định của pháp luật cũng bộc lộ một vài bất  
cập nhất định, làm ảnh hưởng tới động lực phát triển  
của các chủ thể kinh doanh. Dưới đây tác giả sẽ trình  
bày một số quy định có sự khác nhau giữa kế toán và  
thuế, từ đó sẽ đưa ra những khuyến nghị chỉnh sửa  
các quy định cho phù hợp.  
Thực trạng pháp luật về thời điểm, mức  
trích khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) và  
khuyến nghị hoàn thiện  
Pháp luật về thuế quy định, chi khấu hao đối với tài  
sản cố định trừ tài sản cố định thuê mua tài chính  
không có giấy tờ chứng minh thuộc quyền sở hữu của  
doanh nghiệp sẽ không được đưa vào chi phí được trừ  
khi tính thuế TNDN [13, Điểm b, Khoản 2.2, Điều  
6]. Tuy nhiên, thời điểm bắt đầu trích hoặc thôi trích  
khấu hao TSCĐ được thực hiện bắt đầu từ ngày (theo  
số ngày của tháng) mà TSCĐ tăng hoặc giảm [14  
,
Khoản 9 Điều 9] theo nguyên tắc của kế toán. Doanh  
nghiệp thực hiện hạch toán tăng, giảm TSCĐ theo  
quy định hiện hành về chế độ kế toán doanh nghiệp.  
Nghĩa là, trong một số trường hợp, đặc biệt liên quan  
đến thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu ở Việt  
Nam hiện nay có thể kéo dài, dẫn đến tình trạng có sự  
khác biệt giữa thời điểm trích khấu hao và đưa chi phí  
trích khấu hao vào chi phí được trừ. Chính vì sự khác  
biệtvề thờiđiểm trích khấuhao khi áp dụngtheo pháp  
luật thuế và pháp luật kế toán dẫn đến nhiều doanh  
nghiệp sẽ trích khấu hao đúng thời điểm theo quy  
định của pháp luật về kế toán nhưng lại chưa được đưa  
Một là, khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt  
động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;  
Hai là, khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp  
theo quy định của pháp luật. Và khoản chi nếu có hóa  
đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20  
triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi  
thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng  
tiền mặt. [11, Khoản 1, Điều 6].  
Song song đó, để được coi là chi phí được trừ trong  
tính thuế TNDN, các chi phí mà doanh nghiệp đã  
thực hiện cũng phải đáp ứng thêm điều kiện đủ. Đó vào chi phí được. Ví dụ trường hợp Công ty Cổ phần  
là khoản chi phải không thuộc vào 37 các khoản chi  
Sản xuất Xuất Nhập khẩu NHP bị Cục thuế Hà Nội  
phạt hơn 511 triệu đồng15 liên quan nhiều sai phạm  
trong đó có kê khai chi phí trích khấu hao nhà xưởng  
của tài sản chưa thuộc quyền sở hữu của Công ty, chưa  
đủ điều kiện trích khấu hao.  
không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế [12  
Khoản 2, Điều 6].  
,
Như vậy, với những quy định vừa trình bày, cơ bản  
chúng ta đều nhận thấy, chi phí do pháp luật kế toán  
quy định lúc nào cũng lớn hơn chi phí do pháp luật  
thuế điều chỉnh. Sự khác biệt này hoàn toàn có thể  
giải thích một cách đơn giản xuất phát từ bản chất  
của kế toán và thuế như đã trình bày ở phần cơ sở lý  
thuyết. Nhận thấy được khác biệt này giúp cho người  
làm kế toán trong doanh nghiệp phản ảnh được đầy  
đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhưng cũng tính  
toán được đầy đủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp.  
Do đó, về nội dung ông tư 96/2015/TT-BTC đối với  
việc trích khấu hao TSCĐ, tác giả cho rằng cần thiết  
để ban hành nội dung điều kiện trích khấu hao, đặc  
biệt là thời điểm trích khấu hao cho đồng nhất với  
Luật Kế toán, vì theo tác giả, một khi doanh nghiệp  
đã đưa tài sản vào sử dụng và đủ điều kiện trích khấu  
hao theo quy định của pháp luật về kế toán thì về cơ  
bản, tài sản cũng đã được sử dụng hợp pháp và chính  
vì vậy, không có lý do gì lại không được ghi nhận là  
chi phí được trừ, trừ khi cơ quan quản lý nhà nước  
xác định việc sử dụng này là không trung thực.  
Ngoài ra, đối với mức trích khấu hao, pháp luật kế  
toán về chi phí khấu hao TSCĐ hữu hình dựa vào  
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT KẾ TOÁN,  
PHÁP LUẬT THUẾ VỀ CHI PHÍ VÀ  
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN  
Tuy có sự khác biệt giữa quy định của kế toán và thuế  
về chi phí, nhưng đương nhiên, các doanh nghiệp nguyên giá. Nghĩa là khấu hao căn cứ vào toàn bộ các  
1621  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1619-1626  
chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được TSCĐ đồng [19, Điều 7] từ 25/02/2019. Nghĩa là, nếu vì bản  
hữu hình tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng chất bảo vệ nguồn thu thuế cho Nhà nước, mà quy  
thái sẵn sàng sử dụng [16, Khoản 5].  
định định mức khống chế thì định mức này cũng cần  
Trong khi đó, pháp luật về chi phí được trừ khi tính có sự điều chỉnh theo sự trượt giá của đồng tiền cùng  
với thời gian, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh  
doanh cạnh tranh công bằng.  
thuế TNDN quy định: “Phần trích khấu hao tương ứng  
với nguyên giá vượt trên 1,6 tỷ đồng/xe đối với ô tô chở  
người từ 9 chỗ ngồi trở xuống (trừ: ô tô dùng cho kinh  
doanh vận tải hành khách, kinh doanh du lịch, khách  
sạn; ô tô dùng để làm mẫu và lái thử cho kinh doanh  
ô tô) sẽ tính vào chi phí không được trừ” [13, Điểm e,  
Khoản 2.2, Điều 4]. Quy định của luật thuế giá trị gia  
tăng (GTGT) về khấu trừ thuế GTGT đầu vào thì “Tài  
sản cố định là ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống  
(trừ ô tô sử dụng vào kinh doanh vận chuyển hàng hoá,  
hành khách, kinh doanh du lịch, khách sạn; ô tô dùng  
để làm mẫu và lái thử cho kinh doanh ô tô) có trị giá  
vượt trên 1,6 tỷ đồng (giá chưa có thuế GTGT) thì số  
thuế GTGT đầu vào tương ứng với phần trị giá vượt  
trên 1,6 tỷ đồng không được khấu trừ” [17, Khoản 3  
Điều 9].  
Tuy nhiên, câu hỏi được đặt ra là căn cứ vào đâu pháp  
luật hiện hành lại đưa ra một con số cố định 1,6 tỷ  
đồng, là giá trị tối đa được đưa vào chi phí được trừ  
khi tính thuế TNDN và số thuế GTGT đầu vào tương  
ứng với phần trị giá vượt trên 1,6 tỷ đồng không được  
khấu trừ?  
Có ý kiến cho rằng, khoản chi được đưa vào chi phí  
được trừ “có khoản lại giới hạn mức tối thiểu”[6,  
Trang 308]. Tác giả không đồng ý với quan điểm này,  
vì về suy luận logic, pháp luật thuế đưa ra những giới  
hạn để tránh việc đưa vào chi phí một cách không  
hợp lý thì giới hạn về chi phí phải là mức tối đa. Tuy  
nhiên, cho dù nhà nước dùng biện pháp khống chế  
hoặc ấn định mức chi được sử dụng hay căn cứ vào  
định mức nhằm tránh tình trạng doanh nghiệp lập  
chứng từ khống chi tạo hiện tượng lỗ giả [6, Trang  
308] thì tác giả cũng không đồng tình với ý kiến này.  
Tác giả cho rằng, trên thực tế, không có cơ sở nào để  
đưa ra quy định như trên, nghĩa là không nên giới hạn  
mức chi. Bởi vì một số lý do như sau:  
Chính vì vậy, tác giả khuyến nghị cần sớm bãi bỏ quy  
định khống chế này, để cho các chủ thể kinh doanh  
được phép tự do trang bị cơ sở vật chất cho phù hợp  
với hình ảnh của đơn vị, đặc biệt trong tình hình hiện  
nay, xe ô tô cũng chỉ là một phương tiện và doanh  
nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này họ cũng đã thực  
hiện nghĩa vụ thuế theo đúng quy định thì chỉ cần  
tuân thủ các điều kiện chung về chi phí được trừ như  
đã đề cập ở trên là được đưa vào chi phí được trừ khi  
tính thuế TNDN.  
Thực trạng pháp luật về chi phí lãi vay và  
khuyến nghị hoàn thiện.  
eo chuẩn mực kế toán, chi phí lãi vay hay chi phí  
đi vay là lãi tiền vay và các chi phí khác phát sinh liên  
quan trực tiếp đến các khoản vay của doanh nghiệp  
[
20, Khoản 03].  
Tuy nhiên, chi phí lãi vay lại bị loại trừ khi tính thuế  
TNDN trong hai trường hợp sau:  
Một là, đối với trường hợp chưa đóng đủ vốn điều  
lệ, không được đưa khoản chi phí lãi vay tương ứng  
phần vốn điều lệ còn thiếu vào chi phí được trừ [13  
Mục 2.18 Khoản 2, Điều 4].  
,
Hai là, đối với trường hợp đã đóng đủ vốn điều lệ thì  
doanh nghiệp được đưa toàn bộ chi phí lãi vay vào chi  
phí được trừ nếu doanh nghiệp này vay của tổ chức  
tín dụng hoặc tổ chức kinh tế. Trong trường hợp nếu  
vay cá nhân thì chỉ đưa tối đa 150% lãi suất cơ bản do  
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm  
vay [13, Mục 2.17 Khoản 2, Điều 4]. Hiện nay, lãi suất  
cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố  
là 9%, con số 9% này đã trải qua nhiều năm, từ 2009  
đến nay mặccho tình hình kinh tế xã hội mỗi nămmỗi  
khác nhau và ngày càng phát triển [21, Điều 1]. Nghĩa  
là, doanh nghiệp chỉ đưa tối đa 150% x 9% là 13,5% chi  
phí lãi vay vào chi phí được trừ trong trường hợp vay  
của cá nhân không phải là tổ chức tín dụng, tổ chức  
kinh tế thì theo quy định của ông tư số96/2015/TT-  
BTC.  
Một là. kể từ ngày 06/08/2015, pháp luật đã bãi bỏ  
quy định mức khống chế 15% đối với các chi phí tiếp  
khách, quảng cáo, quà cho biếu tặng theo khoản 2  
Điều 14 ông tư 96/2015/TT-BTC sửa đổi bổ sung  
ông tư 78/2014/TT-BTC. Nghĩa là xu hướng chung,  
các mức khống chế các khoản chi dần cần được bãi bỏ  
mà hướng theo việc nâng cao năng lực quản lý để xác  
định các khoản chi thực chất phục vụ cho hoạt động  
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.  
Mặt khác, tại Điều 468 Bộ luật dân sự (BLDS) 2015  
quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường  
hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo  
thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản  
Hai là, nếu dựa vào căn cứ vào định mức xe ô tô của tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định  
công ty Nhà nước làm hệ quy chiếu thì hiện nay, mức khác.”  
chi tối đa 840 triệu đồng [18, Khoản 1 Điều 10] được Từ các liệt kê trên, rõ ràng chúng ta thấy rằng có sự  
thực hiện từ năm 2015 đã được thay thế mức 920 triệu không hợp lý đối với quy định này. Việc quy định  
1622  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1619-1626  
như vậy tạo ra sự không công bằng cho các doanh được trừ khi người này có trực tiếp tham gia điều  
hành sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.  
eo quy định tại Mục d, Khoản 2.5, Điều 6 của  
ông tư số 78/2014/TT-BTC hướng dẫn tiền lương  
chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ công ty trách nhiệm  
hữu hạn một thành viên (do một cá nhân làm chủ)  
thì:  
” d) Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư  
nhân, chủ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành  
viên (do một cá nhân làm chủ); thù lao trả cho các  
sáng lập viên, thành viên của hội đồng thành viên, hội  
đồng quản trị mà những người này không trực tiếp  
tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh.”  
Như vậy, theo quy định của ông tư 78/2014/TT-  
BTC thì tiền lương của chủ công ty trách nhiệm hữu  
hạn một thành viên (do một cá nhân làm chủ) là  
khoản chi không được trừ với bất kỳ lý do nào, không  
quan tâm đến việc người đó có trực tiếp tham gia hoạt  
động sản xuất kinh doanh hay không.  
Do đó khi đọc các văn bản trên tác giả nhận thấy  
rằng, cùng một nội dung là chi phí lương của chủ công  
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (do một cá  
nhân làm chủ) nhưng hướng dẫn tại ba văn bản đều  
khác nhau và nghiêm trọng hơn trong trường hợp này  
ông tư lại hướng dẫn trái với quy định của luật. Cụ  
thể được chỉ ra như sau:  
nghiệp, cũng như là hạn chế sự lựa chọn nguồn vay  
vốn của các doanh nghiệp này. Cụ thể, BLDS cho  
phép thỏa thuận mức lãi suất đến 20%/năm, trong khi  
ông tư số 96/2015/TT-BTC chỉ cho phép tính vào  
chi phí được trừ dưới mức lãi suất là 13,5%/năm, quy  
định như vậy tạo ra đã tạo sự khác biệt khá lớn và sự  
khác biệt này ảnh hưởng không nhỏ đến tài chính của  
doanh nghiệp.  
Từ những nhìn nhận trên, tác giả đưa ra kiến nghị  
nhằm hoàn thiện pháp luật về thuế TNDN liên quan  
đến chi phí lãi vay như sau: không nên phân biệt  
doanh nghiệp đi vay từ tổ chức tín dụng hay tổ chức  
kinh tế hoặc vay của cá nhân, nếu doanh nghiệp thật  
sự đi vay và đáp ứng các quy định của pháp luật về  
các khoản chi được trừ. Kiến nghị này cũng hợp lý vì  
theo quy định của pháp luật, khoản lợi tức từ việc cho  
vay, bên cho vay vẫn phải gánh chịu các loại thuế thu  
nhập tương ứng, như thuế TNDN hoặc thuế thu nhập  
cá nhân từ đầu tư vốn.  
Thựctrạngquyđịnhcủaphápluậtvềchiphí  
tiền công, tiền lương của chủ doanh nghiệp  
tư nhân, chủ công ty trách nhiệm hữu hạn  
một thành viên (do một cá nhân làm chủ) và  
khuyến nghị hoàn thiện  
ứ nhất, theo quy định của luật thuế TNDN, tiền  
lương của chủ công ty trách nhiệm hữu hạn một  
thành viên (do một cá nhân làm chủ) được trừ nếu  
thỏa mãn các quy định tại Khoản 1, Điều 9, Luật thuế  
TNDN số 14/2008/QH12, được sửa đổi bởi Khoản 3  
Điều 1 Luật số 71/2014/QH13 về thuế sửa đổi 2014.  
Cụ thể là: Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến  
hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;  
khoản chi cho hoạt động giáo dục nghề nghiệp; khoản  
chi thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của  
doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; Khoản chi  
có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.  
Đối với hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có  
giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên phải có chứng từ  
thanh toán không dùng tiền mặt, trừ các trường hợp  
không bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không  
dùng tiền mặt theo quy định của pháp luật.  
eo quy định tại Mục k, Khoản 2, Điều 9, Luật thuế  
TNDN số 14/2008/QH12, được sửa đổi bổ sung bởi  
khoản 5 điều 1 Luật thuế TNDN sửa đổi năm 2013,  
khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập  
chịu thuế gồm: “Tiền lương, tiền công của chủ doanh  
nghiệp tư nhân; thù lao trả cho sáng lập viên doanh  
nghiệp không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất,  
kinh doanh; tiền lương, tiền công, các khoản hạch  
toán chi khác để chi trả cho người lao động nhưng  
thực tế không chi trả hoặc không có hóa đơn, chứng  
từ theo quy định của pháp luật;”  
Như vậy, theo quy định trên của Luật thuế TNDN thì  
tiền lương của chủ công ty trách nhiệm hữu hạn một  
thành viên (do một cá nhân làm chủ) là chi phí được  
trừ.  
eo quy định tại Mục m, Khoản 2, Điều 9, Nghị định  
số 218/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật thuế TNDN thì:  
”m) Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư  
nhân; chủ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành  
viên (do một cá nhân làm chủ), thù lao trả cho thành  
viên sáng lập doanh nghiệp mà những người này  
không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh  
doanh;”  
ứ hai, theo Nghị định số 218/2013/NĐ-CP, ngoài  
việc phải thỏa mãn quy định tại Khoản 1, Điều 9,  
tiền lương của chủ công ty trách nhiệm hữu hạn một  
thành viên (do một cá nhân làm chủ) còn phải thỏa  
mãn điều kiện là người này có trực tiếp tham gia điều  
hành sản xuất, kinh doanh.  
ứ ba, theo quy định của ông tư số 78/2014/TT-  
BTC, tiền lương của chủ công ty trách nhiệm hữu hạn  
Như vậy, theo quy định của Nghị định 218/2013/NĐ-  
CP thì tiền lương của chủ công ty trách nhiệm hữu một thành viên (do một cá nhân làm chủ) không được  
hạn một thành viên (do một cá nhân làm chủ) chỉ trừ trong mọi trường hợp.  
1623  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1619-1626  
Liên quan đến vấn đề trên, trong thời gian qua Quốc của người sản xuất thủ công không kinh doanh trực  
tiếp bán ra. Tuy nhiên, trên thực tế đa số các doanh  
nghiệp mua các hàng hoá, sản phẩm trên với số lượng  
lớn nên không thuận tiện để liên hệ trực tiếp với từng  
người nông dân, người trực tiếp sản xuất được mà  
các doanh nghiệp thường sẽ mua thông qua một đối  
tượng thu gom hàng hoá, sản phẩm trực tiếp từ người  
nông dân hoặc người trực tiếp sản xuất để phục vụ  
cho hoạt động kinh doanh của mình. Đối tượng thu  
gom này mang vai trò là trung gian cho những người  
nông dân để cung cấp hàng hoá, sản phẩm cho doanh  
nghiệp nhưng nếu doanh nghiệp lập bảng kê thu mua  
hàng hoá sản phẩm từ đối tượng này và kèm theo  
chứng từ thanh toán cũng không được tính vào chi  
phí được trừ. Với quy định chỉ được tính vào chi phí  
được trừ khi lập bảng kê kèm chứng từ thanh toán với  
từng người nông dân, người trực tiếp sản xuất điều  
này sẽ gây rất nhiều khó khăn về thời gian và chi phí  
cho doanh nghiệp, không tạo được điều kiện thuận  
lợi để các doanh nghiệp kinh doanh phát triển.  
hội đã chỉnh sửa, bổ sung một số điều của Luật thuế  
theo Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014, Chính  
phủ cũng đã ban hành Nghị định 12/2015/NĐ-CP và  
ông tư hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân đối  
với thu nhập từ đầu tư vốn đối của chủ sở hữu Công  
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (do một cá  
nhân làm chủ). eo đó, thu nhập từ đầu tư vốn trong  
trường hợp này sẽ không phải nộp thuế thu nhập cá  
nhân. Nghĩa là, pháp luật hiện hành đã thừa nhận  
không đưa chi phí tiền lương của chủ công ty trách  
nhiệm hữu hạn do một cá nhân làm chủ vào chi phí  
được trừ khi tính thuế TNDN. Như vậy, nếu thừa  
nhận quan điểm này, để thống nhất giữa các văn bản  
quy phạm pháp luật, hạn chế tối đa các bất cập khi  
triển khai vào thực tế thiết nghĩ Chính phủ cần chỉnh  
sửa Nghị định 218/2013/NĐ-CP và Quốc hội chỉnh  
sửa Luật thuế TNDN cho phù hợp với các quy định  
khác về cùng một vấn đề.  
Chính vì thế, tác giả đề nghị pháp luật về thuế TNDN  
cần nới lỏng cho doanh nghiệp đối với việc lập các  
bảng kê khi mua hàng không có hóa đơn của những  
người nông dân trực tiếp sản xuất ra, cần thiết cho  
phép doanh nghiệp mua từ những người thu gom trực  
tiếp từ người nông dân và những người trực tiếp sản  
xuất đánh bắt ra. Trong trường hợp này doanh nghiệp  
vẫn được tính vào chi phí được trừ nếu có đầy đủ  
chứng từ sau: lập bảng kê thu mua hàng hoá, dịch  
vụ theo mẫu số 01/TNDN ban hành kèm theo ông  
tư số 78/2014/TT-BTC, hợp đồng mua bán, chứng từ  
thanh toán cho người thu gom. Sự thay đổi này sẽ  
làm cho việc áp dụng đúng quy định của pháp luật  
trở nên dễ dàng hơn, doanh nghiệp sẽ tự giác áp dụng  
chứ không phải thực hiện hành vi trái quy định pháp  
luật nhằm đưa khoản chi này vào chi phí được trừ, khi  
mua hàng hóa dịch vụ của người nông dân và những  
người trực tiếp sản xuất đánh bắt ra. Từ đó tạo một  
hành lang pháp lý vững chắc và đáng tin tưởng cho  
doanh nghiệp.  
Thực trạngpháp luật quy định vềmột số các  
khoản chi được lập bảng kê và khuyến nghị  
hoàn thiện  
ông tư số 78/2014/TT-BTC tại Khoản 2.4 Điều 6  
quy định về chi phí không được trừ đối với chi phí  
của doanh nghiệp mua hàng hóa, dịch vụ (không có  
hóa đơn, được phép lập Bảng kê thu mua hàng hóa,  
dịch vụ mua vào theo mẫu số 01/TNDN kèm theo  
ông tư này) nhưng không lập Bảng kê kèm theo  
chứng từ thanh toán cho người bán hàng, cung cấp  
dịch vụ trong các trường hợp.  
Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ do người đại diện  
theo pháp luật hoặc người được ủy quyền của doanh  
nghiệp ký và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính  
chính xác, trung thực. Doanh nghiệp mua hàng hóa,  
dịch vụ được phép lập Bảng kê tính vào chi phí được  
trừ nêu trên không bắt buộc phải có chứng từ thanh  
toán không dùng tiền mặt. Trường hợp giá mua hàng  
hóa, dịch vụ trên bảng kê cao hơn giá thị trường tại  
thời điểm mua hàng thì cơ quan thuế căn cứ vào giá  
thị trường tại thời điểm mua hàng, dịch vụ cùng loại  
hoặc tương tự trên thị trường xác định lại mức giá để  
tính lại chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu  
thuế.  
KẾT LUẬN  
Với việc trình bày sự khác biệt giữa các quy định của  
pháp luật kế toán và pháp luật thuế về chi phí, tác giả  
đã nhận thấy một số bất cập tồn đọng ở một số quy  
định cụ thể. Từ đó, tác giả trình bày các khuyến nghị  
đối với mỗi nội dung bất cập.  
Dĩ nhiên, đây chỉ là một số những bất cập theo quan  
điểm của tác giả cho đến thời điểm nghiên cứu hiện  
tại. Sẽ có nhiều hơn hoặc ít hơn những bất cập đối  
với quan điểm của mỗi người, đặc biệt là quan điểm  
của mỗi doanh nghiệp khi gặp phải thực trạng trong  
ông tư số 78/2014/TT-BTCquy định việc mua hàng  
hóa không có hóa đơn của doanh nghiệp trong một số  
trường hợp được lập bảng kê mua hàng và được đưa  
vào chi phí được trừ. Đó là trường hợp mua hàng hóa  
là nông, lâm, thủy sản của người sản xuất, đánh bắt  
trực tiếp bán ra; mua sản phẩm thủ công làm bằng  
đay, cói, tre, nứa, lá, song, mây, rơm, vỏ dừa, sọ dừa  
hoặc nguyên liệu tận dụng từ sản phẩm nông nghiệp doanh nghiệp mình.  
1624  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1619-1626  
Tác giả mong muốn, với những phát hiện và góp ý của  
mình trong một số khoản chi phí nhất định trên đây,  
người đọc sẽ đồng quan điểm và ủng hộ việc thay đổi  
một số quy định chưa phù hợp thực tiễn.  
10. Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 của  
Bộ Tài chính về Hướng dẫn chế độ kế toán;.  
11. Thông tư 133/2016/TT-BTC ngày 26 tháng 08 năm 2016 của  
Bộ tài chính về hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ  
và vừa;.  
12. Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18 tháng 6 năm 2014  
hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26  
tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi  
hành Luật Thuế TNDN;.  
13. Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22 tháng 6 năm 2015 của  
Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế TNDN tại Nghị định số  
12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ quy định chi  
tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật  
về thuế và sửa đổi bổ sung một số điều của các Nghị định  
về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số  
78/2014/TT- BTC ngày 18/6/2014, Thông tư số 119/2014/TT-  
BTC ngày 25/8/2014, Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày  
10/10/2014 của Bộ Tài chính;.  
14. Thông tư 45/2013/TT-BTC, ngày 25 tháng 4 năm 2013 của Bộ  
trưởng Bộ Tài chính, Thông tư hướng dẫn chế độ quản lý, sử  
dụng và trích khấu hao tài sản cố định;.  
15. Từ trường hợp NHP bị phạt thuế, nhìn sang bất cập trong  
cách tính khấu hao tài sản cố định. Truy cập ngày 25 tháng 2  
năm 2019;Available from: http://ndh.vn/tu-truong-hop-nhp-  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
BLDS: Bộ luật dân sự  
GTGT: giá trị gia tăng  
TNDN: thu nhập doanh nghiệp  
TSCĐ: tài sản cố định  
TUYÊN BỐ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH  
Tác giả xin cam đoan rằng không có bất kì xung đột  
lợi ích nào trong công bố bài báo  
TUYÊN BỐ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC TÁC  
GIẢ  
Toàn bộ nội dung bài viết chỉ do tác giả thực hiện.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Quốc hội. Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015.  
2015;.  
bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12  
năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính;.  
17. Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10 tháng 10 năm 2014 của  
Bộ trưởng Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện quy định tại Nghị  
địnhsố91/2014/NĐ-CPngày01tháng10năm2014củaChính  
phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy  
định về thuế;.  
18. Quyết định Số: 32/2015/QĐ-TTg quy định tiêu chuẩn, định  
mức và chế độ quản lý, sử dụng xe ô tô trong cơ quan nhà  
nước, đơn vị sự nghiệp công lập, Công ty trách nhiệm hữu  
hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;.  
19. Nghị định 04/2019/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của  
Chính Phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô;.  
20. Chuẩn mực số 16 Chi phí đi vay, ban hành và công bố theo  
Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002  
của Bộ trưởng Bộ Tài chính;.  
2. Quốc Hội. Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày  
13/06/2019. 2006;.  
3. Phan Lê Thành Long. Kế toán thực chứng: hướng đúng phát  
triển cho Việt Nam, Tạp chí Kế toán tháng 8/2010. 2010;.  
4. Thường VK, et al. Giáo trình Nguyên lý kế toán. NXB ĐHQG  
TPHCM. 2013;.  
5. Smith A. An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth  
of Nations. 1776;.  
6. Trường Đại học Luật TPHCM. Giáo trình Luật thuế. NXB Hồng  
Đức. 2016;.  
7. Ngọc NV. Từ điển Kinh tế học. NXB Kinh tế Quốc dân;.  
8. Kết VQ, Tấn NV. Quản trị Tài chính. NXB Bưu Điện. 2008;.  
9. Bộ trưởng Bộ Tài Chính. Chuẩn mực kế toán số 1, Chuẩn  
mực chung, Ban hành và công bố theo Quyết định số  
165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng  
Bộ Tài chính. 2002;.  
21. Quyết định 2868/QĐ-NHNN ngày 29 tháng 11 năm 2010 về  
mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Thống đốc Ngân  
hàng Nhà nước;.  
1625  
                                         
Science & Technology Development Journal – Economics - Law and Management, 5(3):1619-1626  
Review  
Open Access Full Text Article  
The difference of costs in accounting law and tax law  
Tran Thi Thu Ngan*  
ABSTRACT  
Expense is one of the most important information in organizing and operating the business activi-  
ties of an enterprise. Scientific expenses have many different definitions, and according to the law,  
there are also differences in legal normative documents. For the managers, especially the financial  
management of the business, the issue of legal compliance and optimizing the value of the busi-  
ness is a parallel requirement. In practice, however, these two targets are contradictory every so  
often. Even on the same issue, legal documents have notable differences. Therefore, distinguish-  
ing between the expenses under the accounting laws and the expenses according to the tax law  
is a necessary requirement for any manager so that they can foresee the legal consequences when  
choosing appropriate behavior. The article, on the basis of presenting and listing the difference of  
expenses in the accounting law and tax law, has given a number of recommendations to suit the  
expense, helping businesses of all economic sectors more convenient when incurred transactions  
related to expenses in the process of operation, thereby creating equality among businesses and  
stimulating economic development.  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
Key words: expense of accounting, tax charges, differences  
University of Economics and Law,  
VNU-HCM, Vietnam  
Correspondence  
Tran Thi Thu Ngan, University of  
Economics and Law, VNU-HCM,  
Vietnam  
Email: nganttt@uel.edu.vn  
History  
• Received: 18/01/2021  
• Accepted: 27/05/2021  
• Published: 03/06/2021  
DOI : 10.32508/stdjelm.v5i3.763  
Copyright  
© VNU-HCM Press. This is an open-  
access article distributed under the  
terms of the Creative Commons  
Attribution 4.0 International license.  
Cite this article : Ngan T T T. The difference of costs in accounting law and tax law. Sci. Tech. Dev. J.  
-Eco. Law Manag.; 5(3):1619-1626.  
1626  
pdf 8 trang yennguyen 12260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự khác biệt của chi phí trong pháp luật kế toán và pháp luật thuế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_khac_biet_cua_chi_phi_trong_phap_luat_ke_toan_va_phap_lua.pdf