Sự khác biệt của chi phí trong pháp luật kế toán và pháp luật thuế
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1619-1626
Bài tổng quan
Open Access Full Text Article
Sự khác biệt của chi phí trong pháp luật kế toán và pháp luật thuế
Trần Thị Thu Ngân*
TÓM TẮT
Chi phí là một trong những thông tin quan trọng hàng đầu trong quá trình tổ chức điều hành hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí ở góc độ khoa học có nhiều định nghĩa khác
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
nhau và theo quy định của pháp luật cũng có sự khác biệt ở những văn bản quy phạm pháp luật
khác nhau. Đối với các nhà quản lý, đặc biệt là quản lý về tài chính của doanh nghiệp, vấn đề tuân
thủ luật pháp bên cạnh việc tối ưu hóa giá trị của doanh nghiệp là yêu cầu song song. Tuy nhiên,
trên thực tế, hai mục tiêu này trong một vài trường hợp lại đối kháng nhau. Thậm chí, về cùng một
vấn đề nhưng các văn bản quy phạm pháp luật lại có những khác biệt đáng lưu ý. Chính vì vậy,
phân biệt chi phí theo quy định của pháp luật kế toán và chi phí theo pháp luật thuế là một đòi
hỏi cần thiết cho bất cứ nhà quản lý nào, để họ có thể dự liệu được hậu quả pháp lý khi lựa chọn
hành vi của mình. Bài viết trên cơ sở trình bày, liệt kê sự khác biệt của chi phí trong quy định của
pháp luật về kế toán và pháp luật về thuế đã đưa ra một số các khuyến nghị sửa đổi, bổ sung cho
phù hợp về chi phí, giúp cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế thuận lợi hơn khi
phát sinh các giao dịch liên quan đến chi phí trong quá trình hoạt động, từ đó tạo sự bình đẳng
giữa các doanh nghiệp, kích thích kinh tế phát triển.
Từ khoá: chi phí kế toán, chi phí thuế, sự khác nhau
cơ sở so sánh với chi phí theo quy định của pháp luật
thuế. Từ đó có những bình luận về tính hợp lý của các
GIỚI THIỆU
Với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, cùng với
quy định trong pháp luật thuế về chi phí. Trên cơ sở
mong muốn hội nhập vào nền kinh tế thế giới, chúng
này, tác giả cũng có những khuyến nghị nhằm hoàn
ta đã có những cố gắng trong việc khuyến khích người
thiện các quy định của pháp luật thuế liên quan đế chi
phí.
dân tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên
cạnh những chính sách về kinh tế thì pháp luật cũng
là một trong những lĩnh vực được đặc biệt chú trọng.
Cụ thể là pháp luật về kế toán. Nhà nước đã ban hành
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Trường Đại học Kinh tế Luật,
ĐHQG-HCM, Việt Nam
các chuẩn mực kế toán cũng như các chế độ kế toán Sự khác biệt của chi phí trong quy định pháp luật kế
phù hợp với quy mô đa dạng của các doanh nghiệp
trên cơ sở tham khảo các chuẩn mực kế toán quốc tế.
Từ đó rút ngắn được khoảng cách giữa chuẩn mực kế
toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế.
toán và pháp luật thuế xuất phát từ bản chất của kế
toán và thuế.
Điều 3]. Và các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán
này được xây dựng dựa trên các cơ sở sau:
ứ nhất, lý thuyết kế toán chuẩn tắc (Normative Ac-
counting eory) diễn giải cho chúng ta các quy định
của khung nguyên tắc kế toán (Accounting Frame-
work) và các chuẩn mực kế toán. Lý thuyết kế toán
chuẩn tắc quy định các nghiệp vụ phát sinh thì cần
phải được ghi nhận và công bố như thế nào. Điều đó
có nghĩa là lý thuyết kế toán chuẩn tắc trả lời câu hỏi
“người lập báo cáo tài chính được yêu cầu phải làm
Liên hệ
Trần Thị Thu Ngân, Trường Đại học Kinh tế
Luật, ĐHQG-HCM, Việt Nam
Email: [email protected]u.vn
Tuy nhiên, dưới gốc độ thuế và quản lý thuế, các
chuẩn mực kế toán này được áp dụng trong các chế
độ kế toán có một độ chênh nhất định. Cụ thể là sự
khác biệt trong chuẩn mức kế toán về chi phí và pháp
luật thuế về chi phí. Sự khác biệt này là đương nhiên vì
vai trò của kế toán và thuế ngay từ bản chất đã không
giống nhau. Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra,
phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới
Khoản 8, Điều 3]. Trong khi đó, thuế là một khoản
nộp ngân sách nhà nước bắt buộc của tổ chức, hộ gia
đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các
Lịch sử
• Ngày nhận: 18/01/2021
• Ngày chấp nhận: 27/05/2021
• Ngày đăng: 03/06/2021
DOI : 10.32508/stdjelm.v5i3.763
Bản quyền
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố
mở được phát hành theo các điều khoản của
the Creative Commons Attribution 4.0
International license.
ứ hai, các chuẩn mực kế toán quốc tế (International
Accounting Standards) là những qui định và hướng
Bài viết sẽ phân tích và trình bày một số sự khác biệt
của chi phí theo quy định của pháp luật kế toán trên dẫn về các nguyên tắc, phương pháp kế toán có tính
Trích dẫn bài báo này: Ngân T T T. Sự khác biệt của chi phí trong pháp luật kế toán và pháp luật thuế.
Sci. Tech. Dev. J. - Eco. Law Manag.; 5(3):1619-1626.
1619
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1619-1626
khuôn mẫu, nền tảng chung cho các quốc gia trong
việc ghi chép và trình bày hệ thống báo cáo tài chính.
Dựa trên các cơ sở này, pháp luật kế toán quy định
các chuẩn mực kế toán cũng như các chế độ kế toán
cho Việt Nam, trong đó có các quy định về chi phí.
Một trong những yêu cầu của thông tin kế toán đó là
thông tin kế toán phải đầy đủ. Mọi nghiệp vụ kinh tế,
tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CHI PHÍ THEO
PHÁP LUẬT KẾ TOÁN VÀ PHÁP LUẬT
THUẾ
Chi phí là một khái niệm cơ bản nhất trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của bất kỳ một chủ thể kinh
doanh nào trên thị trường. Bởi vì, để tối đa hóa lợi
nhuận, chủ thể kinh doanh bắt buộc phải tối thiểu hóa
chi phí. Vậy, chi phí là gì?
Trong từ điển kinh tế, “chi phí là cái mà chúng ta từ
bỏ để nhận được một cái gì đó, có thể thông qua hành
độ kinh doanh, “Chi phí sản xuất kinh doanh của một
doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao
phí về vật chất và về lao động mà doanh nghiệp phải
bỏ ra để sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và một số khoản
tiền thuế gián thu mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực
hiện hoạt động sản xuất - kinh doanh trong một thời
mực kế toán Việt Nam số 01 “Chuẩn mực chung” thì
“Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích
kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền
chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các
khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không
bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở
Như vừa trình bày, hiện nay có nhiều quan điểm khác
nhau về khái niệm chi phí, nhưng tựu chung lại, chi
phí doanh nghiệp là toàn bộ các khoản chi phát sinh
liên quan đến hoạt động thường xuyên của doanh
nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Đối với pháp luật về kế toán, thì nguyên tắc kế toán
chi phí trong quy định về hướng dẫn chế độ kế toán
doanh nghiệp quy định:
“1. Chi phí là những khoản làm giảm lợi ích kinh
tế, được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh
hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh
trong tương lai không phân biệt đã chi tiền hay chưa.
2. Việc ghi nhận chi phí ngay cả khi chưa đến kỳ hạn
thanh toán nhưng có khả năng chắc chắn sẽ phát sinh
nhằm đảm bảo nguyên tắc thận trọng và bảo toàn vốn.
Chi phí và khoản doanh thu do nó tạo ra phải được ghi
nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp. Tuy nhiên
trong một số trường hợp, nguyên tắc phù hợp có thể
xung đột với nguyên tắc thận trọng trong kế toán, thì
kế toán phải căn cứ vào bản chất và các Chuẩn mực
kế toán để phản ánh giao dịch một cách trung thực,
Pháp luật về thuế, ở khía cạnh quản lý nhà nước về
thuế, lại dựa trên các cơ sở khoa học sau:
ứ nhất, học thuyết về thuế của Adam Smith (1723 –
1790): Có thể nói Adam Smith là người đặt nền móng
đầu tiên cho học thuyết về thuế. eo ông, “uế của
quốc gia, phù hợp với khả năng và thực lực của mình,
có thể tham gia vào điều hành Chính phủ, có nghĩa
là phù hợp với những nguồn thu, chúng sẽ được sử
dụng với mục đích bảo vệ đất nước. Khoản thuế, mà
mỗi một người bắt buộc phải đóng góp, cần phải được
xác định chính xác, chứ không thể tùy tiện, chuyên
quyền, độc đoán. ời hạn nộp thuế, cách thức nộp
thuế và cả những người khác… Việc không xác định
qui củ khoản nộp thuế sẽ làm tăng tính vô liêm sỉ và
bị mua chuộc, đút lót ở những người, mà vốn dĩ ngay
cả trong môi trường lành mạnh đã không tách khỏi
được tính vô liêm sỉ và mua chuộc. Xác định chính
xác số tiền mà mỗi người phải nộp là việc chính trong
bài toán thuế. Cần nộp lúc nào, bằng cách nào, khi
nào và như thế nào… mỗi loại thuế phải làm sao đó
để người nộp thuế cảm thây thuận tiện nhất khi nộp
chúng. Việc thu thuế cũng phải suy nghĩ và tính đến
khả năng số tiền thu được có thể ít hơn số tiền thực
đưa vào trong kho bạc Nhà nước… Rõ ràng rằng sự
công bằng ít nhiều luôn gây được sự chú ý của các tầng
eo thuyết tương đương thì thuế thu nhập doanh
nghiệp (TNDN) là một hình thức bồi hoàn những lợi
thế mà Nhà nước đã thực hiện cho các doanh nghiệp
sử dụng. Những lợi thế này có thể là những ưu đãi
về thuế TNDN, cơ sở hạ tầng nơi doanh nghiệp tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh, sự bảo vệ bằng
pháp luật của nhà nước trong những vấn đề về hợp
đồng, sự bảo hộ của nhà nước trong ban hành các quy
định về cạnh tranh…
Trên cơ sở các lý thuyết vừa đề cập, pháp luật thuế
về chi phí đưa ra các “hàng rào” kỹ thuật, đó chính
là những quy định ràng buộc để chi phí kế toán trở
thu thuế, để thuế là nguồn thu thường xuyên, tương Nguyên tắc kế toán chi phí trong quy định về hướng
đối ổn định tạo lập ngân sách nhà nước[6, Trang 25]. dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng quy
Ngoài ra, những điều kiện để chi phí được đưa vào định:
chi phí thuế đã giúp thuế điều tiết thu nhập, thực hiện “1. Chi phí là những khoản làm giảm lợi ích kinh
tế, được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh
1620
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1619-1626
hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh chịu sự điều chỉnh của pháp luật, chắc chắn phải tuân
trong tương lai không phân biệt đã chi tiền hay chưa.
2. Việc ghi nhận chi phí ngay cả khi chưa đến kỳ hạn
thanh toán nhưng có khả năng chắc chắn sẽ phát sinh
nhằm đảm bảo nguyên tắc thận trọng và bảo toàn vốn.
Chi phívà khoản doanh thu do nó tạo ra phải được ghi
nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp. Tuy nhiên
trong một số trường hợp, nguyên tắc phù hợp có thể
xung đột với nguyên tắc thận trọng trong kế toán, thì
kế toán phải căn cứ vào bản chất của giao dịch để phản
Pháp luật thuế về chi phí của doanh nghiệp bao gồm
những quy định của pháp luật đối với chi phí của
doanh nghiệp mà chi phí này cần thiết để xác định,
từ đó phục vụ quá trình xác định số thuế mà doanh
nghiệp phải nộp. eo quy định của pháp luật thuế,
đối với phương pháp tính thuế kê khai, khi đó, chi phí
là một chỉ tiêu cực kỳ quan trọng nhưng lại rất phức
tạp. eo đó, chi phí lại được phân chia thành chi
phí được trừ và chi phí không được trừ khi tính thuế
TNDN. eo quy định hiện tại, để đáp ứng là chi phí
được trừ, khoản chi này phải đáp ứng các điều kiện
cần sau đây:
theo. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, một số
các quy định của pháp luật cũng bộc lộ một vài bất
cập nhất định, làm ảnh hưởng tới động lực phát triển
của các chủ thể kinh doanh. Dưới đây tác giả sẽ trình
bày một số quy định có sự khác nhau giữa kế toán và
thuế, từ đó sẽ đưa ra những khuyến nghị chỉnh sửa
các quy định cho phù hợp.
Thực trạng pháp luật về thời điểm, mức
trích khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) và
khuyến nghị hoàn thiện
Pháp luật về thuế quy định, chi khấu hao đối với tài
sản cố định trừ tài sản cố định thuê mua tài chính
không có giấy tờ chứng minh thuộc quyền sở hữu của
doanh nghiệp sẽ không được đưa vào chi phí được trừ
6]. Tuy nhiên, thời điểm bắt đầu trích hoặc thôi trích
khấu hao TSCĐ được thực hiện bắt đầu từ ngày (theo
,
Khoản 9 Điều 9] theo nguyên tắc của kế toán. Doanh
nghiệp thực hiện hạch toán tăng, giảm TSCĐ theo
quy định hiện hành về chế độ kế toán doanh nghiệp.
Nghĩa là, trong một số trường hợp, đặc biệt liên quan
đến thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu ở Việt
Nam hiện nay có thể kéo dài, dẫn đến tình trạng có sự
khác biệt giữa thời điểm trích khấu hao và đưa chi phí
trích khấu hao vào chi phí được trừ. Chính vì sự khác
biệtvề thờiđiểm trích khấuhao khi áp dụngtheo pháp
luật thuế và pháp luật kế toán dẫn đến nhiều doanh
nghiệp sẽ trích khấu hao đúng thời điểm theo quy
định của pháp luật về kế toán nhưng lại chưa được đưa
Một là, khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt
động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;
Hai là, khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp
theo quy định của pháp luật. Và khoản chi nếu có hóa
đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20
triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi
thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng
Song song đó, để được coi là chi phí được trừ trong
tính thuế TNDN, các chi phí mà doanh nghiệp đã
thực hiện cũng phải đáp ứng thêm điều kiện đủ. Đó vào chi phí được. Ví dụ trường hợp Công ty Cổ phần
là khoản chi phải không thuộc vào 37 các khoản chi
Sản xuất Xuất Nhập khẩu NHP bị Cục thuế Hà Nội
trong đó có kê khai chi phí trích khấu hao nhà xưởng
của tài sản chưa thuộc quyền sở hữu của Công ty, chưa
đủ điều kiện trích khấu hao.
Khoản 2, Điều 6].
,
Như vậy, với những quy định vừa trình bày, cơ bản
chúng ta đều nhận thấy, chi phí do pháp luật kế toán
quy định lúc nào cũng lớn hơn chi phí do pháp luật
thuế điều chỉnh. Sự khác biệt này hoàn toàn có thể
giải thích một cách đơn giản xuất phát từ bản chất
của kế toán và thuế như đã trình bày ở phần cơ sở lý
thuyết. Nhận thấy được khác biệt này giúp cho người
làm kế toán trong doanh nghiệp phản ảnh được đầy
đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhưng cũng tính
toán được đầy đủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp.
Do đó, về nội dung ông tư 96/2015/TT-BTC đối với
việc trích khấu hao TSCĐ, tác giả cho rằng cần thiết
để ban hành nội dung điều kiện trích khấu hao, đặc
biệt là thời điểm trích khấu hao cho đồng nhất với
Luật Kế toán, vì theo tác giả, một khi doanh nghiệp
đã đưa tài sản vào sử dụng và đủ điều kiện trích khấu
hao theo quy định của pháp luật về kế toán thì về cơ
bản, tài sản cũng đã được sử dụng hợp pháp và chính
vì vậy, không có lý do gì lại không được ghi nhận là
chi phí được trừ, trừ khi cơ quan quản lý nhà nước
xác định việc sử dụng này là không trung thực.
Ngoài ra, đối với mức trích khấu hao, pháp luật kế
toán về chi phí khấu hao TSCĐ hữu hình dựa vào
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT KẾ TOÁN,
PHÁP LUẬT THUẾ VỀ CHI PHÍ VÀ
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
Tuy có sự khác biệt giữa quy định của kế toán và thuế
về chi phí, nhưng đương nhiên, các doanh nghiệp nguyên giá. Nghĩa là khấu hao căn cứ vào toàn bộ các
1621
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1619-1626
chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được TSCĐ đồng [19, Điều 7] từ 25/02/2019. Nghĩa là, nếu vì bản
hữu hình tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng chất bảo vệ nguồn thu thuế cho Nhà nước, mà quy
định định mức khống chế thì định mức này cũng cần
Trong khi đó, pháp luật về chi phí được trừ khi tính có sự điều chỉnh theo sự trượt giá của đồng tiền cùng
với thời gian, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh
doanh cạnh tranh công bằng.
thuế TNDN quy định: “Phần trích khấu hao tương ứng
với nguyên giá vượt trên 1,6 tỷ đồng/xe đối với ô tô chở
người từ 9 chỗ ngồi trở xuống (trừ: ô tô dùng cho kinh
doanh vận tải hành khách, kinh doanh du lịch, khách
sạn; ô tô dùng để làm mẫu và lái thử cho kinh doanh
Khoản 2.2, Điều 4]. Quy định của luật thuế giá trị gia
tăng (GTGT) về khấu trừ thuế GTGT đầu vào thì “Tài
sản cố định là ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống
(trừ ô tô sử dụng vào kinh doanh vận chuyển hàng hoá,
hành khách, kinh doanh du lịch, khách sạn; ô tô dùng
để làm mẫu và lái thử cho kinh doanh ô tô) có trị giá
vượt trên 1,6 tỷ đồng (giá chưa có thuế GTGT) thì số
thuế GTGT đầu vào tương ứng với phần trị giá vượt
Điều 9].
Tuy nhiên, câu hỏi được đặt ra là căn cứ vào đâu pháp
luật hiện hành lại đưa ra một con số cố định 1,6 tỷ
đồng, là giá trị tối đa được đưa vào chi phí được trừ
khi tính thuế TNDN và số thuế GTGT đầu vào tương
ứng với phần trị giá vượt trên 1,6 tỷ đồng không được
khấu trừ?
Có ý kiến cho rằng, khoản chi được đưa vào chi phí
Trang 308]. Tác giả không đồng ý với quan điểm này,
vì về suy luận logic, pháp luật thuế đưa ra những giới
hạn để tránh việc đưa vào chi phí một cách không
hợp lý thì giới hạn về chi phí phải là mức tối đa. Tuy
nhiên, cho dù nhà nước dùng biện pháp khống chế
hoặc ấn định mức chi được sử dụng hay căn cứ vào
định mức nhằm tránh tình trạng doanh nghiệp lập
308] thì tác giả cũng không đồng tình với ý kiến này.
Tác giả cho rằng, trên thực tế, không có cơ sở nào để
đưa ra quy định như trên, nghĩa là không nên giới hạn
mức chi. Bởi vì một số lý do như sau:
Chính vì vậy, tác giả khuyến nghị cần sớm bãi bỏ quy
định khống chế này, để cho các chủ thể kinh doanh
được phép tự do trang bị cơ sở vật chất cho phù hợp
với hình ảnh của đơn vị, đặc biệt trong tình hình hiện
nay, xe ô tô cũng chỉ là một phương tiện và doanh
nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này họ cũng đã thực
hiện nghĩa vụ thuế theo đúng quy định thì chỉ cần
tuân thủ các điều kiện chung về chi phí được trừ như
đã đề cập ở trên là được đưa vào chi phí được trừ khi
tính thuế TNDN.
Thực trạng pháp luật về chi phí lãi vay và
khuyến nghị hoàn thiện.
eo chuẩn mực kế toán, chi phí lãi vay hay chi phí
đi vay là lãi tiền vay và các chi phí khác phát sinh liên
quan trực tiếp đến các khoản vay của doanh nghiệp
[
20, Khoản 03].
Tuy nhiên, chi phí lãi vay lại bị loại trừ khi tính thuế
TNDN trong hai trường hợp sau:
Một là, đối với trường hợp chưa đóng đủ vốn điều
lệ, không được đưa khoản chi phí lãi vay tương ứng
Mục 2.18 Khoản 2, Điều 4].
,
Hai là, đối với trường hợp đã đóng đủ vốn điều lệ thì
doanh nghiệp được đưa toàn bộ chi phí lãi vay vào chi
phí được trừ nếu doanh nghiệp này vay của tổ chức
tín dụng hoặc tổ chức kinh tế. Trong trường hợp nếu
vay cá nhân thì chỉ đưa tối đa 150% lãi suất cơ bản do
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm
cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố
là 9%, con số 9% này đã trải qua nhiều năm, từ 2009
đến nay mặccho tình hình kinh tế xã hội mỗi nămmỗi
là, doanh nghiệp chỉ đưa tối đa 150% x 9% là 13,5% chi
phí lãi vay vào chi phí được trừ trong trường hợp vay
của cá nhân không phải là tổ chức tín dụng, tổ chức
kinh tế thì theo quy định của ông tư số96/2015/TT-
BTC.
Một là. kể từ ngày 06/08/2015, pháp luật đã bãi bỏ
quy định mức khống chế 15% đối với các chi phí tiếp
khách, quảng cáo, quà cho biếu tặng theo khoản 2
Điều 14 ông tư 96/2015/TT-BTC sửa đổi bổ sung
ông tư 78/2014/TT-BTC. Nghĩa là xu hướng chung,
các mức khống chế các khoản chi dần cần được bãi bỏ
mà hướng theo việc nâng cao năng lực quản lý để xác
định các khoản chi thực chất phục vụ cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Mặt khác, tại Điều 468 Bộ luật dân sự (BLDS) 2015
quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường
hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo
thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản
Hai là, nếu dựa vào căn cứ vào định mức xe ô tô của tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định
công ty Nhà nước làm hệ quy chiếu thì hiện nay, mức khác.”
chi tối đa 840 triệu đồng [18, Khoản 1 Điều 10] được Từ các liệt kê trên, rõ ràng chúng ta thấy rằng có sự
thực hiện từ năm 2015 đã được thay thế mức 920 triệu không hợp lý đối với quy định này. Việc quy định
1622
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1619-1626
như vậy tạo ra sự không công bằng cho các doanh được trừ khi người này có trực tiếp tham gia điều
hành sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
eo quy định tại Mục d, Khoản 2.5, Điều 6 của
ông tư số 78/2014/TT-BTC hướng dẫn tiền lương
chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên (do một cá nhân làm chủ)
thì:
” d) Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư
nhân, chủ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên (do một cá nhân làm chủ); thù lao trả cho các
sáng lập viên, thành viên của hội đồng thành viên, hội
đồng quản trị mà những người này không trực tiếp
tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh.”
Như vậy, theo quy định của ông tư 78/2014/TT-
BTC thì tiền lương của chủ công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên (do một cá nhân làm chủ) là
khoản chi không được trừ với bất kỳ lý do nào, không
quan tâm đến việc người đó có trực tiếp tham gia hoạt
động sản xuất kinh doanh hay không.
Do đó khi đọc các văn bản trên tác giả nhận thấy
rằng, cùng một nội dung là chi phí lương của chủ công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (do một cá
nhân làm chủ) nhưng hướng dẫn tại ba văn bản đều
khác nhau và nghiêm trọng hơn trong trường hợp này
ông tư lại hướng dẫn trái với quy định của luật. Cụ
thể được chỉ ra như sau:
nghiệp, cũng như là hạn chế sự lựa chọn nguồn vay
vốn của các doanh nghiệp này. Cụ thể, BLDS cho
phép thỏa thuận mức lãi suất đến 20%/năm, trong khi
ông tư số 96/2015/TT-BTC chỉ cho phép tính vào
chi phí được trừ dưới mức lãi suất là 13,5%/năm, quy
định như vậy tạo ra đã tạo sự khác biệt khá lớn và sự
khác biệt này ảnh hưởng không nhỏ đến tài chính của
doanh nghiệp.
Từ những nhìn nhận trên, tác giả đưa ra kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật về thuế TNDN liên quan
đến chi phí lãi vay như sau: không nên phân biệt
doanh nghiệp đi vay từ tổ chức tín dụng hay tổ chức
kinh tế hoặc vay của cá nhân, nếu doanh nghiệp thật
sự đi vay và đáp ứng các quy định của pháp luật về
các khoản chi được trừ. Kiến nghị này cũng hợp lý vì
theo quy định của pháp luật, khoản lợi tức từ việc cho
vay, bên cho vay vẫn phải gánh chịu các loại thuế thu
nhập tương ứng, như thuế TNDN hoặc thuế thu nhập
cá nhân từ đầu tư vốn.
Thựctrạngquyđịnhcủaphápluậtvềchiphí
tiền công, tiền lương của chủ doanh nghiệp
tư nhân, chủ công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên (do một cá nhân làm chủ) và
khuyến nghị hoàn thiện
ứ nhất, theo quy định của luật thuế TNDN, tiền
lương của chủ công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên (do một cá nhân làm chủ) được trừ nếu
thỏa mãn các quy định tại Khoản 1, Điều 9, Luật thuế
TNDN số 14/2008/QH12, được sửa đổi bởi Khoản 3
Điều 1 Luật số 71/2014/QH13 về thuế sửa đổi 2014.
Cụ thể là: Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến
hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;
khoản chi cho hoạt động giáo dục nghề nghiệp; khoản
chi thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của
doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; Khoản chi
có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.
Đối với hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có
giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên phải có chứng từ
thanh toán không dùng tiền mặt, trừ các trường hợp
không bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không
dùng tiền mặt theo quy định của pháp luật.
eo quy định tại Mục k, Khoản 2, Điều 9, Luật thuế
TNDN số 14/2008/QH12, được sửa đổi bổ sung bởi
khoản 5 điều 1 Luật thuế TNDN sửa đổi năm 2013,
khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập
chịu thuế gồm: “Tiền lương, tiền công của chủ doanh
nghiệp tư nhân; thù lao trả cho sáng lập viên doanh
nghiệp không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất,
kinh doanh; tiền lương, tiền công, các khoản hạch
toán chi khác để chi trả cho người lao động nhưng
thực tế không chi trả hoặc không có hóa đơn, chứng
từ theo quy định của pháp luật;”
Như vậy, theo quy định trên của Luật thuế TNDN thì
tiền lương của chủ công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên (do một cá nhân làm chủ) là chi phí được
trừ.
eo quy định tại Mục m, Khoản 2, Điều 9, Nghị định
số 218/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật thuế TNDN thì:
”m) Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư
nhân; chủ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên (do một cá nhân làm chủ), thù lao trả cho thành
viên sáng lập doanh nghiệp mà những người này
không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh
doanh;”
ứ hai, theo Nghị định số 218/2013/NĐ-CP, ngoài
việc phải thỏa mãn quy định tại Khoản 1, Điều 9,
tiền lương của chủ công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên (do một cá nhân làm chủ) còn phải thỏa
mãn điều kiện là người này có trực tiếp tham gia điều
hành sản xuất, kinh doanh.
ứ ba, theo quy định của ông tư số 78/2014/TT-
BTC, tiền lương của chủ công ty trách nhiệm hữu hạn
Như vậy, theo quy định của Nghị định 218/2013/NĐ-
CP thì tiền lương của chủ công ty trách nhiệm hữu một thành viên (do một cá nhân làm chủ) không được
hạn một thành viên (do một cá nhân làm chủ) chỉ trừ trong mọi trường hợp.
1623
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1619-1626
Liên quan đến vấn đề trên, trong thời gian qua Quốc của người sản xuất thủ công không kinh doanh trực
tiếp bán ra. Tuy nhiên, trên thực tế đa số các doanh
nghiệp mua các hàng hoá, sản phẩm trên với số lượng
lớn nên không thuận tiện để liên hệ trực tiếp với từng
người nông dân, người trực tiếp sản xuất được mà
các doanh nghiệp thường sẽ mua thông qua một đối
tượng thu gom hàng hoá, sản phẩm trực tiếp từ người
nông dân hoặc người trực tiếp sản xuất để phục vụ
cho hoạt động kinh doanh của mình. Đối tượng thu
gom này mang vai trò là trung gian cho những người
nông dân để cung cấp hàng hoá, sản phẩm cho doanh
nghiệp nhưng nếu doanh nghiệp lập bảng kê thu mua
hàng hoá sản phẩm từ đối tượng này và kèm theo
chứng từ thanh toán cũng không được tính vào chi
phí được trừ. Với quy định chỉ được tính vào chi phí
được trừ khi lập bảng kê kèm chứng từ thanh toán với
từng người nông dân, người trực tiếp sản xuất điều
này sẽ gây rất nhiều khó khăn về thời gian và chi phí
cho doanh nghiệp, không tạo được điều kiện thuận
lợi để các doanh nghiệp kinh doanh phát triển.
hội đã chỉnh sửa, bổ sung một số điều của Luật thuế
theo Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014, Chính
phủ cũng đã ban hành Nghị định 12/2015/NĐ-CP và
ông tư hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân đối
với thu nhập từ đầu tư vốn đối của chủ sở hữu Công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (do một cá
nhân làm chủ). eo đó, thu nhập từ đầu tư vốn trong
trường hợp này sẽ không phải nộp thuế thu nhập cá
nhân. Nghĩa là, pháp luật hiện hành đã thừa nhận
không đưa chi phí tiền lương của chủ công ty trách
nhiệm hữu hạn do một cá nhân làm chủ vào chi phí
được trừ khi tính thuế TNDN. Như vậy, nếu thừa
nhận quan điểm này, để thống nhất giữa các văn bản
quy phạm pháp luật, hạn chế tối đa các bất cập khi
triển khai vào thực tế thiết nghĩ Chính phủ cần chỉnh
sửa Nghị định 218/2013/NĐ-CP và Quốc hội chỉnh
sửa Luật thuế TNDN cho phù hợp với các quy định
khác về cùng một vấn đề.
Chính vì thế, tác giả đề nghị pháp luật về thuế TNDN
cần nới lỏng cho doanh nghiệp đối với việc lập các
bảng kê khi mua hàng không có hóa đơn của những
người nông dân trực tiếp sản xuất ra, cần thiết cho
phép doanh nghiệp mua từ những người thu gom trực
tiếp từ người nông dân và những người trực tiếp sản
xuất đánh bắt ra. Trong trường hợp này doanh nghiệp
vẫn được tính vào chi phí được trừ nếu có đầy đủ
chứng từ sau: lập bảng kê thu mua hàng hoá, dịch
vụ theo mẫu số 01/TNDN ban hành kèm theo ông
tư số 78/2014/TT-BTC, hợp đồng mua bán, chứng từ
thanh toán cho người thu gom. Sự thay đổi này sẽ
làm cho việc áp dụng đúng quy định của pháp luật
trở nên dễ dàng hơn, doanh nghiệp sẽ tự giác áp dụng
chứ không phải thực hiện hành vi trái quy định pháp
luật nhằm đưa khoản chi này vào chi phí được trừ, khi
mua hàng hóa dịch vụ của người nông dân và những
người trực tiếp sản xuất đánh bắt ra. Từ đó tạo một
hành lang pháp lý vững chắc và đáng tin tưởng cho
doanh nghiệp.
Thực trạngpháp luật quy định vềmột số các
khoản chi được lập bảng kê và khuyến nghị
hoàn thiện
ông tư số 78/2014/TT-BTC tại Khoản 2.4 Điều 6
quy định về chi phí không được trừ đối với chi phí
của doanh nghiệp mua hàng hóa, dịch vụ (không có
hóa đơn, được phép lập Bảng kê thu mua hàng hóa,
dịch vụ mua vào theo mẫu số 01/TNDN kèm theo
ông tư này) nhưng không lập Bảng kê kèm theo
chứng từ thanh toán cho người bán hàng, cung cấp
dịch vụ trong các trường hợp.
Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ do người đại diện
theo pháp luật hoặc người được ủy quyền của doanh
nghiệp ký và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính
chính xác, trung thực. Doanh nghiệp mua hàng hóa,
dịch vụ được phép lập Bảng kê tính vào chi phí được
trừ nêu trên không bắt buộc phải có chứng từ thanh
toán không dùng tiền mặt. Trường hợp giá mua hàng
hóa, dịch vụ trên bảng kê cao hơn giá thị trường tại
thời điểm mua hàng thì cơ quan thuế căn cứ vào giá
thị trường tại thời điểm mua hàng, dịch vụ cùng loại
hoặc tương tự trên thị trường xác định lại mức giá để
tính lại chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu
thuế.
KẾT LUẬN
Với việc trình bày sự khác biệt giữa các quy định của
pháp luật kế toán và pháp luật thuế về chi phí, tác giả
đã nhận thấy một số bất cập tồn đọng ở một số quy
định cụ thể. Từ đó, tác giả trình bày các khuyến nghị
đối với mỗi nội dung bất cập.
Dĩ nhiên, đây chỉ là một số những bất cập theo quan
điểm của tác giả cho đến thời điểm nghiên cứu hiện
tại. Sẽ có nhiều hơn hoặc ít hơn những bất cập đối
với quan điểm của mỗi người, đặc biệt là quan điểm
của mỗi doanh nghiệp khi gặp phải thực trạng trong
ông tư số 78/2014/TT-BTCquy định việc mua hàng
hóa không có hóa đơn của doanh nghiệp trong một số
trường hợp được lập bảng kê mua hàng và được đưa
vào chi phí được trừ. Đó là trường hợp mua hàng hóa
là nông, lâm, thủy sản của người sản xuất, đánh bắt
trực tiếp bán ra; mua sản phẩm thủ công làm bằng
đay, cói, tre, nứa, lá, song, mây, rơm, vỏ dừa, sọ dừa
hoặc nguyên liệu tận dụng từ sản phẩm nông nghiệp doanh nghiệp mình.
1624
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1619-1626
Tác giả mong muốn, với những phát hiện và góp ý của
mình trong một số khoản chi phí nhất định trên đây,
người đọc sẽ đồng quan điểm và ủng hộ việc thay đổi
một số quy định chưa phù hợp thực tiễn.
10. Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 của
Bộ Tài chính về Hướng dẫn chế độ kế toán;.
11. Thông tư 133/2016/TT-BTC ngày 26 tháng 08 năm 2016 của
Bộ tài chính về hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ
và vừa;.
12. Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18 tháng 6 năm 2014
hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26
tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi
hành Luật Thuế TNDN;.
13. Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22 tháng 6 năm 2015 của
Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế TNDN tại Nghị định số
12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật
về thuế và sửa đổi bổ sung một số điều của các Nghị định
về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số
78/2014/TT- BTC ngày 18/6/2014, Thông tư số 119/2014/TT-
BTC ngày 25/8/2014, Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày
10/10/2014 của Bộ Tài chính;.
14. Thông tư 45/2013/TT-BTC, ngày 25 tháng 4 năm 2013 của Bộ
trưởng Bộ Tài chính, Thông tư hướng dẫn chế độ quản lý, sử
dụng và trích khấu hao tài sản cố định;.
15. Từ trường hợp NHP bị phạt thuế, nhìn sang bất cập trong
cách tính khấu hao tài sản cố định. Truy cập ngày 25 tháng 2
năm 2019;Available from: http://ndh.vn/tu-truong-hop-nhp-
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật dân sự
GTGT: giá trị gia tăng
TNDN: thu nhập doanh nghiệp
TSCĐ: tài sản cố định
TUYÊN BỐ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
Tác giả xin cam đoan rằng không có bất kì xung đột
lợi ích nào trong công bố bài báo
TUYÊN BỐ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC TÁC
GIẢ
Toàn bộ nội dung bài viết chỉ do tác giả thực hiện.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quốc hội. Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015.
2015;.
bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12
năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính;.
17. Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10 tháng 10 năm 2014 của
Bộ trưởng Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện quy định tại Nghị
địnhsố91/2014/NĐ-CPngày01tháng10năm2014củaChính
phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy
định về thuế;.
18. Quyết định Số: 32/2015/QĐ-TTg quy định tiêu chuẩn, định
mức và chế độ quản lý, sử dụng xe ô tô trong cơ quan nhà
nước, đơn vị sự nghiệp công lập, Công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;.
19. Nghị định 04/2019/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của
Chính Phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô;.
20. Chuẩn mực số 16 Chi phí đi vay, ban hành và công bố theo
Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002
của Bộ trưởng Bộ Tài chính;.
2. Quốc Hội. Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày
13/06/2019. 2006;.
3. Phan Lê Thành Long. Kế toán thực chứng: hướng đúng phát
triển cho Việt Nam, Tạp chí Kế toán tháng 8/2010. 2010;.
4. Thường VK, et al. Giáo trình Nguyên lý kế toán. NXB ĐHQG
TPHCM. 2013;.
5. Smith A. An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth
of Nations. 1776;.
6. Trường Đại học Luật TPHCM. Giáo trình Luật thuế. NXB Hồng
Đức. 2016;.
7. Ngọc NV. Từ điển Kinh tế học. NXB Kinh tế Quốc dân;.
8. Kết VQ, Tấn NV. Quản trị Tài chính. NXB Bưu Điện. 2008;.
9. Bộ trưởng Bộ Tài Chính. Chuẩn mực kế toán số 1, Chuẩn
mực chung, Ban hành và công bố theo Quyết định số
165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính. 2002;.
21. Quyết định 2868/QĐ-NHNN ngày 29 tháng 11 năm 2010 về
mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước;.
1625
Science & Technology Development Journal – Economics - Law and Management, 5(3):1619-1626
Review
Open Access Full Text Article
The difference of costs in accounting law and tax law
Tran Thi Thu Ngan*
ABSTRACT
Expense is one of the most important information in organizing and operating the business activi-
ties of an enterprise. Scientific expenses have many different definitions, and according to the law,
there are also differences in legal normative documents. For the managers, especially the financial
management of the business, the issue of legal compliance and optimizing the value of the busi-
ness is a parallel requirement. In practice, however, these two targets are contradictory every so
often. Even on the same issue, legal documents have notable differences. Therefore, distinguish-
ing between the expenses under the accounting laws and the expenses according to the tax law
is a necessary requirement for any manager so that they can foresee the legal consequences when
choosing appropriate behavior. The article, on the basis of presenting and listing the difference of
expenses in the accounting law and tax law, has given a number of recommendations to suit the
expense, helping businesses of all economic sectors more convenient when incurred transactions
related to expenses in the process of operation, thereby creating equality among businesses and
stimulating economic development.
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
Key words: expense of accounting, tax charges, differences
University of Economics and Law,
VNU-HCM, Vietnam
Correspondence
Tran Thi Thu Ngan, University of
Economics and Law, VNU-HCM,
Vietnam
Email: nganttt@uel.edu.vn
History
• Received: 18/01/2021
• Accepted: 27/05/2021
• Published: 03/06/2021
DOI : 10.32508/stdjelm.v5i3.763
Copyright
© VNU-HCM Press. This is an open-
access article distributed under the
terms of the Creative Commons
Attribution 4.0 International license.
Cite this article : Ngan T T T. The difference of costs in accounting law and tax law. Sci. Tech. Dev. J.
-Eco. Law Manag.; 5(3):1619-1626.
1626
Bạn đang xem tài liệu "Sự khác biệt của chi phí trong pháp luật kế toán và pháp luật thuế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
su_khac_biet_cua_chi_phi_trong_phap_luat_ke_toan_va_phap_lua.pdf

