Thực trạng hoạt động sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP  
TẠI VIỆT NAM  
Phạm Như Ý, Phạm Ngọc Quyền, Huỳnh Nhật Minh, Lê Thời Thế*  
Khoa Luật, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh  
GVHD: PGS.TS. Bành Quốc Tuấn  
TÓM TẮT  
Trong những năm gần đây không ít doanh nghiệp đã gặp khó khăn trong vấn đề phát triển và họ  
phải lựa chọn ra một chiến lược và phương án tốt nhất cho sự sống còn của mình trong nền kinh tế  
thị trường. Hiện nay luôn có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, trong quá trình cạnh tranh thì  
việc công ty này sáp nhập vào công ty khác để tập trung kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh lẫn  
nhau là việc hết sức bình thường. Trong bối cảnh đó hình thức sáp nhập doanh nghiệp chính là một  
trong các chiến lược được nhiều doanh nghiệp lựa chọn trong thời điểm nền kinh tế gặp khó khăn.  
Việc tái phân bổ, nguồn lực tài chính và hệ thống quản trị thông qua việc kết hợp với doanh nghiệp  
khác để có thể nâng cao tài chính và hỗ trợ cho chính doanh nghiệp của mình.  
Sáp nhập doanh nghiệp là một hình thức tổ chức lại doanh nghiệp được pháp luật quy định và  
hướng dẫn cụ thể tại các văn bản luật như: Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh... và các văn bản  
quy phạm pháp luật khác. Việc giữa các doanh nghiệp sáp nhập rất cần thiết trong thời buổi nền  
kinh tế hiện đại. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế của quốc gia. Trong bài viết  
này tác giả phân tích những vấn đề sau: lợi ích và những bất cập trong việc sáp nhập doanh  
nghiệp, hành lang pháp lý điều chỉnh vấn đề và kiến nghị của cá nhân.  
Từ khóa: Cạnh tranh, doanh nghiệp, kinh tế thị trường, sáp nhập doanh nghiệp, tập trung kinh tế.  
1 TỔNG QUAN VỀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP  
Nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển, theo đó là sự hình thành các công ty, tập đoàn doanh  
nghiệp. Hệ thống pháp luật ra đời, điều chỉnh các mối quan hệ trong nền kinh tế. Trong đó, vấn đề  
liên quan đến doanh nghiệp được Luật Doanh nghiệp, mà hiện nay là Luật Doanh nghiệp 2014  
điều chỉnh. Theo Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014: ‚Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng,  
có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích  
kinh doanh‛. Như vậy, để được coi là một doanh nghiệp thành lập hợp pháp được pháp luật bảo vệ  
quyền và lợi ích thì phải thoả mãn đủ bốn điều kiện theo Điều luật trên.  
Ngày nay, các doanh nghiệp được thành lập ngày càng nhiều, sự canh tranh là không tránh khỏi.  
Để có đủ nguồn lực phát triển, cạnh tranh với các đối thủ, nhiều chủ sở hữu doanh nghiệp đã quyết  
định sử dụng hình thức sáp nhập doanh nghiệp để tăng nguồn vốn, nguồn nhân lực, tập trung  
phát triển kinh tế thị trường. Theo định nghĩa tại Khoản 1 Điều 195 Luật Doanh nghiệp 2014, sáp  
nhập doanh nghiệp được hiểu là: ‚Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có  
1493  
thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn  
bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt  
sự tồn tại của công ty bị sáp nhập‛. Còn theo Luật Cạnh tranh năm 2018 định nghĩa như sau: ‚Sáp  
nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa  
vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh  
doanh hoặc sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập‛ (Khoản 2 Điều 29 Luật Cạnh tranh 2018).  
Như vậy, sáp nhập doanh nghiệp là việc hai hay nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản,  
quyền và nghĩa vụ của mình sang doanh nghiệp nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của  
mình. Theo đó, nguồn vốn, tài nguyên của doanh nghiệp nhận sáp nhập được tăng lên, thị trường  
kinh doanh được mở rộng và nhiều lợi thế kinh doanh khác.  
2 LỢI ÍCH CỦA HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP  
Trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay, việc mua bán, sáp nhập giữa các doanh  
nghiệp là điều tất yếu để mở rộng quy mô, tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường. Từ đó cho  
thấy sáp nhập doanh nghiệp sẽ mang lại nhiều lợi ích.  
Thứ nhất, mở rộng được quy mô doanh nghiệp:  hi sáp nhập các doanh nghiệp lại với nhau đồng  
nghĩa với việc sáp nhập về vốn, nguồn nhân lực… doanh nghiệp sẽ được tăng thêm nguồn vốn sử  
dụng và khả năng tiếp cận nguồn vốn, chia sẻ rủi ro, tăng cường tính minh bạch về tài chính. Ngoài  
ra, việc các doanh nghiệp sáp nhập vào nhau sẽ tăng thị trường kinh doanh cho doanh nghiệp  
nhận sáp nhập, giúp doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh doanh dựa vào quy mô khi doanh  
nghiệp có thể thâm nhập được vào thị trường mới, có thêm một dây chuyền sản phẩm mới hay mở  
rộng phạm vi phân phối, mở rộng chi nhánh, phòng giao dịch, các dự án… Hơn nữa, quy mô lớn  
cũng giúp giảm thiểu chi phí trong kinh doanh như giảm thiểu sự trùng lắp trong mạng lưới phân  
phối, tiết kiệm chi phí hoạt động và chi phí quản lý...  
Thứ hai, nâng cao giá trị doanh nghiệp: Sau khi sáp nhập, hai bên có thể khai thác được những lợi  
thế lẫn nhau, tăng thị phần, tận dụng quan hệ khách hàng, khả năng bán chéo sản phẩm, dịch vụ,  
từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo ra các cơ hội kinh doanh mới.  hi các doanh  
nghiệp sáp nhập lại với nhau ta không chỉ làm ph p tính đơn giản là cộng các giá trị lại mà nếu tận  
dụng các lợi thế giá trị của doanh nghiệp sau khi sáp nhập sẽ lớn hơn rất nhiều lần so với việc làm  
ph p cộng số học đơn giản.  
Thứ ba, tập trung được nguồn nhân sự giỏi:  hi sáp nhập các doanh nghiệp lại với nhau thì sẽ dẫn  
tới việc phải cắt bớt các cơ sở kinh doanh trên các địa bàn có nhiều cơ sở từ đó những nhân viên  
của các cơ sở đó sẽ thừa ra, đây là cơ hội để sàng lọc những nhân viên ưu tú vào các vị trí khác  
nhau trong hệ thống và loại bỏ những nhân viên yếu k m không có khả năng. Từ đó, tạo ra được  
đội ngũ nhân viên lớn mạnh và tiềm năng.  
Thứ tư, lợi thế cho sự phát triển kinh tế thị trường. Dưới góc độ của thị trường cạnh tranh, tập trung  
kinh tế làm thay đổi số lượng doanh nghiệp hiện có trên thị trường. Khi đó, cơ cấu cạnh tranh vốn  
có trên thị trường sẽ thay đổi về mặt cấu trúc – số lượng doanh nghiệp. Sự thay đổi trên có thể tác  
động đến thị trường theo những xu hướng sau: các nguồn lực thị trường sẽ được sử dụng tập trung  
1494  
và hiệu quả hơn, tránh tình trạng manh mún, nhỏ lẻ của quá trình kinh doanh; hình thái thị trường  
cạnh tranh có thể sẽ thay đổi và chuyển sang mô hình độc quyền nhóm hoặc hình thành các  
doanh nghiệp có quyền lực thị trường. Tập trung kinh tế làm thay đổi tương quan cạnh tranh trên thị  
trường. Sự tích tụ hoặc liên minh các nguồn lực kinh tế giữa các doanh nghiệp thông qua các biện  
pháp tập trung kinh tế đã đột ngột làm xuất hiện một doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có  
năng lực cạnh tranh là tổng năng lực cạnh tranh của tất cả doanh nghiệp tham gia.  
3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM  
Thực tiễn cho thấy, doanh nghiệp muốn tồn tại trên thị trường cũng đều tìm cách nâng cao năng lực  
cạnh tranh thông qua việc nâng cao năng lực tài chính, quản trị doanh nghiệp; phát triển công  
nghệ mới; thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh;... Vì thế, sáp nhập doanh nghiệp là một trong  
những biện pháp phổ biến để các doanh nghiệp có thể phát triển bền vững trên thị trường. Trường  
hợp sáp nhập doanh nghiệp điển hình tại Việt Nam như:  
(1) DaiABank được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 30/7/1993, là ngân hàng cổ phần đầu  
tiên hoạt động tại địa bàn tỉnh Đồng Nai. Khởi đầu chỉ là ngân hàng thương mại cổ phần nông  
thôn hoạt động tại tỉnh Đồng Nai với 1 tỷ đồng vốn điều lệ, đến năm 2012 ngân hàng này có vốn  
điều lệ 3.100 tỷ đồng, có 64 điểm giao dịch trên cả nước tính đến tháng 6/2012. Ngày 18/11/2013,  
Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 2687/QĐ-NHNN về việc sáp nhập Ngân hàng Thương mại  
Cổ phần Đại Á (DaiABank) và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển TP.HCM (HDBank)1.  
Việc sáp nhập Ngân hàng Đại Á vào HDBank đã tạo điều kiện mở rộng quy mô, xâm nhập sâu  
rộng vào khu vực Đông Nam Bộ, góp phần phát triển tín dụng nông nghiệp, nông thôn của toàn  
ngân hàng. Năm đầu sáp nhập, tỷ lệ nợ xấu nổi lên trên 3% nhưng chỉ ngay năm tiếp theo nợ xấu  
đã được kéo xuống 1,5% và rất nhanh trở lại mức bình quân của HDBank chỉ trên dưới 1%. Ngày  
5/1/2018, hơn 981 triệu cổ phiếu HDBank (HDB) đã được chính thức niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng  
khoán TP. Hồ Chí Minh thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư và nhanh chóng đưa ngân hàng  
vào Top 20 doanh nghiệp có giá trị vốn hóa lớn nhất thị trường. Tháng 1/2019, HDB được bổ sung  
vào danh mục VN30 - vào Top 30 cổ phiếu có giá trị vốn hóa và thanh khoản tốt nhất. Với chính  
sách quản lý rủi ro thận trọng, hiệu quả, kiểm soát tốt nợ xấu, sở hữu lợi thế kinh doanh vượt trội là  
hệ sinh thái khách hàng riêng có, HDBank liên tục đạt tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững. Tăng  
trưởng kép lợi nhuận ròng của HDBank đạt mức 67,1% trong suốt 5 năm từ 2013-2018. Đến cuối  
năm 2019, tổng tài sản HDBank đạt hơn 230.000 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu của HDBank ở 0,9%, mức  
thấp nhất toàn ngành đã được HDBank giữ vững liên tục nhiều năm. Ngân hàng cũng đạt chuẩn  
Basel II trước thời hạn với các tiêu chuẩn trụ cột vốn, quản trị rủi ro và công khai thông tin theo  
chuẩn quốc tế.  
Trên nền tảng đã được xây dựng của 30 năm phát triển bền vững, và đặc biệt của 10 năm (2008-  
2018), với tăng trưởng vượt bậc 22 lần so với trước, HDBank không chỉ khẳng định được vị thế của  
ngân hàng hàng đầu trong nước, còn mở rộng, thiết lập quan hệ đại lý với khoảng 400 ngân hàng  
và chi nhánh tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, bao gồm các thị trường trọng yếu.  
Trước thềm năm mới 2020, chào mừng kỷ niệm 30 năm thành lập, HDBank đã chính thức khai  
trương văn phòng đầu tiên ở nước ngoài, đánh dấu chiến lược vươn ra thị trường quốc tế, đồng thời  
đánh dấu cột mốc quan trọng trong quá trình phát triển của HDBank3.  
1495  
(2) Doanh nghiệp chiếm hơn 41% thị phần ngành kem sẽ được sáp nhập vào Kido.nb. Sau sáp  
nhập, CTCP Thực phẩm đông lạnh (Kido Foods - KDF) được kỳ vọng có thể khắc phục những hạn  
chế của một doanh nghiệp sản xuất đơn lẻ, có quy mô trung bình. Theo dự thảo phương án sáp  
nhập, dự kiến, Công ty cổ phần Tập đoàn Kido (mã: KDC) sẽ phát hành thêm cổ phần để hoán  
đổi 17,760 triệu cổ phần phổ thông của Kido Foods, tương ứng 32,79% tổng số đang lưu hành  
của Kido Foods cho tất cả cổ đông đang nắm giữ số cổ phần này, theo tỷ lệ 1:1,3. Nghĩa là 1 cổ  
phiếu KDF sẽ đổi được 1,3 cổ phiếu KDC. Ban lãnh đạo Kido lý giải, việc áp dụng tỷ lệ hoán đổi  
1:1,3, cao hơn so với tỷ lệ hoán đổi theo đề xuất của tổ chức thẩm định giá 1:1,2 (Công ty Nam  
Việt-PV) nhằm trả thêm cho cổ đông Kido Foods khoản thặng dư là 8,3% cho việc nắm giữ cổ  
phiếu Kido sau khi sáp nhập hoàn tất. Ngoài ra, với quy mô vốn điều lệ của Kido hiện là 2,556 tỷ  
đồng, gấp 4,5 lần so với vốn điều lệ của Kido Foods. Do đó, tỷ lệ pha loãng cổ phiếu Kido sau khi  
phát hành theo tỷ lệ 1:1,3 là 8,3%, không chênh lệch đáng kể so với thực hiện phát hành theo tỷ lệ  
1:1,2 là 7,7%. Sau khi hoàn tất việc hoán đổi cổ phiếu như trên, vốn điều lệ của Kido sẽ tăng thêm  
một khoản tương ứng giá trị của tổng số cổ phần thực tế mà KDC đã phát hành thêm. Kido Foods  
cũng được chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ Công ty cổ phần sang Công ty TNHH MTV do  
Kido sở hữu 100% vốn điều lệ. Nếu trong tháng 06/2020, đại hội đồng cổ đông thường niên của  
hai công ty thông qua phương án sáp nhập, Kido sẽ nộp hồ sơ đăng ký phát hành cổ phiếu để  
hoán đổi, 2 tháng sau đó Kido sẽ phân phối cổ phiếu cho các cổ đông Kido Foods chốt theo  
danh sách. Và đến tháng 10/2020, khi Kido Foods chuyển thành công ty TNHH MTV, cổ phiếu  
phát hành thêm của Kido chính thức được niêm yết.  
Bảng: Kế hoạch doanh thu và lợi nhuận sau sáp nhập Kido Foods vào Kido  
(Đvt: Tỷ đồng)  
Năm  
2020  
8.000  
253  
2021  
10.800  
607  
Doanh thu hợp nhất  
LNST  
Tỷ lệ cổ tức dự kiến  
16%  
16%  
Hiện, Kido có 10 công ty con, công ty liên kết, liên doanh đồng kiểm soát; tập trung 2 mảng kinh  
doanh chính là dầu ăn (đóng góp 79,5% trong tổng doanh thu thuần năm 2019) và ngành hàng  
lạnh (kem, sữa chua, thực phẩm đông lạnh,...). Với ngành hàng lạnh, Kido chiếm hơn 41% thị phần  
ngành kem (Euromonitor 2019), với 2 nhãn hàng chính là Merino và Celano. Năm 2019, doanh thu  
thuần Kido giảm 5,2% so với năm 2018 (chỉ đạt 7.210 tỷ đồng). Trong khi đó, Kido Foods được thành  
lập năm 2003, sau khi mua lại nhà máy kem Wall’s của Unilever, có vốn điều lệ 30 tỷ đồng và niêm  
yết cổ phiếu KDF vào 14 năm sau đó. Kido Foods sản xuất và kinh doanh 3 nhóm sản phẩm chính  
gồm kem, sữa chua và các sản phẩm bánh bao cấp lạnh, thực phẩm đông lạnh. Riêng với sữa  
chua, tỷ trọng đóng góp trong tổng doanh thu so với 2 sản phẩm chính còn lại liên tục sụt giảm.  
Năm 2016, sữa chua chiếm 15,9% trong tổng doanh thu Kido Foods rồi giảm xuống 3,9% năm 2017,  
2,4% năm 2018 và chỉ còn 1,6% năm 2019. Năm 2019, Kido Foods ghi nhận doanh thu thuần 1.383  
tỷ đồng, tăng 10% so với năm 2018 và lợi nhuận sau thuế đạt 185 tỷ đồng, tăng 420%2.  
1496  
Trong vấn đề sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường  
tập trung còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn nhiều nguy cơ nếu không giải quyết. Xu thế hội nhập đang  
gây ra nhiều sức ép lớn đối với hoạt động sáp nhập doanh nghiệp. Thực trạng này đã gây ra hệ lụy  
là việc sáp nhập không mang lại kết quả như mong đợi giữa các bên và khiến cho việc xử lý sau đó  
phức tạp hơn rất nhiều.  
Thứ nhất, sáp nhập luôn tiềm ẩn rủi ro: Trong nhiều trường hợp, hiệu quả của việc sáp nhập doanh  
nghiệp không đạt được nhiều mục tiêu như mong muốn, doanh nghiệp sau khi sáp nhập không có  
chuyển biến gì tốt hơn trước khi sáp nhập, thậm chí không ít trường hợp bị yếu đi. Hầu hết các  
doanh nghiệp được sáp nhập có quy mô nhỏ, không phải là doanh nghiệp mạnh, số đông là hiệu  
quả sản xuất, kinh doanh kém, nợ nần nhiều, cơ cấu lao động không hợp lý.  
Thứ hai, sau khi sáp nhập, doanh nghiệp mới phải xử lý nhiều vấn đề tồn đọng như: Lỗ, nợ, lao động  
dôi dư. Sản phẩm của các doanh nghiệp chưa có thương hiệu và chỗ đứng vững trên thị trường.  
Trước khi sáp nhập, một mình doanh nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn để bán được sản phẩm trên  
thị trường, sau khi sáp nhập, quy mô sản xuất của doanh nghiệp mới tăng lên theo phép cộng song  
năng lực bán hàng chưa được cải thiện, khiến cho sản xuất kinh doanh gặp khó khăn.  
Thứ ba, sự hiểu biết về hoạt động sáp nhập của doanh nghiệp còn hạn chế: Nhiều nhà quản trị  
doanh nghiệp chưa xem hoạt động sáp nhập là công cụ để tái cấu trúc hay cạnh tranh nên không  
có sự chuẩn bị tốt, làm tăng tỷ lệ thất bại khi thực hiện. Với cơ quan quản lý, hiểu biết về hoạt động  
sáp nhập doanh nghiệp chưa đầy đủ gây ra nhiều khoảng trống pháp lý cho hoạt động này.  
Chẳng hạn, vẫn chưa xác định cơ quan quản lý trực tiếp thị trường sáp nhập doanh nghiệp mà chỉ  
có quy định Cục Quản lý cạnh tranh quản lý khía cạnh tập trung kinh tế của các thương vụ.  
Thứ tư, sự thiếu minh bạch trong công bố thông tin của doanh nghiệp: Luật Chứng khoán hiện chỉ  
quy định công bố thông tin với công ty đại chúng. Bên cạnh đó, theo Luật Kế toán, tất cả doanh  
nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ nộp báo cáo tài chính cho Sở Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan Thuế  
tại địa phương, nhưng nếu đối tác muốn có các thông tin đó rất khó vì liên quan đến vấn đề bảo  
mật. Ngoài ra, tính trung thực của báo cáo tài chính cũng là vấn đề nên các công ty chủ yếu dựa  
vào nguồn thông tin được cung cấp bởi bên thứ ba.  
Thứ năm, hành lang pháp lý chưa hoàn chỉnh: Một khung pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động sáp  
nhập doanh nghiệp rất cần thiết. Cụ thể, còn thiếu quy định về giao dịch có yếu tố nước ngoài;  
chưa có quy định cụ thể bảo vệ quyền lợi người lao động, cổ đông; thiếu quy định về công tác quản  
lý, giám sát đối với hoạt động sáp nhập nhằm hạn chế những tác hại tiêu cực như thâu tóm hay  
đánh mất thương hiệu doanh nghiệp.  
Thứ sáu, vấn đề về thuế: Việc có hai thậm chí ba bộ sổ sách của doanh nghiệp đã khiến nhiều nhà  
đầu tư nước ngoài e ngại những rủi ro tiềm tàng về nghĩa vụ thuế. Họ cân nhắc bởi không chỉ số  
thuế có thể bị truy thu mà cả những hậu quả khác như uy tín doanh nghiệp.  
4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ  
Hoàn thiện hệ thống pháp lý cho hoạt động sáp nhập doanh nghiệp. Chính phủ cần ban hành một  
văn bản hướng dẫn thống nhất cho hoạt động sáp nhập doanh nghiệp thay vì đề cập rải rác ở  
nhiều văn bản như hiện nay. Đó có thể là một Nghị định như một bộ khung kết nối với các văn bản  
1497  
pháp lý khác. Văn bản này nên có những nội dung như: Phân công cơ quan quản lý hoat động sáp  
nhập doanh nghiệp kèm với quy định trách nhiệm, quyền hạn; các hình thức thực hiện sáp nhập  
doanh nghiệp; thủ tục và trình tự thực hiện; quy định về công bố thông tin liên quan đến hoạt động  
sáp nhập doanh nghiệp; các hình thức sáp nhập bị cấm.  
Xây dựng thị trường sáp nhập doanh nghiệp chuyên nghiệp. Cơ quan quản lý cần quy định về việc  
công bố thông tin của các đối tượng là doanh nghiệp nói chung chứ không chỉ riêng với công ty đại  
chúng như hiện nay, đồng thời quy định rõ các loại thông tin và hình thức công bố mà doanh  
nghiệp có nghĩa vụ thực hiện. Các thông tin này có thể được cung cấp cho thị trường như một dịch  
vụ với chi phí hợp lý. Nâng cao trình độ của các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lý thị  
trường. Việc đào tạo nguồn nhân lực cho thị trường phải được thực hiện với sự hợp tác của các  
doanh nghiệp, các bên tư vấn, các trường đại học và cả cơ quan quản lý trực tiếp thị trường này.  
Tạo điều kiện phát triển các công ty tư vấn chuyên nghiệp cho hoạt động sáp nhập doanh nghiệp.  
Sự tham gia của bên thứ ba sẽ giúp giảm rủi ro cho cả hai phía và tăng sự chuyên nghiệp cho mỗi  
thương vụ.  
Nâng cao hiệu quả kiểm soát tập trung kinh tế, nâng cao năng lực của cơ quan quản lý cạnh tranh  
trong kiểm soát thị trường kinh tế, tăng cường khả năng kiểm soát của Cục Quản lý Cạnh tranh - Cơ  
quan có chức năng kiểm soát tập trung kinh tế theo hướng cơ quan quản lý cạnh tranh cần được  
trao quyền chủ động khi thực thi dựa trên những nguyên tắc được pháp luật ghi nhận, bao gồm  
quyền tự chủ trong việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện, công cụ kỹ thuật cho từng vụ việc;  
chủ động xây dựng quy trình cho việc kiểm soát tập trung kinh tế. Bồi dưỡng và nâng cao kiến thức  
kinh tế và pháp lý, chính sách và pháp luật cạnh tranh cho nhân sự của các cơ quan quản lý cạnh  
tranh và các tổ chức có liên quan.  
Hoạt động sáp nhập doanh nghiệp cũng tiềm ẩn tác động tiêu cực đến doanh nghiệp và cả nền  
kinh tế như nguy cơ mất thương hiệu, bị thâu tóm hay thống lĩnh thị trường. Trước sự phát triển của  
hoạt động sáp nhập doanh nghiệp, Chính phủ nên thực hiện một số giải pháp vĩ mô nhằm giúp thị  
trường phát triển bền vững, đó là hoàn thiện hành lang pháp lý và xây dựng thị trường sáp nhập  
chuyên nghiệp và nâng cao hiệu quả kiểm soát tập trung kinh tế của cơ quan Nhà nước.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
Công bố sáp nhập ngân hàng Đại Á vào HDBank, Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp, xem tại:  
[2]  
Hồng Phúc, Doanh nghiệp chiếm hơn 41% thị phần ngành kem sẽ được sáp nhập vào Kido,  
[3]  
Thiên Ngân, HDBank - 30 năm tự hào hành trình vươn ra biển lớn, báo Công an Thành phố  
hanh-trinh-vuon-ra-bien-lon_85775.htm  
1498  
pdf 6 trang yennguyen 9120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng hoạt động sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_hoat_dong_sap_nhap_doanh_nghiep_tai_viet_nam.pdf