Mối quan hệ giữa quyền hưởng dụng và quyền sở hữu tài sản dưới góc nhìn so sánh

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
MỐI QUAN HỆ GIỮA QUYỀN HƯỞNG DỤNG  
VÀ QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN DƯỚI GÓC NHÌN SO SÁNH  
Đoàn Thị Phương Diệp*  
Nguyễn Thị Vy Quý**  
*,**-Khoa-Luật,-Trường-Đại-học-Kinh-tế-Luật,-Đại-học-Quốc-gia-Tp.-HCM  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Quyền hưởng dụng, quyền sở  
hữu, Bộ luật Dân sự.  
Quyền hưởng dụng trong chừng mực nào đó, có thể xem như được  
phân tích từ “kết quả chia tách các nội dung của quyền sở hữu:  
người có quyền hưởng dụng nắm giữ quyền sử dụng; còn chủ sở  
hữu giữ lại cho mình quyền định đoạt đối với tài sản”1. Việc thực  
hiện các quyền của người hưởng dụng sẽ tác động đến quyền của  
chủ sở hữu và ngược lại. Bài viết phân tích về mối quan hệ tác  
động qua lại này.  
Lịch sử bài viết:  
Ngày nhận bài : 30/9/2020  
Biên tập  
: 16/10/2020  
: 19/10/2020  
Duyệt bài  
Abstract:  
Article Infomation:  
Usufruct right can be in some views being analyzed from the  
“results of the separation of the contents of ownership right: the  
usufructary holds the use right; while the owner retains for himself  
the right to dispose of the property”. The exercise of the rights of  
the latter affects the rights of the owner and vice versa. This article  
provides analysis of this reciprocal relationship.  
Keywords: Usufruct right, ownership  
right, the Civil Code.  
Article History:  
Received  
Edited  
Approved  
: 30 Sep. 2020  
: 16 Oct. 2020  
: 19 Oct. 2020  
1. Khái quát chung về quyền hưởng dụng  
thể được khai thác công dụng và hưởng hoa  
lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc quyền sở  
hữu của chủ thể khác trong một thời hạn  
nhất định”. Quy định này cho thấy, quyền  
hưởng dụng là quyền của một chủ thể đối  
với tài sản thuộc sở hữu của chủ thể khác để  
được hưởng các lợi ích do tài sản đó mang  
lại. Nói cách khác, quy định này mang tính  
chất “mở đường” nhằm tạo điều kiện cho các  
chủ thể không phải là chủ sở hữu tài sản  
được phép khai thác các công dụng, lợi ích  
từ tài sản đó đem lại cho chủ thể. Tuy nhiên,  
chủ thể có quyền hưởng dụng chỉ được phép  
Quyền hưởng dụng được quy định từ  
Điều 257 đến Điều 266 Mục 2 Chương XIV  
Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015. Đây là  
một trong những quy định mới mang tính  
chất đột phá khi BLDS năm 2015 ghi nhận  
thêm quyền hưởng dụng bên cạnh quyền sở  
hữu - một quyền năng được coi là quan trọng  
nhất trong thực tiễn giao dịch dân sự từ trước  
đến nay.  
Theo đó, Điều 257 BLDS năm 2015 quy  
định: “Quyền hưởng dụng là quyền của chủ  
1 Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật Dân sự, Tập 1, Nxb. Đại học Quốc gia TP. HCM, 2016, tr. 305.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
3
Số 20 (420) - T10/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi  
tức từ tài sản thuộc quyền sở hữu của người  
khác mang lại trong một thời hạn nhất định2.  
Thực chất, quyền hưởng dụng không  
hoàn toàn là một quy định mới trong hệ  
thống pháp luật tại Việt Nam. Trước đây,  
trong nền pháp luật cận đại, tại các Bộ Dân  
luật Bắc 1931, Bộ Dân luật Trung (hay còn  
gọi là Hoàng Việt Hộ luật năm 1936-1939)  
và BLDS Sài Gòn 1972 đều có những quy  
định về quyền hưởng dụng. Đến pháp luật  
hiện đại Việt Nam, tại các BLDS năm 1995  
cho đến BLDS năm 2005 không có bất cứ  
quy định nào liên quan đến quyền hưởng  
dụng. BLDS năm 2015 ghi nhận trở lại bằng  
các quy định cụ thể và được đặt tại phần quy  
định về quyền khác đối với tài sản cùng với  
quyền đối với bất động sản liền kề và quyền  
bề mặt.  
Quyền hưởng dụng được biết đến với  
nhiều tên gọi khác nhau. Điều 556 Bộ Dân  
luật Bắc 1931 gọi là “quyền ứng dụng thu  
lợi”: “Quyền ứng - dụng thu - lợi là quyền  
hưởng - dụng vật sở - hữu của người khác,  
cũng như sở - hữu chủ vậy, nhưng phải giữ  
nguyên vật ấy cho người ta”. Điều 575  
Hoàng Việt Hộ luật 1936-1939 quy định  
“quyền hưởng dụng thu lợi”: “Quyền hưởng  
- dụng thu - lợi là quyền hưởng - dụng một  
vật gì thuộc về quyền nghiệp - chủ của người  
khác, cũng hưởng - dụng như người nghiệp  
- chủ vậy, nhưng phải giữ nguyên vật ấy cho  
người ta”. Điều 417 BLDS Sài Gòn 1972  
gọi là “quyền dụng ích”: “Quyền dụng ích  
là một vật quyền cho phép hưởng dụng và  
thu lợi một tài sản thuộc quyền sở hữu của  
người khác trong một thời gian không quá  
đời sống của người thụ hưởng, với trách vụ  
giữ nguyên tài sản ấy”.  
câu chữ được sử dụng không hoàn toàn  
giống nhau bởi lẽ để phù hợp với phong tục  
đời sống ở thời kỳ đó. Nay, quyền hưởng  
dụng lại được đưa vào BLDS năm 2015 như  
một quyền năng hoàn toàn mới và có nhiều  
giá trị đối với thực tiễn cuộc sống hiện đại  
ngày nay khi có rất nhiều giao dịch dân sự  
diễn ra hằng ngày một cách nhộn nhịp và  
phức tạp hơn.  
2. Quyền hưởng dụng và quyền sở  
hữu - mối quan hệ triệt tiêu hay cộng sinh  
Quyền hưởng dụng là một loại vật  
quyền. Trong một quan hệ hưởng dụng đối  
với một tài sản có hai chủ thể đó là chủ sở  
hữu tài sản và người có quyền hưởng dụng.  
Đối với chủ sở hữu tài sản, luật đã quy định  
chủ thể này có quyền sở hữu tài sản đó, hay  
nói cách khác quyền sở hữu này gồm:  
“quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền  
định đoạt tài sản” (Điều 158 BLDS năm  
2015). Đối với người có quyền hưởng dụng,  
chủ thể này có quyền trực tiếp nắm giữ, chi  
phối tài sản để khai thác công dụng, hưởng  
hoa lợi, lợi tức từ tài sản thuộc quyền sở hữu  
của chủ thể khác theo quy định của BLDS  
và các luật khác có liên quan mà không phụ  
thuộc vào ý chí hay hành vi của chủ sở hữu  
tài sản trong một thời hạn nhất định nào đó.  
Lấy ví dụ, bà X có 2 người con là M và  
N, M bị bệnh đao. Bà X có tài sản là một căn  
nhà. Hiện bà X và 2 người con M và N đang  
ở trong căn nhà này. Bà X có nguyện vọng  
sau khi bà mất thì căn nhà này sẽ thuộc  
quyền sở hữu của N, còn M sẽ được sử dụng  
căn nhà này cho đến khi M qua đời. Để thực  
hiện được nguyện vọng của mình thì bà X  
có thể lập di chúc rằng: Sau khi bà X mất thì  
căn nhà sẽ được chuyển quyền sở hữu cho  
N nhưng M sẽ được quyền hưởng dụng căn  
nhà này cho đến khi M qua đời. Như vậy,  
chính nhờ vào quyền hưởng dụng đã được  
pháp luật quy định mà sau khi bà X mất, N  
không bao giờ có thể đuổi M ra khỏi nhà.  
Qua đây có thể thấy rằng, giữa quyền  
Như vậy, quyền hưởng dụng đã được  
pháp luật cận đại Việt Nam trước đây đề cập  
đến. Quy định về khái niệm cũng như tên gọi  
liên quan đến quyền hưởng dụng trong lịch  
sử pháp luật tại Việt Nam không có sự khác  
nhau nhiều mà chỉ khác chủ yếu ở thuật ngữ,  
2 Xem thêm quy định tại Điều 260 BLDS năm 2015 về thời hạn của quyền hưởng dụng.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
4
Số 20 (420) - T10/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
hưởng dụng và quyền sở hữu tài sản có mối  
quan hệ khăng khít với nhau. Việc BLDS  
năm 2015 bổ sung thêm quy định về quyền  
hưởng dụng bên cạnh quyền sở hữu là một  
cải cách lớn của nền tư pháp nước ta và tạo  
điều kiện cho các chủ thể thực hiện các giao  
dịch dân sự thuận lợi hơn trong thực tiễn  
cuộc sống.  
quyền hưởng dụng, người hưởng dụng có  
thể tự mình thực hiện việc khai thác, sử  
dụng, hưởng các hoa lợi, lợi tức từ tài sản  
hoặc có thể chuyển giao quyền này cho một  
chủ thể khác mà không cần phải có ý kiến  
đồng ý của chủ sở hữu tài sản. Ngoài ra,  
người hưởng dụng cũng có thể cho thuê  
quyền hưởng dụng đối với tài sản đó. Người  
thuê được quyền hưởng dụng của người cho  
thuê nhưng không có quyền hưởng dụng các  
hoa lợi, lợi tức của tài sản.  
Có thể nói rằng, việc thừa nhận quy định  
về cho thuê quyền hưởng dụng là một điểm  
tiến bộ của các nhà làm luật bởi lẽ phù hợp  
với xu hướng thực tiễn của cuộc sống ngày  
nay ở nước ta là nhằm mục đích đẩy mạnh  
sự giao lưu dân sự giữa các chủ thể, phát  
triển tối đa khả năng sinh lợi của các tài sản.  
So với chủ sở hữu tài sản thì chủ sở hữu các  
hoa lợi, lợi tức từ tài sản hay còn gọi là  
người có quyền hưởng dụng được luật trao  
quyền năng rất mạnh. Người có quyền  
hưởng dụng có thể thực hiện quyền của mình  
một cách tuyệt đối mà không cần phải có sự  
cho phép của chủ sở hữu. Cũng cần lưu ý  
rằng, quyền của người hưởng dụng cũng  
khác với quyền của người thuê trong hợp  
đồng thuê tài sản được quy định tại Điều 475  
BLDS năm 2015 khi mà người thuê được  
quyền cho thuê lại tài sản mà mình đã thuê  
chỉ khi được bên cho thuê đồng ý.  
Trong quan hệ dân sự, giữa quyền  
hưởng dụng và quyền sở hữu tài sản có hai  
chủ thể rõ ràng, đó là người sở hữu và người  
có quyền hưởng hoa lợi, lợi tức của chủ sở  
hữu khác. Một khi xuất hiện người hưởng  
dụng thì quyền của chủ sở hữu tài sản sẽ bị  
thu hẹp lại. Hay nói cách khác, người chủ  
sở hữu tài sản sẽ không còn đầy đủ các  
quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định  
đoạt tài sản nữa bởi một phần quyền của chủ  
sở hữu đã chuyển qua cho người có quyền  
hưởng dụng các hoa lợi, lợi tức thu được từ  
tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng.  
Quyền sở hữu lúc này sẽ bị hạn chế, hay còn  
gọi là “quyền hư hữu” hoặc “hư quyền”.  
Chủ sở hữu bị giảm thiểu quyền sở hữu  
được gọi là “hư chủ”3. Theo đó, “quyền hư  
hữu” là quyền còn lại của chủ sở hữu đối  
với một tài sản mà người khác được hưởng  
hoa lợi, lợi tức của tài sản. Phần quyền còn  
lại này là quyền định đoạt tài sản của chủ sở  
hữu. Như vậy, giữa chủ sở hữu tài sản và  
người có quyền hưởng dụng có mối quan hệ  
qua lại giữa quyền và nghĩa vụ của hai chủ  
thể này, cụ thể:  
Về phía chủ sở hữu tài sản, khi chủ thể  
khác được trao quyền hưởng dụng tài sản thì  
chủ sở hữu vẫn còn nắm giữ quyền định đoạt  
tài sản. Tuy vậy, chủ sở hữu vẫn bị pháp luật  
khống chế “không được làm thay đổi quyền  
hưởng dụng đã được xác lập” của người  
hưởng dụng (khoản 1 Điều 263 BLDS năm  
2015). Do đó, đối với một tài sản cụ thể, mặc  
dù trên giấy tờ vẫn thuộc về chủ sở hữu, chủ  
sở hữu có quyền định đoạt số phận của tài  
sản đó, nhưng khi có xuất hiện quyền hưởng  
dụng thì quyền này mạnh hơn và làm triệt  
a) Quan hệ giữa quyền của chủ sở hữu  
và người hưởng dụng  
Trước hết, người hưởng dụng có quyền  
“tự mình hoặc cho phép người khác khai  
thác, sử dụng, thu hoa lợi, lợi tức từ đối tượng  
của quyền hưởng dụng” (khoản 1 Điều 261  
BLDS năm 2015), đồng thời có quyền “cho  
thuê quyền hưởng dụng đối với tài sản”  
(khoản 3 Điều 261 BLDS năm 2015).  
Điều này có ý nghĩa rằng, khi được trao  
3 Lê Minh Hùng & Phạm Thị Hạnh, Quyền hưởng dụng theo quy định của BLDS năm 2015, Tài liệu Hội  
thảo “Những điểm mới của BLDS năm 2015” ngày 31/03/2016 tại Trường Đại học Luật TP. HCM, tr.113.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
5
Số 20 (420) - T10/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
tiêu bớt đi quyền sở hữu tài sản của chủ sở  
hữu đó. Điều 192 BLDS năm 2015 quy định:  
“Quyền định đoạt là quyền chuyển giao  
quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu,  
tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản”. Đây là một  
quyền năng quan trọng của chủ sở hữu. Thế  
nhưng, ví như chủ sở hữu muốn định đoạt  
căn nhà thuộc quyền sở hữu của mình bằng  
cách bán cho một chủ thể khác, liệu rằng có  
ai dám mua căn nhà đó khi mà biết rõ thực  
trạng căn nhà đang có một chủ thể khác đang  
có quyền hưởng dụng. Hoặc nếu có chủ thể  
khác muốn mua lại căn nhà thì giá trị của căn  
nhà đó cũng bị giảm bớt một phần giá trị bởi  
vì căn nhà vẫn còn liên quan đến người  
hưởng dụng khác và người này đang cho  
thuê căn nhà đó để lấy lãi. Nếu như chủ sở  
hữu vì muốn thực hiện việc chuyển giao  
quyền sở hữu căn nhà mà giấu diếm tình  
trạng quyền hưởng dụng căn nhà đang thuộc  
về một người khác; điều này làm ảnh hưởng  
đến quyền lợi của người mua thì chủ sở hữu  
đã vi phạm pháp luật. Chủ sở hữu tài sản chỉ  
thực sự thực hiện được thực quyền bán căn  
nhà của mình một cách thuận lợi khi quyền  
của người hưởng dụng đã hết hoặc sắp hết  
thời hạn. Do đó, giữa quyền của chủ sở hữu  
tài sản và quyền của người hưởng dụng có  
mối quan hệ tác động qua lại nhau, ảnh  
hưởng lẫn nhau. Nói cách khác, quyền của  
người hưởng dụng sẽ hạn chế quyền của chủ  
sở hữu. Sự giao nhau giữa hai quyền này  
chính là sự phân định về mặt thời hạn thực  
hiện quyền, chừng nào còn quyền hưởng  
dụng của chủ thể khác thì quyền sử dụng của  
chủ sở hữu sẽ còn bị hạn chế.  
nghĩa vụ đó. Nếu vi phạm, chủ sở hữu có  
quyền yêu cầu cơ quan duy nhất là Tòa án  
truất đi quyền hưởng dụng của người đó. Từ  
quy định này cho thấy:  
Một là, nếu trong thời gian hưởng dụng,  
người hưởng dụng có hành vi vi phạm các  
nghĩa vụ của mình thì chủ sở hữu phải báo  
với Tòa án giải quyết chứ không thể tự mình  
có bất cứ hành vi nào để truất đi quyền  
hưởng dụng.  
Hai là, để Tòa án có thể truất đi quyền  
hưởng dụng của người vi phạm thì chủ sở  
hữu phải có yêu cầu. Nếu như người hưởng  
dụng có hành vi vi phạm nghĩa vụ nhưng chủ  
sở hữu không có yêu cầu gì thì Tòa án cũng  
không có thẩm quyền gì để truất quyền  
hưởng dụng.  
Ba là, cần phải hiểu thế nào là “vi phạm  
nghĩa vụ nghiêm trọng”? Người hưởng dụng  
có các nghĩa vụ cơ bản phải thực hiện theo  
quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đối với  
một hành vi nào đó thực hiện trên tài sản của  
chủ sở hữu thì việc đánh giá là có hay không  
vi phạm nghĩa vụ nghiêm trọng sẽ tùy theo  
quan điểm đánh giá của từng người. Có thể  
chủ sở hữu cho rằng, người hưởng dụng vi  
phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thực hiện  
quyền hưởng dụng. Tuy nhiên, khi đưa ra  
Tòa án thì Tòa án lại không thể dựa vào quy  
định nào để cho rằng, đó là hành vi vi phạm  
nghiêm trọng hay chỉ cần dựa vào mức độ  
hao hụt của tài sản để Tòa án đánh giá. Vì  
vậy, chúng tôi cho rằng, quy định tại khoản  
2 Điều 263 BLDS năm 2015 vẫn gây khó  
khăn khi áp dụng vào thực tế giải quyết tại  
Tòa án hiện nay.  
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều  
263 BLDS năm 2015, chủ sở hữu tài sản  
được quyền “yêu cầu Tòa án truất quyền  
hưởng dụng trong trường hợp người hưởng  
dụng vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của  
mình”. Khi được trao quyền hưởng dụng,  
người này có các nghĩa vụ cơ bản được quy  
định tại Điều 262 BLDS năm 2015. Trong  
thời gian thực hiện quyền hưởng dụng của  
mình, người hưởng dụng phải tuân thủ các  
Bên cạnh đó, người hưởng dụng có một  
số quyền khác theo quy định tại khoản 2  
Điều 261 và Điều 264 BLDS năm 2015.  
Trong đó, đối với quyền “yêu cầu chủ sở  
hữu tài sản thực hiện nghĩa vụ sửa chữa đối  
với tài sản” và “trường hợp thực hiện nghĩa  
vụ thay cho chủ sở hữu tài sản thì có quyền  
yêu cầu chủ sở hữu tài sản hoàn trả chi phí”  
tại khoản 2 Điều 261 BLDS năm 2015 có giá  
trị bảo vệ tối đa quyền lợi của người hưởng  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
6
Số 20 (420) - T10/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
b) Quan hệ giữa nghĩa vụ của chủ sở  
hữu và người hưởng dụng  
dụng, tránh trường hợp bị chủ sở hữu tài sản  
chèn ép quyền lợi đó. Tuy nhiên, điều đáng  
nói ở đây là quy định này chỉ mang tính chất  
chung chung chứ không nêu rõ trường hợp  
nào người hưởng dụng có quyền “yêu cầu”  
và “hoàn trả chi phí” nếu người hưởng dụng  
thực hiện nghĩa vụ sửa chữa tài sản. Điều  
này gây ra khó khăn khi áp dụng trong từng  
tình huống cụ thể và khi có hư hỏng, hao  
mòn tài sản xảy ra thì sẽ dễ xảy ra tranh  
chấp. Người hưởng dụng có thể lợi dụng quy  
định này để liên tục yêu cầu chủ sở hữu tài  
sản sửa chữa hoặc hoàn trả tất cả chi phí dù  
chỉ có mất mát nhỏ xảy ra.  
Điều 264 BLDS năm 2015 quy định về  
việc công nhận quyền sở hữu các hoa lợi, lợi  
tức thu được từ tài sản là đối tượng của  
quyền hưởng dụng trong thời gian hưởng  
dụng và cho phép người hưởng dụng được  
hưởng giá trị thu được từ hoa lợi, lợi tức  
tương ứng với thời gian người đó được  
hưởng dụng đến khi quyền hưởng dụng  
chấm dứt mà chưa đến kỳ hạn thu hoa lợi,  
lợi tức. Tuy nhiên, Điều luật này chưa quy  
định các khoản thuế, phí phát sinh trong quá  
trình thu hoa lợi, lợi tức.  
Liên quan đến các khoản thuế, phí này,  
BLDS Cộng hòa liên bang Đức quy định:  
Người hưởng dụng phải chịu chi phí liên  
quan đến tài sản hưởng dụng trong quá trình  
hưởng dụng. Đồng thời, người này cũng  
phải chịu chi phí sửa chữa và cải tạo tài sản  
trong phạm vi chúng là một phần của quá  
trình bảo dưỡng thông thường. Ngoài ra,  
người hưởng dụng cũng phải chịu các chi  
phí công cộng liên tục đối với tài sản là đối  
tượng của quyền hưởng dụng ngoại trừ các  
khoản phí bất thường khác4. Như vậy, pháp  
luật dân sự của Cộng hòa liên bang Đức quy  
định rõ trách nhiệm của người hưởng dụng  
phải chịu chi trả các khoản thuế, phí liên  
quan, chứ không phải trách nhiệm của chủ  
sở hữu tài sản.  
Với tư cách là một chủ thể hưởng quyền,  
người hưởng dụng cũng có các nghĩa vụ theo  
quy định tại Điều 262 BLDS năm 2015.  
Trước hết, khoản 1 Điều 262 BLDS năm  
2015 quy định người hưởng dụng có nghĩa  
vụ “tiếp nhận tài sản theo hiện trạng và thực  
hiện đăng ký nếu luật có quy định”. Khi  
được trao quyền hưởng dụng, tài sản đang  
thuộc sở hữu của chủ sở hữu và người này  
buộc phải chia sẻ quyền hưởng dụng cho  
người khác. Người hưởng dụng sau đó có  
nghĩa vụ tiếp nhận tài sản đó theo hiện trạng  
của tài sản và thực hiện đăng ký tài sản nếu  
tài sản đó thuộc trong danh mục cần đăng  
ký. Quy định này là cơ sở để sau này đối  
chiếu nhằm xác định rõ tình trạng tài sản có  
bị hư hỏng, mất mát trong quá trình người  
hưởng dụng sử dụng tài sản. Tuy nhiên, quy  
định này vẫn còn mang tính chất chung  
chung và không cụ thể hóa vì không có quy  
định về bằng chứng nào nêu rõ tình trạng  
hiện có của tài sản. Sau một thời gian sử  
dụng, tài sản dần hao mòn, cũ kỹ, nhưng  
cũng không hề có cơ sở nào để xác định tình  
trạng ban đầu và tình trạng sau một thời gian  
sử dụng. Điều này dễ dẫn đến tranh chấp  
giữa các bên. Bên cạnh đó, luật nhắc đến  
việc thực hiện đăng ký tài sản hưởng dụng.  
Tuy nhiên, việc đăng ký này được thực hiện  
như thế nào, cơ quan nhà nước nào sẽ có  
thẩm quyền tiếp nhận và cấp quyền hưởng  
dụng vẫn là điều còn bỏ ngỏ.  
Về điểm này, BLDS Cộng hòa Pháp quy  
định: Người hưởng dụng khi tiếp nhận tài  
sản theo hiện trạng phải có lập một bản kiểm  
kê các động sản hoặc một bản khai chi tiết  
các bất động sản với sự có mặt của chủ sở  
hữu hoặc sau khi đã thông báo hợp lệ cho  
chủ sở hữu đến chứng kiến5. Hành động này  
thể hiện sự cẩn trọng của các nhà làm luật  
đối với tài sản được tiếp nhận bắt buộc phải  
có biên bản được lập thành và sự chứng kiến  
4 Điều 1041, Điều 1047 BLDS Cộng hòa liên bang Đức năm 1896.  
5 Điều 600 BLDS Cộng hòa Pháp năm 1804.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
7
Số 20 (420) - T10/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
của các bên làm minh chứng cho sự tiếp  
nhận hiện trạng của tài sản hưởng dụng được  
rõ ràng hơn.  
bởi việc thiếu sửa chữa, bảo trì của người  
hưởng dụng trong thời gian hưởng dụng thì  
lúc này người hưởng dụng phải chịu trách  
nhiệm7. Như vậy, BLDS Cộng hòa Pháp quy  
định người hưởng dụng vẫn phải có nghĩa vụ  
đối với những hư hỏng lớn được gây ra bởi  
việc thiếu trách nhiệm sửa chữa, bảo trì tài  
sản của người hưởng dụng. Quy định này  
khá công bằng cho chủ sở hữu tài sản vì  
trách nhiệm sửa chữa, bảo trì tài sản hưởng  
dụng khi bị hư hỏng lớn không phải lúc nào  
cũng thuộc về chủ sở hữu tài sản như quy  
định của pháp luật Việt Nam hiện hành.  
Về nghĩa vụ của chủ sở hữu, những  
nghĩa vụ này được quy định lồng ghép cùng  
với việc thực hiện quyền của chủ sở hữu tại  
Điều 263 BLDS năm 2015. Pháp luật quy  
định những nghĩa vụ này đối với chủ sở hữu  
để nhằm bảo vệ tối đa quyền của người  
hưởng dụng được thực hiện một cách trọn  
vẹn hơn. Khi xuất hiện quyền hưởng dụng,  
chủ sở hữu chỉ còn lại một quyền năng mạnh  
nhất là quyền “định đoạt tài sản” nhưng  
quyền này cũng bị pháp luật quy định thêm  
việc định đoạt tài sản phải “không được làm  
thay đổi quyền hưởng dụng đã được xác  
lập”. Như vậy, trong mọi trường hợp, chủ sở  
hữu luôn luôn phải có nghĩa vụ tôn trọng  
quyền của người hưởng dụng, không được  
thực hiện bất kỳ một hành vi nào làm cản  
trở, gây khó khăn cho việc thực hiện quyền  
của người hưởng dụng. Mặc dù pháp luật  
quy định người hưởng dụng khi thực hiện  
quyền của mình vẫn phải thực hiện các nghĩa  
vụ cụ thể đối với tài sản được hưởng dụng.  
Tuy nhiên, pháp luật vẫn bảo vệ tối đa quyền  
lợi của họ để tránh trường hợp bị chủ sở hữu  
tài sản xâm phạm. Điều này cho thấy sự đối  
xử ưu ái đối với người hưởng dụng.  
BLDS Cộng hòa liên bang Đức quy  
định: Quyền hưởng dụng sẽ được ghi trong  
sổ đăng ký tài sản và được cấp cho người  
hưởng dụng6. Quy định này nhằm bảo đảm  
việc ghi nhận tài sản thuộc quyền hưởng  
dụng của một người có minh chứng rõ ràng.  
Khi thực hiện các giao dịch dân sự liên quan  
đến tài sản được hưởng dụng, nếu có minh  
chứng này thì người hưởng dụng sẽ dễ dàng  
thực hiện các quyền của mình hơn.  
Khoản 2, khoản 3 và khoản 5 Điều 262  
BLDS năm 2015 quy định về nghĩa vụ của  
người hưởng dụng là khá phù hợp để nhằm  
bảo vệ giá trị của tài sản là đối tượng của  
quyền hưởng dụng cũng như nhằm để bảo vệ  
quyền và lợi ích của các bên trong mối quan  
hệ giữa người hưởng dụng và chủ sở hữu.  
Theo khoản 4 Điều 262 BLDS năm  
2015, người hưởng dụng có nghĩa vụ “bảo  
dưỡng, sửa chữa tài sản theo định kỳ để bảo  
đảm cho việc sử dụng bình thường” và  
“khôi phục tình trạng của tài sản và khắc  
phục các hậu quả xấu đối với tài sản do việc  
không thực hiện tốt nghĩa vụ của mình phù  
hợp với yêu cầu kỹ thuật hoặc theo tập quán  
về bảo quản tài sản”. Đây cũng là một quy  
định hợp lý để bảo vệ tình trạng tài sản được  
phát huy tối đa giá trị của nó. Tuy nhiên, quy  
định này chưa rõ “theo định kỳ” là khoảng  
thời gian bao lâu, đồng thời vô tình tạo ra sự  
ỷ lại từ phía người hưởng dụng bởi nghĩa vụ  
sửa chữa tài sản khi bị hư hỏng, mất mát lớn  
thuộc phía chủ sở hữu tài sản.  
Theo BLDS Cộng hòa Pháp, người  
hưởng dụng chỉ buộc phải thực hiện việc sửa  
chữa, bảo trì tài sản. Còn đối với những sửa  
chữa lớn vẫn thuộc trách nhiệm của chủ sở  
hữu, trừ khi những hư hỏng đó được gây ra  
Tóm lại, với việc chính thức thừa nhận  
quyền hưởng dụng như một vật quyền tách  
6 Điều 1030 BLDS Cộng hòa liên bang Đức năm 1896.  
7 Điều 605 BLDS Cộng hòa Pháp năm 1804.  
8 Nguyễn Ngọc Điện, Những điểm mới về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản trong BLDS năm  
2015, Tạp chí Nghiên cứu lập Pháp, số 07 (335) T4/2017, tr.12.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
8
Số 20 (420) - T10/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
ra khỏi quyền sở hữu, những vấn đề vướng  
mắc trong thực tiễn liên quan đến việc thực  
hiện quyền của những người được giao tài  
sản tài sản nhưng không có quyền định đoạt,  
có thể được giải quyết thỏa đáng8. Việc tồn  
tại song song cùng lúc các quyền này có tác  
dụng chế ước lẫn nhau, trong chừng mực  
nhất định có thể nói các quyền này cùng tồn  
tại song song nhưng có xu hướng triệt tiêu  
nhau. Quyền hưởng dụng làm giảm bớt  
phạm vi và nội hàm của quyền sở hữu nhưng  
quyền sở hữu không tác động theo hướng hạn  
chế quyền hưởng dụng mà chỉ có tác dụng  
thiết lập sự kiểm soát đối với quyền hưởng  
dụng. Trên danh nghĩa đứng tên là chủ sở  
hữu tài sản, chủ sở hữu được quyền định đoạt  
tài sản nhưng không thể thực hiện được  
quyền gì đối với tài sản của mình khi mà  
quyền hưởng dụng đã được trao cho một chủ  
thể khác. Không những thế, chủ sở hữu còn  
phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người  
hưởng dụng và thực hiện các nghĩa vụ khác  
đối với tài sản thuộc sở hữu của mình theo  
quy định của pháp luật. Nói cách khác, khi  
trao quyền hưởng dụng cho một chủ thể  
khác, quyền sở hữu trở thành một “khuyết  
quyền” và việc thực hiện các quyền năng còn  
lại chỉ là quyền định đoạt đối với chủ sở hữu,  
mà định đoạt tài sản trong bối cảnh không  
còn quyền khai thác và hưởng lợi từ tài sản  
thật sự sẽ gặp những trở ngại nhất định.  
3. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của  
pháp luật Việt Nam về quyền hưởng dụng  
Thứ nhất, sửa đổi các quy định liên quan  
đến quyền của chủ sở hữu để quyền này,  
trong chừng mực nhất định, được cân bằng  
với quyền của ngưởi hưởng dụng. Theo đó,  
khoản 4 Điều 263 cần bổ sung cụm từ  
“trước khi chuyển giao quyền hưởng dụng  
tài sản”. Cụ thể, khoản 4 Điều 263 được viết  
lại như sau: “Chủ sở hữu chịu trách nhiệm  
thực hiện nghĩa vụ sửa chữa tài sản trước  
khi chuyển giao quyền hưởng dụng tài sản  
để đảm bảo không bị suy giảm đáng kể dẫn  
tới tài sản không thể sử dụng được hoặc mất  
toàn bộ công dụng, giá trị của tài sản”.  
Thứ hai, xây dựng kịp thời cơ chế đăng  
ký quyền hưởng dụng như một cơ chế bắt  
buộc để tránh rủi ro cho bên thứ ba trong các  
giao dịch, đặc biệt giao dịch chuyển quyền  
sở hữu tài sản khi quyền hưởng dụng đối với  
tài sản đang thuộc về chủ thể khác. Cơ chế  
đăng ký có tác dụng thiết lập hệ thống thông  
tin để bên thứ ba có thể kiểm tra trước khi  
xác lập các giao dịch giúp minh bạch thông  
tin và hạn chế rủi ro pháp lý.  
Thứ ba, Hội đồng thẩm phán Tòa án  
nhân dân tối cao cần sớm ban hành nghị  
quyết hướng dẫn thực hiện một số quy định  
trong BLDS năm 2015, cụ thể:  
- Hướng dẫn thực hiện khoản 2 Điều 261  
BLDS năm 2015, trường hợp nào người  
hưởng dụng có quyền “yêu cầu” và trường  
hợp nào “hoàn trả chi phí” nếu người hưởng  
dụng thực hiện nghĩa vụ sửa chữa tài sản.  
- Hướng dẫn thực hiện khoản 2 Điều  
263 BLDS năm 2015, làm rõ thế nào là “vi  
phạm nghiêm trọng” của người hưởng dụng  
tại khoản.  
- Hướng dẫn thực hiện khoản 4 Điều  
262 BLDS năm 2015, “theo định kỳ” là  
khoảng thời gian bao lâu.  
Thứ ba, bổ sung quy định trách nhiệm  
của người hưởng dụng phải chi trả các khoản  
phí, lệ phí liên quan đến tài sản hưởng dụng  
trong thời gian hưởng dụng cũng như các chi  
phí trong quá trình thu hoa lợi, lợi tức từ tài  
sản hưởng dụng sau khi hết thời gian hưởng  
dụng; bổ sung quy định về việc tiếp nhận tài  
sản theo hiện trạng của người hưởng dụng  
cần phải có lập một biên bản kiểm kê chi tiết  
các tài sản với sự chứng kiến của chủ sở hữu  
và người hưởng dụng, hai bên cùng ký vào  
biên bản để nhằm tránh xảy ra tranh chấp về  
sau; bổ sung quy định về thực hiện đăng ký  
tài sản hưởng dụng; bổ sung quy định người  
hưởng dụng vẫn phải có nghĩa vụ đối với  
những hư hỏng lớn tài sản gây ra do người  
hưởng dụng thiếu trách nhiệm sửa chữa, bảo  
trì tài sản  
n
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
9
Số 20 (420) - T10/2020  
pdf 7 trang yennguyen 17580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mối quan hệ giữa quyền hưởng dụng và quyền sở hữu tài sản dưới góc nhìn so sánh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmoi_quan_he_giua_quyen_huong_dung_va_quyen_so_huu_tai_san_du.pdf