Tiếp cận dịch vụ y tế của người lao động tại các khu công nghiệp
CHÍNH SÁCH
TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP1
Nguyễn Đình Phúc*
*ThS.-Phó-Trưởng-Ban-Khoa-học-Công-nghệ,-Viện-Khoa-học-Môi-trường-và-Xã-hội
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Dịch vụ y tế, tiếp cận dịch vụ
y tế của người lao động tại khu công
nghiệp.
Dịch vụ y tế là một trong những dịch vụ xã hội cơ bản nhằm đáp
ứng những nhu cầu thiết yếu hàng ngày của con người. Cải thiện
dịch vụ và nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ y tế cho người lao
động giúp đảm bảo người lao động được chăm sóc sức khỏe, có
điều kiện cống hiến sức lao động, sức sáng tạo cho sản xuất. Vấn
đề tiếp cận dịch vụ y tế của người lao động tại các khu công nghiệp
hiện nay đang gặp phải những vướng mắc gì? Giải pháp nào để cải
thiện khả năng tiếp cận dịch vụ y tế? Bài viết sau đây sẽ làm rõ các
vấn đề trên.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 31/8/2020
: 22/7/2020
: 24/7/2020
Article Infomation:
Abstract:
Key words: Medical service, access to
medical services for the employee in the
industrial zone.
Medical service is one of the basic social services to meet the daily
necessities of people. Improvements of this service and
enhancement of the capacity to provide medical services for the
employees helping ensure that the employees receive medical
services so that they are in good conditions to contribute their
working efforts and creativity to the production. What are the
problems facing the employees in accessing medical services in
industrial zones? What solution to improve access to medical
services? The following article will provide clarifications for the
above questions.
Article History:
Received
Edited
: 10 Jun. 2020
: 22 Jun. 2020
: 24 Jun. 2020
Approved
1. Dịch vụ y tế với đời sống người lao động
Sức khỏe là tài sản quý giá nhất của mỗi
con người, đồng thời cũng là tài sản chung
của quốc gia. Có sức khỏe, con người mới
có sức lao động, tạo ra của cải nuôi sống bản
thân, đóng góp vào sự phát triển của xã hội.
Với người lao động, có sức khỏe để tìm kiếm
việc làm, đảm bảo thu nhập, đáp ứng nhu
cầu sống hàng ngày cũng như chăm lo cho
sự phát triển của bản thân và gia đình. Sức
khỏe không chỉ là tài sản riêng của mỗi
người lao động mà còn là tài sản chung của
doanh nghiệp, tổ chức. Bảo vệ, chăm sóc và
nâng cao sức khoẻ là nghĩa vụ, trách nhiệm
của mỗi người dân, của cả hệ thống chính trị
và toàn xã hội, đòi hỏi sự tham gia tích cực
của các cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ
quốc và các đoàn thể, các ngành, trong đó
ngành Y tế là nòng cốt2. Từ quan điểm này,
Đảng và Nhà nước ta đã cụ thể hóa bằng hệ
1 Bài viết là sản phẩm của đề tài “Quản lý các vấn đề xã hội tại các khu công nghiệp ở Việt Nam”, Mã số
KX.01.45/16-20, thuộc Chương trình KX.01/16-20: Nghiên cứu những vấn đề trọng yếu về khoa học xã
hội và nhân văn phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
2 Nghị quyết số 20-NQ/TW về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong
tình hình mới.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
35
Số 20 (420) - T10/2020
CHÍNH SÁCH
thống các văn bản, chính sách pháp luật; các
chương trình, hoạt động cụ thể nhằm chăm
lo sức khỏe cho người lao động; tạo điều
kiện cho người lao động tiếp cận với dịch vụ
y tế; bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa
vụ trong tham gia bảo hiểm y tế và thụ
hưởng các dịch vụ y tế.
Dịch vụ y tế là một trong những trụ cột
quan trọng của dịch vụ xã hội cơ bản. Phát
triển, mở rộng dịch vụ y tế có có ý nghĩa
quan trọng sau đây:
Thứ nhất, với người lao động, việc tiếp
cận được với các dịch vụ y tế giúp người lao
động được đảm bảo quyền chăm sóc sức
khỏe của mình theo các quy định của pháp
luật cũng như theo nhu cầu của bản thân.
Thứ hai, dịch vụ y tế sẽ giúp mỗi cá
nhân được chăm sóc sức khỏe, đối phó với
các bệnh lý, từ đó tạo điều kiện cho con
người có cơ hội lao động, cống hiến, hưởng
thụ các giá trị lao động, giúp duy trì và tái
tạo sức lao động, sức sản xuất của xã hội,
nâng cao chất lượng sức khỏe, tuổi thọ của
con người.
Thứ ba, việc phát triển dịch vụ y tế, huy
động sự tham gia của các chủ thể khác ngoài
Nhà nước vào phát triển ngành y tế giúp
giảm áp lực đối với ngân sách nhà nước;
tăng các tiềm lực về vốn, công nghệ, nhân
lực cho sự phát triển của ngành y tế; tạo tính
năng động, cạnh tranh trong cung ứng dịch
vụ y tế nhằm nâng cao chất lượng phục vụ
cũng như hạ giá thành dịch vụ, đem lại lợi
ích cho người dân.
có liên đới trực tiếp tới sức khỏe, tính mạng
của người sử dụng dịch vụ đó. Nếu ở các
ngành dịch vụ thông thường, nhu cầu của thị
trường sẽ quyết định tới nguồn cung. Tuy
nhiên, dịch vụ y tế là loại hàng hoá mà người
sử dụng (người bệnh) thường không tự mình
lựa chọn được mà chủ yếu do bên cung ứng
(cơ sở y tế) quyết định. Nói một cách dễ hiểu
hơn, người bệnh, người có nhu cầu khám
bệnh chỉ có thể quyết định 1 phần trong quá
trình lựa chọn dịch vụ như lựa chọn nơi điều
trị, khám bệnh, loại hình dịch vụ chứ không
thể tự ý quyết định lựa chọn về biện pháp,
thời gian, cách thức điều trị một cách tuyệt
đối3. Do các yếu tố trên nên phát triển dịch
vụ y tế không thể chỉ tuân theo cơ chế của
nền kinh tế thị trường mà cần có sự quản lý,
điều hướng của Nhà nước. Nhà nước quản
lý dịch vụ y tế đảm bảo mọi người dân đều
có quyền tiếp cận các dịch vụ tế và được
hưởng một mức chăm sóc sức khỏe tối thiểu
như nhau; Nhà nước là chủ thể cung cấp duy
nhất đối với một số loại dịch vụ y tế mang
tính công cộng thuần túy, đặc biệt; ngăn chặn
việc phát triển tự phát các dịch vụ y tế chỉ vì
mục đích lợi nhuận, kinh doanh mà không
vì các giá trị nhân văn, xã hội; xây dựng
những tiêu chuẩn, quy trình thống nhất, chặt
chẽ của các dịch vụ y tế.
2. Tiếp cận dịch vụ y tế của người lao
động tại các khu công nghiệp
- Những kết quả đạt được
Hiện nay, hệ thống pháp luật về y tế của
nước ta tương đối đầy đủ; nhiều văn bản quy
phạm pháp luật trực tiếp và gián tiếp điều
chỉnh các hoạt động y tế như: Luật Bảo vệ
sức khỏe nhân dân năm 1989, Luật Dược
năm 2005, Luật Phòng, chống bệnh truyền
nhiễm năm 2007, Luật Bảo hiểm y tế
(BHYT) năm 2008, Luật Khám bệnh, chữa
bệnh năm 2009, Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật BHYT năm 2014… cùng
Thứ tư, dịch vụ y tế phát triển tạo động
lực cho sự phát triển của khoa học kỹ thuật
đặc biệt là y tế công nghệ cao; tạo cơ hội cho
các nghiên cứu khoa học, phát minh ra các
sản phẩm, dịch vụ mới, hiệu quả chăm sóc
toàn diện hơn cho sức khỏe con người.
Dịch vụ y tế là một loại dịch vụ đặc biệt
bởi “hàng hóa” mà dịch vụ này kinh doanh
3 Wiliam C.Hsiao. Abnormal economics in the Healthy sector, 1995.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
36
Số 20 (420) - T10/2020
CHÍNH SÁCH
hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật
khác hướng dẫn thi hành các luật, pháp lệnh
trên. Tuy nhiên, đối với khu công nghiệp thì
các quy định về quản lý y tế nằm rải rác
trong một số văn bản luật như: Nghị định số
75/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y
tế; Thông tư số 19/2016/TT-BYT đề cập đến
trách nhiệm của cơ quan liên quan trong thực
hiện quan trắc môi trường lao động và chăm
sóc sức khỏe người lao động tại các khu
công nghiệp theo sự phân công của Bộ Y tế.
Hệ thống các văn bản pháp luật trên là cơ sở
pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước về
y tế, dịch vụ y tế; là căn cứ cho các hoạt
động liên quan đến y tế của các cá nhân,
doanh nghiệp, tổ chức; tạo điều kiện thuận
lợi cho người lao động tiếp cận được với
dịch vụ y tế…
Theo số liệu điều tra của Viện Khoa học
môi trường và xã hội trong khuôn khổ đề tài
“Quản lý các vấn đề xã hội tại các Khu công
nghiệp ở Việt Nam” số doanh nghiệp tổ chức
khám sức khỏe định kỳ (SKĐK) cho người
lao động tương đối cao.
Theo số liệu trên có tới 93.4 % người lao
động trả lời doanh nghiệp có tổ chức khám
SKĐK cho người lao động và 91,1% trong
số đó trả lời doanh nghiệp chi trả cho các
hoạt động khám SKĐK. Kết quả tiếp theo
trong nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ
y tế đó là số người lao động được đóng
BHYT chiếm tỷ lệ cao trong tổng số người
lao động. Theo số liệu điều tra của Viện
Khoa học Môi trường và Xã hội, có
1823/1880 lao động trả lời được doanh
nghiệp đóng bảo hiểm bắt buộc, trong đó có
BHYT, chiếm tỷ lệ 97%. Việc người lao
động được đóng BHYT không chỉ giúp
người lao động được hưởng lợi ích từ
BHYT, phòng ngừa các rủi ro khi có bệnh
nặng mà còn đóng góp vào quỹ BHYT, giúp
phát triển chất lượng dịch vụ y tế quốc gia.
Hiện nay, các chính sách về BHYT đã
thực sự tiếp cận được với đời sống thực tiễn,
điều này được thể hiện ở số lao động biết
đến các chính sách cũng như khả năng tiếp
cận với các chính sách trên. Nhận thức
chung của người lao động về các quy định,
chính sách liên quan đến BHYT đã tăng theo
từng năm.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
37
Số 20 (420) - T10/2020
CHÍNH SÁCH
Với khoảng 90% số lao động biết đến
tiếp cận với các lợi ích mà BHYT mang lại.
- Các quy định về khám sức khỏe định
kỳ còn thiếu tính chặt chẽ về một số điểm
như quy định cơ sở y tế được phép tổ chức
SKĐK, các hạng mục sức khỏe bắt buộc
thăm khám. Đặc biệt, cơ chế xử lý, xử phạt
với các doanh nghiệp, chủ lao động không
thực hiện khám SKĐK cho người lao động
với các cơ sở y tế vi phạm chức năng, quy
trình cấp giấy khám SKĐK... còn nhẹ. Ban
Quản lý các Khu công nghiệp có chức năng
kiểm tra, phát hiện các sai phạm về y tế trong
khu công nghiệp, nhưng lại chưa được quy
định chức năng xử lý, xử phạt do đó hiệu lực
quản lý chưa cao.
- Các quy định về bệnh nghề nghiệp:
Hiện chưa có các văn bản quy định về phối
kết hợp giữa hệ thống khám bệnh nghề
nghiệp và giám định bệnh nghề nghiệp nhằm
thực hiện kịp thời và đầy đủ chế độ và chính
sách đối với người lao động. Việc làm thủ
tục và hoàn tất hồ sơ gửi giám định phụ
thuộc vào việc tuân thủ quy định của người
sử dụng lao động. Đối với trường hợp người
lao động nghỉ hưu, nghỉ việc, bị thôi việc
chưa có cơ quan nào chịu trách nhiệm thực
hiện các hồ sơ để khám, giám định bệnh
nghề nghiệp; chưa có văn bản quy định
thanh toán một phần tiền khám và chữa bệnh
cho người lao động bị mắc bệnh nghề nghiệp
trong quỹ BHYT vào danh mục các bệnh
điều trị dài ngày.
cũng như tiếp cận được với các chính sách
về BHYT, có thể thấy BHYT đang dần được
phổ cập trong xã hội, đem lại những giá trị
to lớn về mặt an sinh xã hội. So với nhiều
chính sách khác, chính sách BHYT đem lại
nhiều lợi ích trong thực tiễn nhất, được
người dân chú ý tới nhiều nhất. Trong đó có
tới 87.1% người lao động cho rằng họ đã
được thụ hưởng các lợi ích từ BHYT4. Đây
là những kết quả to lớn mà ngành y tế đã đạt
được trong thời gian qua và trong thời gian
tới cần phát huy hơn nữa để đảm bảo 100%
người lao động tại các Khu công nghiệp
được tiếp cận với các chính sách về BHYT.
Ngoài các kết quả trên, công tác chăm
sóc sức khỏe cho người lao động tại các khu
công nghiệp còn đạt được một số kết quả
khác như: Công đoàn các cấp phối hợp với
các doanh nghiệp, các trung tâm y tế tổ chức
nhiều hoạt động tư vấn, thăm khám, cấp phát
thuốc… về nhiều chủ đề sức khỏe như sức
khỏe sinh sản, sức khỏe lao động, bệnh nghề
nghiệp cho người lao động; các hoạt động
nhằm tuyên truyền, nâng cao hiểu biết về sức
khỏe cũng như các chính sách về y tế đã
thường xuyên được tổ chức; nhiều doanh
nghiệp đã xây dựng được các trung tâm
chăm sóc sức khỏe, tủ sách - tủ thuốc y tế,
các quỹ chăm sóc sức khỏe cho người lao
động của doanh nghiệp mình.
- Những hạn chế, bất cập
Bên cạnh những kết quả đã đạt được,
thực tế hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập
về tiếp cận dịch vụ y tế của người lao động
tại các khu công nghiệp như: những hạn chế
về chính sách; ý thức tuân thủ luật pháp của
các doanh nghiệp; ý thức của người lao động
về y tế.
Trước hết, hệ thống chính sách về y tế
của nước ta khi áp dụng vào quản lý y tế tại
các khu công nghiệp đã bộc lộ một số hạn
chế như:
Chính một số điểm bất cập của hệ thống
chính sách về y tế, đặc biệt những hạn chế về
chế tài xử lý đã dẫn tới tình trạng các doanh
nghiệp thực hiện đóng BHYT cho người lao
động mang tính hình thức, đối phó với các cơ
quan quản lý nhà nước. Theo đó, doanh
nghiệp chỉ tổ chức khám cho một bộ phận
người lao động; chỉ đăng ký khám một số
hạng mục nhất định; mua giấy khám SKĐK…
Mặc dù được đóng BHYT, nhưng người
lao động chưa tận dụng được hết các giá trị
lợi ích to lớn mà thẻ BHYT đem lại. Nguyên
nhân khách quan là do các quy định về
- Các quy định về hưởng BHYT trái
tuyến đang gây trở ngại cho người lao động
4 Số liệu điều tra của Viện Khoa học Môi trường và Xã hội.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
38
Số 20 (420) - T10/2020
CHÍNH SÁCH
hưởng BHYT còn nhiều vướng mắc; các cơ
sở khám chữa bệnh ban đầu theo đăng ký
của thẻ BHYT hầu hết chưa đáp ứng các yêu
cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc,
trình độ y bác sỹ; thời gian khám chữa bệnh
chưa phù hợp với thời gian làm việc của
người lao động… do đó người lao động
thường khám chữa bệnh vượt tuyến hoặc lựa
chọn khám tư nhân. Nguyên nhân chủ quan
xuất phát từ nhận thức về BHYT của người
lao động còn rất hạn chế. Theo kết quả điều
tra của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam
phối hợp với tổ chức ILO được thực hiện tại
hai tỉnh có số khu công nghiệp lớn là Bắc
Ninh và Bình Dương vào tháng 11/2019 thì
có tới 40% người lao động không nắm rõ về
cơ chế chi trả, mức đóng góp của bảo hiểm
y tế5. Cũng theo báo cáo này, hơn một nửa
số người có thẻ BHYT tham gia nghiên cứu
đã trả lời họ sử dụng các cơ sở y tế không
phải cơ sở đăng ký ban đầu, nguyên nhân là
do cơ sở y tế đó xa nhà, giờ phục vụ bất tiện,
thời gian chờ đợi lâu và không hài lòng với
các dịch vụ y tế tại đây.
Hiện nay, một trong những vấn đề về y
tế nổi cộm tại các khu công nghiệp là các cơ
sở y tế tại doanh nghiệp chưa đáp ứng được
các yêu cầu của số đông người lao động.
Theo số liệu trên cho thấy, mặc dù số
lượng lao động tại các khu công nghiệp rất
lớn nhưng mới chỉ 64,6% số khu công
nghiệp là có phòng khám bệnh, trong đó các
cơ sở đảm bảo về quy mô và chất lượng
khám bệnh lại càng ít. Số lượng các cơ sở
chăm sóc sức khỏe mới chỉ đáp ứng được
34.9% nhu cầu của người lao động. Tình
trạng chung của các cơ sở khám bệnh tại các
khu công nghiệp là nghèo nàn về trang thiết
bị, máy móc; nhân sự không đáp ứng về cả
số lượng cũng như chuyên môn; chỉ giải
quyết một số trường hợp bệnh đơn giản. Do
đó, khi xảy ra các tình huống bất thường như
dịch bệnh, ngộ độc tập thể, tai nạn lao động
tập thể… các cơ sở này khó có thể ứng phó,
xử lý tình huống. Tình trạng các cơ sở khám
chữa bệnh chưa đáp ứng được nhu cầu thực
tế do chưa có cơ chế chính sách rõ ràng về
việc buộc phải xây dựng các cơ sở chăm sóc
sức khỏe trong quy hoạch của các khu công
nghiệp; do hạn chế về nhận thức cũng như
kinh phí, quỹ đất của các doanh nghiệp; chưa
xây dựng được cơ chế phối hợp giữa các cơ
quan chuyên môn nhà nước, doanh nghiệp,
các khu công nghiệp…
Về vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản
cho công nhân nữ, lao động nữ hiện chiếm
tỷ lệ khoảng 58,6% tổng số lao động tại các
Khu công nghiệp6. Hầu hết lao động nữ nằm
trong độ tuổi dưới 35, là độ lập gia đình, sinh
con; do đó, việc chăm sóc sức khỏe sinh sản
cho công nhân nữ là rất cần thiết. Tuy nhiên,
vấn đề này hiện chưa được quan tâm đúng
mức. Công nhân nữ dễ mắc các bệnh lý về
đường sinh sản, dễ chịu tác động từ các môi
trường làm việc độc hại; dễ chịu các tổn
thương về sức khỏe do nạo phá thai, các
bệnh tình dục lây nhiễm…
Về phụ cấp độc hại, phụ cấp độc hại
được hiểu là khoản tiền được trả thêm cho
người lao động khi người lao động làm việc
trong điều kiện có các yếu tố nguy hiểm, độc
hại hoặc đặc biệt nguy hiểm, độc hại. Khoản
phụ cấp này được trả bù đắp cho người lao
động một phần sức khỏe, tổn hại về tinh
thần, thể chất, hoặc thậm chí là khả năng lao
động. Thông thường, quy định về phụ cấp
độc hại được thể hiện trong hợp đồng lao
động, thỏa ước lao động. Tuy nhiên, việc
thực hiện chế độ phụ cấp độc hại cho người
lao động hiện còn nhiều bất cập; nguyên
nhân từ việc người lao động khó nắm được
căn cứ đánh giá thế nào là làm việc trong
môi trường nguy hiểm; độc hại; các cấp độ
đánh giá cũng như mức phụ cấp tương ứng;
người lao động chưa nắm rõ các quy định
của pháp luật về phụ cấp này; các doanh
nghiệp cố tình không thực hiện đúng trách
nhiệm của mình. Thực tế cho thấy, nhiều
5 Số liệu báo cáo của Dự án Hỗ trợ mở rộng Bảo vệ sức khỏe xã hội ở Đông Nam Á (ILO-Lux).
6 Số liệu điều tra của Viện Khoa học Môi trường và Xã hội.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
39
Số 20 (420) - T10/2020
CHÍNH SÁCH
doanh nghiệp đã áp dụng các chiêu trò để
lách luật như việc luân chuyển lao động giữa
các bộ phận thường xuyên; luân chuyển,
thay đổi vị trí làm việc không theo hợp đồng
ký kết ban đầu với người lao động; tính gộp
phụ cấp độc hại với các khoản trợ cấp,
thưởng khác…
3. Kiến nghị giải pháp nâng cao mức độ
tiếp cận dịch vụ y tế của người lao động
tại các khu công nghiệp
Để đảm bảo quyền được chăm sóc sức
khỏe, Nhà nước thông qua chức năng quản
lý tạo cơ chế, hành lang pháp lý, điều kiện,
cơ sở để người lao động tiếp cận với các dịch
vụ y tế, chăm sóc sức khỏe. Để bảo đảm
nâng cao mức độ tiếp cận dịch vụ y tế của
người lao động tại các khu công nghiệp, cần
thống nhất một số quan điểm quản lý về dịch
vụ y tế sau đây:
định về cơ sở khám chữa bệnh ban đầu cũng
như khám chữa trái tuyến bảo hiểm.
Thứ hai, cần xây dựng các quy định về
thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về BHYT
chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn, mạnh mẽ hơn.
Thứ ba, bổ sung quy định cụ thể, chặt
chẽ về khám SKĐK đối với người lao động
tại các khu công nghiệp (hạng mục khám,
tiêu chuẩn của cơ sở cấp giấy khám, chế tài
xử lý với các sai phạm); về bệnh lý nghề
nghiệp (trợ cấp độc hại, khám phát hiện bệnh
nghề nghiệp, mức bồi thường)
Thứ tư, ban hành văn bản quy định,
hướng dẫn cụ thể về việc thành lập bộ phận
chăm sóc y tế tại các khu công nghiệp; các
công trình y tế tại các khu công nghiệp dựa
vào quy hoạch phát triển các khu công
nghiệp; quy mô lao động của các doanh
nghiệp.
- Trước hết, cần xác định dịch vụ y tế ở
đây không chỉ là các hoạt động chăm sóc sức
khỏe công do Nhà nước cung cấp mà bao
gồm cả các dịch vụ y tế do tư nhân đầu tư,
dưới sự quản lý của Nhà nước. Điều này
đồng nghĩa với việc chăm sóc sức khỏe cho
người lao động là trách nhiệm, nghĩa vụ
không phải chỉ của Nhà nước mà còn của
người sử dụng lao động và của cả xã hội.
- Việc tiếp cận dịch vụ y tế của người lao
động tại các khu công nghiệp không chỉ đảm
bảo người lao động được chăm sóc sức khỏe
ở mức cơ bản mà còn được bảo vệ trước các
bệnh lý nghề nghiệp; đảm bảo tiếp cận chăm
sóc sức khỏe của tất cả các nhóm lao động
từ lao động chính thức, lao động hợp đồng…
- Quản lý tiếp cận dịch vụ y tế không chỉ
nhằm để người lao động được đảm bảo chăm
sóc sức khỏe của bản thân mà còn quản lý để
người sử dụng lao động thực hiện đúng trách
nhiệm của mình với người lao động.
Cùng với việc hoàn thiện pháp luật,
chúng tôi cho rằng, cần vận dụng các giải
pháp sau để triển khai thực hiện các quy
định về tiếp cận dịch vụ y tế của người lao
động tại các khu công nghiệp:
Thứ nhất, với các cơ sở y tế công tại các
khu công nghiệp: Bố trí bộ khám chữa bệnh
ngoài giờ hành chính để đáp ứng nhu cầu
của người lao động tại các khu công nghiệp;
có cơ chế phối hợp với các cơ sở y tế của
doanh nghiệp, của các khu công nghiệp
trong hỗ trợ đào tạo; trong phối hợp thăm
khám, điều trị; tuyên truyền kiến thức về
pháp luật, về cách chăm sóc sức khỏe…
Thứ hai, với các doanh nghiệp: Thành
lập bộ phận phụ trách quản lý y tế, các thủ
tục về bảo hiểm y tế, khám SKĐK, bệnh lý
nghề nghiệp được đào tạo, nắm vững các
quy định của pháp luật; xây dựng, đầu tư cơ
sở chăm sóc sức khỏe tại doanh nghiệp, đáp
ứng nhu cầu của người lao động;
Trên cơ sở những quan điểm nêu trên,
chúng tôi đề xuất một số giải pháp nâng cao
mức độ tiếp cận dịch vụ y tế của người lao
động tại các khu công nghiệp sau đây:
Thứ nhất, hoàn thiện Luật BHYT theo
hướng đơn giản hóa các thủ tục khám chữa
bệnh, hưởng quyền lợi từ BHYT; các quy
Thứ ba, trong quy hoạch các khu công
nghiệp, cần chú ý tới đồng bộ hạ tầng sản
xuất với hạ tầng các dịch vụ xã hội cơ bản
như y tế, giáo dục, văn hóa…
Thứ tư, phân bổ và sử dụng các nguồn
lực tài chính công bằng và hiệu quả. Huy
động nguồn vốn xã hội để đầu tư xây dựng
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
(Xem tiếp trang 48)
40
Số 20 (420) - T10/2020
Bạn đang xem tài liệu "Tiếp cận dịch vụ y tế của người lao động tại các khu công nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tiep_can_dich_vu_y_te_cua_nguoi_lao_dong_tai_cac_khu_cong_ng.pdf

