Sự tương thích giữa quy định pháp luật Việt Nam về quyền tự do liên kết của người lao động với Hiệp định CPTPP

SỰ TƢƠNG THÍCH GIỮA QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM  
VỀ QUYỀN TỰ DO LIÊN KẾT CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG VỚI HIỆP ĐỊNH CPTPP  
Ths. Trần Thị Nguyệt  
Trƣờng Đại học Thƣơng mại  
Tóm lược: Ngày 20 tháng 11 năm 2019 Quốc hội đã thông qua Bộ luật lao động năm  
2019 cho phép người lao động được tự do thành lập, gia nhập các công đoàn độc lập, tức là  
cho phép người lao động được tự do liên kết, thành lập, gia nhập các tổ chức đại diện người  
lao động không thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam – công đoàn duy nhất đại diện cho  
người lao động hiện nay. Quy định này góp phần thúc đẩy và nâng cao hiệu quả đại diện, bảo  
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động trong quan hệ lao động, phù hợp với các Công  
ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), các cam kết quốc tế trong Hiệp định đối tác toàn  
diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Tuy nhiên để các quy định này có thể phát  
huy được hiệu lực trong thực tế thúc đẩy tiến trình thực hiện các cam kết quốc tế của Việt  
Nam cần phải nghiên cứu, đánh giá cá quy định này so với các tiêu chuẩn lao động quốc tế  
được dẫn chiếu trong Hiệp định CPTPP.  
Từ khóa: Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương(CPTPP), tổ  
chức đại diện người lao động, quyền tự do liên kết  
1. Đặt vấn đề  
Quyền thành lập tổ chức đại diện cho người lao động là một quyền đặc biệt của người  
lao động nhằm cân bằng địa vị của người lao động với người sử dụng lao động trong quan hệ  
lao động. Theo pháp luật hiện hành quyền này được quy định tại Bộ luật lao động 2012 và  
Luật Công đoàn 2020 theo đó, ở Việt Nam chỉ thừa nhận một tổ chức đại diện duy nhất cho  
người lao động đó là tổ chức Công đoàn trực thuộc Tổng Liên Đoàn lao động Việt Nam. Khi  
gia nhập hiệp định CPTPP thì quy định trên trở thành một trong những vấn đề mà Việt Nam  
cần phải thay đổi để phù hợp với các cam kết trong hiệp định CPTPP. Ngày 20 tháng 11 năm  
2019 Quốc hội đã thông qua Bộ luật lao động (có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm  
2021), trong đó thừa nhận quyền tự do thành lập tổ chức đại diện của người lao động, phá bỏ  
vị trí độc tôn của Công đoàn Việt Nam. Quy định này tác động rất lớn các các văn bản điều  
chỉnh quan hệ lao động có liên quan. Vì vậy, để phát huy được hiệu quả của quy định trong  
Bộ luật Lao động năm 2019 thì các quy định này cần được cụ thể hóa đồng thời cần phải có  
sự sửa đổi đồng bộ trong các văn bản có liên quan, đảm bảo phù hợp với các cam kết quốc tế  
của Việt Nam trong đó có Hiệp định CPTPP.  
2. Quy định về quyền tự do liên kết ở Việt Nam  
2.1. Quy định về quyền tự do liên kết của người lao động trong Bộ luật Lao động 2012 và  
Luật Công đoàn 2012 và sự tương thích với hiệp định CPTPP  
Quyền tự do liên kết được xác định là quyền cơ bản của người lao động. Quyền này là  
một trong những yếu tố thể hiện nền dân chủ và sự phát triển của một quốc gia. Do đó, tôn  
921  
trọng nguyên tắc tự do liên kết là việc làm hàng đầu để các mối quan hệ trong hoạt động nghề  
nghiệp được vận hành tốt và để cho nền dân chủ của một quốc gia được phát huy tích cực.  
Quyền này bao gồm quyền được tự do thành lập, tham gia hoặc không tham gia vào các công  
đoàn khác nhau của người lao động.  
Tổ chức công đoàn được thành lập để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng  
của người lao động. Theo đó, người lao động được quyền tự nguyện thành lập và gia nhập  
hoạt động của tổ chức công đoàn Việt Nam. Theo Điều 10 Hiếp pháp 2013 thì công đoàn là  
 tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên  
cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp,  
chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia  
kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp  
về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động  
người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây  
dựng và bảo vệ Tổ quốc . Pháp luật ghi nhận chủ thể có quyền thành lập tổ chức công đoàn  
bao gồm: “người lao động là người Việt Nam làm việc trong các cơ quan, tổ chức doanh  
nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn‖(Khoản 1, Điều 5 Luật Công  
đoàn 2012). Pháp luật quy định công đoàn hoạt động theo các cấp: công đoàn cấp cơ sở, được  
thành lập ở cấp độ doanh nghiệp và tổ chức công đoàn cấp trên trực tiếp của cấp cơ sở, giám  
sát các sinh hoạt/hoạt động của tổ chức công đoàn cấp cơ sở, các tổ chức công đoàn cấp trên  
cơ sở có quyền và có trách nhiệm vận động người lao động gia nhập và thành lập công đoàn  
cơ sở và có quyền yêu cầu người sử dụng lao động và cơ quan quản lý nhà nước về lao động  
địa phương tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ việc thành lập công đoàn cơ sở và các công đoàn  
cấp trên.  
Khi công đoàn cơ sở được thành lập theo đúng quy định của Luật Công đoàn thì người  
sử dụng lao động phải thừa nhận và tạo điều kiện thuận lợi để công đoàn cơ sở hoạt động.  
Công đoàn cơ sở có các quyền sau: đại diện cho lợi ích tập thể người lao động bằng việc đàm  
phán, ký kết và giám sát thực hiện thỏa ước lao động tập thể; tranh tụng tại Tòa án khi có  
tranh chấp về thoả ước lao động tập thể; hợp tác với các doanh nghiệp trong việc xây dựng và  
giám sát việc thực hiện thang lương, bảng lương; hướng dẫn và tư vấn cho người lao động về  
quyền và nghĩa vụ của mình khi ký kết và thực hiện hợp đồng lao động với doanh nghiệp; đại  
diện cho người lao động trong việc thực hiện các hoạt động pháp lý tại Tòa với sự ủy quyền  
của người lao động; tham gia giải quyết các tranh chấp lao động cùng với cơ quan có thẩm  
quyền; tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định của pháp luật.  
Người sử dụng lao động bị cấm có các hành vi làm ảnh hưởng đến quyền tự do thành  
lập, gia nhập và hoạt động công đoàn như: cản trở, gây khó khăn cho người lao động thành  
lập, tham gia và hoạt động công đoàn; ép buộc lao động thành lập, tham gia và hoạt động  
công đoàn; yêu cầu người lao động không tham gia hoặc rời khỏi tổ chức công đoàn; và phân  
biệt đối xử về tiền lương, thời gian làm việc và các quyền, nghĩa vụ khác nhằm cản trở việc  
thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động.  
922  
Nhìn chung, các quy định của Bộ luật Lao động và Luật Công đoàn về quyền tự do  
liên kết của người lao động đã hướng tới bảo đảm vai trò của tổ chức công đoàn trong thực thi  
chức năng đại diện và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Tuy  
nhiên, các quy định này chưa phù hợp với các cam kết trong Hiệp định đối tác toàn diện và  
tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), cụ thể như sau:  
Thứ nhất, các quy định của Việt Nam không cho phép người lao động được quyền tự  
do tổ chức và gia nhập các tổ chức đại diện của người lao động. Mặc dù Bộ luật Lao động  
hiện hành đã cho phép người lao động và người sử dụng lao động có quyền thành lập, gia  
nhập, hoạt động trong tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật. Tuy  
nhiên, Bộ luật Lao động và Luật Công đoàn hiện hành lại quy định theo hướng Công đoàn là  
tổ chức duy nhất đại diện cho người lao động trong quan hệ lao động, người lao động chỉ có  
quyền lựa chọn thành lập, gia nhập và hoạt động Công đoàn chứ không có quyền thành lập  
các tổ chức khác để đại diện cho mình trong quan hệ lao động.  
Thứ hai, chưa đáp ứng được quyền hưởng sự bảo vệ thích đáng trước mọi hành vi  
phân biệt đối xử chống lại công đoàn trong việc làm của họ, chưa tương thích với các yêu cầu  
đặt ra trong Hiệp định CPTPP, nhất là về tài chính công đoàn. Theo đó, tổ chức công đoàn  
Việt Nam hoạt động tuân theo Điều lệ riêng. Mặc dù vậy, vấn đề tài chính của tổ chức công  
đoàn gồm các nguồn thu từ: i) đoàn phí công đoàn do đoàn viên công đoàn đóng theo quy  
định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam; ii) kinh phí công đoàn do cơ quan, tổ chức, doanh  
nghiệp đóng bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho NLĐ; iii) ngân  
sách nhà nước cấp hỗ trợ; iv) nguồn thu khác từ hoạt động văn hóa, thể thao, hoạt động kinh  
tế của Công đoàn; từ đề án, dự án do Nhà nước giao; từ viện trợ, tài trợ của tổ chức, cá nhân  
trong nước và nước ngoài. Chính vì sự lệ thuộc về tài chính của tổ chức công đoàn vào  
NSDLĐ có ảnh hưởng đến tính độc lập trong tổ chức và hoạt động khi công đoàn tham gia  
vào QHLĐ.  
Thứ ba, theo pháp luật lao động Việt Nam hiện hành, người lao động nước ngoài tại  
Việt Nam không được phép gia nhập tổ chức Công đoàn Việt Nam. Quy định này đã hạn chế  
quyền tự do trong lao động người lao động nước ngoài ở Việt Nam, không phù hợp với tiêu  
chuẩn quốc tế về quyền tự do liên kết và mâu thuẫn với Hiệp định CPTPP, đồng thời cũng  
cho thấy sự không bình đẳng về quyền của người lao động khi tham gia quan hệ lao động tại  
Việt Nam.  
Như vậy, so với tiêu chuẩn lao động quốc tế, một trong những điểm chưa phù hợp lớn  
trong quy định của pháp luật Việt Nam chính là việc không cho phép người lao động có  
quyền tự do thành lập và gia nhập tổ chức đại diện khác ngoài công đoàn theo hệ thống công  
đoàn Việt Nam hiện nay. Vì vậy, để thực hiện các cam kết về lao động trong hiệp định  
CPTPP, đặc biệt là về quyền tự do hiệp hội, Việt Nam cần tiến hành sửa đổi pháp luật lao  
động và công đoàn với phương án cho phép người lao động được thành lập tổ chức của người  
lao động ở tại doanh nghiệp với mục đích đối thoại, thương lượng tập thể để bảo vệ quyền lợi  
của mình trong quan hệ lao động.  
923  
2.2. Quy định về quyền tự do liên kết của người lao động trong Bộ luật Lao động năm 2019  
và sự tương thích với Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương  
(CPTPP)  
Về cơ bản, Hiệp định CPTPP không đưa ra tiêu chuẩn riêng về lao động mà chỉ khẳng  
định lại các tiêu chuẩn lao động đã được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của Tổ chức Lao động  
quốc tế (ILO). Các tiêu chuẩn lao động quốc tế bao gồm: Tự do liên kết và công nhận một  
cách thực chất quyền thương lượng tập thể; loại bỏ mọi hình thức lao động cưỡng bức hoặc  
bắt buộc; xóa bỏ một cách có hiệu quả lao động trẻ em; loại bỏ phân biệt đối xử trong việc  
làm và nghề nghiệp... Trong đó, việc thừa nhận quyền tự do liên kết trong quan hệ lao động,  
đặc biệt là quyền tự do liên kết của người lao động là một trong những vấn đề được các nước  
thành viên chú trọng, quan tâm và thể hiện trong các cam kết quốc tế.  
Để thực hiện các cam kết quốc tế trong các hiệp định thương mại tự do và các công  
ước quốc tế về tiêu chuẩn lao động, Việt Nam đã tiến hành sửa đổi Bộ luật lao động. Ngày 20  
tháng 11 năm 2019, Quốc hội đã chính thức thông qua Bộ luật lao động và chính thức có hiệu  
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021. Một trong những nội dung thay đổi quan trọng nhất  
trong Bộ Luật Lao động năm 2019 là quyền được thành lập hay tham gia một tổ chức đại diện  
do chính người lao động lựa chọn, không nhất thiết phải là thành viên của Tổng Liên đoàn  
Lao động Việt Nam. Theo đó, Bộ luật Lao động năm 2019 có 1 chương riêng về Tổ chức đại  
diện người lao động tại cơ sở (chương 13), chương này đã thay thế cho chương quy định về  
Công đoàn trong Bộ luật Lao động năm 2012. Tuy nhiên, quy định mới chỉ đưa ra các quy  
định mang tính định khung về tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp tạo cơ sở  
pháp lý để đảm bảo quyền tự do liên kết của người lao động trong quan hệ lao động.  
- Về loại hình tổ chức đại diện người lao động.  
Khoản 3, điều 3, Bộ luật lao động 2019 quy định: “Tổ chức đại diện người lao động  
tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp‖. Theo  
quy định này thì có tổ chức đại diện người lao động có thể tồn tại dưới 2 hình thức là Công  
đoàn và loại hình khác với tên gọi là tổ chức của người lao động. Công đoàn là tổ chức trực  
thuộc Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, đây là loại hình tổ chức đại diện cho người lao  
động đã và đang tồn tại ở nước ta và là tổ chức duy nhất được coi là tổ chức đại diện cho  
người lao động cho đến nay. Tuy nhiên từ 1/1/2021, pháp luật thừa nhận thêm một loại hình  
tổ chức đại diện cho người lao động đó là tổ chức của người lao động, như vậy tổ chức của  
người lao động ở đây được hiểu là các tổ chức đại diện cho người lao động khác so với tổ  
chức Công đoàn. Quy định này đã mở rộng hơn quyền tự do liên kết của người lao động trong  
quan hệ lao động, theo đó thay vì chỉ được lựa chọn gia nhập hoặc không gia nhập tổ chức  
Công đoàn như hiện nay thì từ năm 2021 trở đi pháp luật cho phép người lao động trong  
doanh nghiệp được quyền lựa chọn thành lập, gia nhập vào tổ chức Công đoàn hoặc một tổ  
chức của người lao động khác. Quy định này là phù hợp với các quy định trong các công ước  
quốc tế về lao động như công ước số 87 về quyền tự do hiệp hội và bảo vệ quyền được tổ  
924  
chức, công ước 98 về áp dụng các nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể. Đây  
cũng đồng thời là các tiêu chuẩn quốc tế mà Việt Nam đã cam kết trong hiệp định CPTPP.  
- Về quy mô hoạt động.  
Theo điều 5 của Công ước 87 về quyền tự do hiệp hội và bảo vệ quyền được tổ  
chức thì: ―Các tổ chức của người lao động và của người sử dụng lao động có quyền hợp  
thành các liên đoàn, tổng liên đoàn, và mọi tổ chức, liên đoàn hoặc tổng liên đoàn đó đều  
có quyền gia nhập đều có quyền liên kết với các tổ chức quốc tế của người lao động và  
người sử dụng lao động‖.  
Bộ luật lao động 2019 mới chỉ đề cập đến tổ chức đại diện của người lao động tại cơ  
sở (chương 13) mà chưa đề cập đến tổ chức đại diện của người lao động ở các phạm vi lớn  
hơn như phạm vi nhóm doanh nghiệp hay phạm vi ngành. Điều đó đồng nghĩa với việc người  
lao động chỉ được quyền tự do thành lập tổ chức của người lao động ở cấp cơ sở mà không có  
quyền liên kết lại với nhau để mở rộng quy mô tổ chức của mình. Quy định như vậy đã làm  
hạn chế quyền tự do của người lao động trong việc liên kết các tổ chức đại diện cho mình và  
chưa phù hợp với các tiêu chuẩn lao động thể hiện trong các công ước quốc tế và các cam kết  
của Việt Nam trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.  
Việc không quy định về các tổ chức của người lao động các phạm vi lớn hơn cũng  
chưa có sự đồng bộ, nhất quán trong chính quy định của Bộ luật lao động, đặc biệt là các  
quy định về thương lượng tập thể. Theo quy định về thương lượng tập thể trong Bộ luật  
lao động 2019 thì việc lượng tập thể về phía người lao động phải do tổ chức đại diện  
người lao động đúng ra yêu cầu, đàm phán, thương lượng với người sử dụng lao động.  
Điều 65 Bộ luật lao động 2019 quy định “Thương lượng tập thể là việc đàm phán, th a  
thuận giữa một bên là một hoặc nhiều tổ chức đại diện người lao động với một bên là một  
hoặc nhiều người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện người sử dụng lao động nh m  
xác lập điều kiện lao động, quy định về mối quan hệ giữa các bên và xây dựng quan hệ  
lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định”. Việc thương lượng có thể được diễn ra trong phạm  
vi doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp hoặc trong phạm vi ngành. Đại diện người lao động  
tiến hành thương lượng tập thể theo phạm vi ngành là Công đoàn ngành. Thương lượng  
tập thể trong phạm vi nhóm doanh nghiệp được tiến hành theo điều 72 Bộ luật lao động  
2019. Khoản 3 điều 72 quy định: ―Trường hợp thương lượng tập thể có nhiều doanh  
nghiệp tham gia thì đại diện thương lượng do các bên thương lượng quyết định trên cơ sở  
tự nguyện, th a thuận”. Khi cần thương lượng tập thể, các tổ chức đại diện của các doanh  
nghiệp sẽ thương lượng để cử ra ban đại diện nhằm tiến hành các hoạt động thương lượng  
tập thể, xây dựng thỏa ước lao động tập thể trong phạm vi nhóm doanh nghiệp. Quy định  
này đã cho phép các tổ chức của người lao động được liên kết lại với nhau để cùng thương  
lượng với nhóm người sử dụng lao động, đảm bảo được quyền chính đáng của người lao  
động trong phạm vi nhóm doanh nghiệp. Tuy nhiên các quy định trong chương 13 Bộ luật  
lao động lại chưa tương thích với quy định này.  
925  
- Về quyền thành lập, gia nhập, tổ chức đại diện người lao động.  
Bộ luật lao động 2019 quy định tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm  
công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp (Khoản 3, Điều 3). Với quy  
định này, thì các tổ chức của người lao động chỉ được phép thành lập trong phạm vi doanh  
nghiệp bao gồm các loại hình doanh nghiệp sau doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công  
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên,  
công ty hợp danh (theo Luật doanh nghiệp 2014). Trong khi đó, quan hệ lao động được hình  
thành trên cở sở hợp đồng lao động được xác lập giữa người lao động với người sử dụng lao  
động; người sử dụng lao động ở đây bao gồm doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ  
gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận  
(theo khoản 2 Điều 3 Bộ luật lao động 2019). Như vậy, ngoài doanh nghiệp thì quan hệ lao  
động còn có thể được xác lập trong các tổ chức kinh tế khác như hợp tác xã, hộ gia đình, nên  
việc quy định người lao động chỉ được thành lập tổ chức đại diện ngoài công đoàn trong phạm  
vi doanh nghiệp là chưa phù hợp và làm hạn chế quyền tự do liên kết của người lao động.  
Đây là lần đầu tiên, Việt Nam thừa nhận cho người lao động được quyền thành lập các  
tổ chức đại diện người lao động khác bên cạnh tổ chức Công đoàn, nên các quy định trong Bộ  
luật lao động 2019 mang tính chất nguyên tắc về một số vấn đề lớn về quyền của người lao  
động trong việc thành lập, gia nhập tổ chức đại diện; điều kiện đối với ban lãnh đạo và người  
đứng đầu tổ chức; điều lệ của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở để bảo đảm đáp ứng  
các cam kết quốc tế, các quy định chi tiết vẫn cần Chính Phủ, Bộ Lao động Thương binh và  
Xã hội tiếp tục nghiên cứu và quy định cụ thể hơn như: chức năng của tổ chức của người lao  
động trong doanh nghiệp? Chức năng của tổ chức của người lao động với chức năng của tổ  
chức Công đoàn theo quy định của Hiến pháp 2013 có gì khác nhau? Trình tự, thủ tục đăng  
ký thành lập? Số lượng tối thiểu người lao động của doanh nghiệp trong tổ chức của người lao  
động khi đăng ký? Vấn đề tài chính của tổ chức? Mối quan hệ giữa tổ chức của người lao  
động với tổ chức Công đoànnhư thế nào? … Nếu những vấn đề này không được nghiên cứu,  
giải quyết cụ thể, hợp lý chắc chắn sẽ trở thành rào cản trong quá trình Việt Nam thực thi các  
quy định của Bộ luật Lao động 2019 và các cam kết quốc tế trong CPTPP.  
Như vậy, khi Bộ Luật Lao động năm 2019 có hiệu lực, người lao động sẽ chính thức  
được thành lập các tổ chức đại diện cho mình, thay vì chỉ được lựa chọn tham gia vào tổ chức  
Công đoàn như lâu nay. Đây quy định quan trọng trong Bộ Luật lao động mới, thể hiện việc  
nội luật hóa các cam kết của Việt Nam trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đã ký  
kết, đặc biệt là Hiệp định CPTPP. Bởi, tôn trọng các công ước cơ bản của ILO là yêu cầu  
trọng tâm của các hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương. Bộ luật  
Lao động sửa đổi 2019 đóng vai trò quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện một  
cách đầy đủ Tuyên bố 1998 của Tổ chức Lao động quốc tế và hướng tới việc gia nhập các  
công ước quốc tế về tiêu chuẩn lao động khác của Việt Nam. Bộ luật lao động đã tạo khung  
pháp lý để phát triển, ổn định quan hệ lao động, đảm bảo công bằng và phát triển bền vững  
kinh tế đất nước.  
926  
3. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền tự do liên kết của ngƣời lao động trong  
quan hệ lao động  
3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quyền tự do liên kết của người lao động trong quan hệ  
lao động.  
Việc thừa nhận, cho phép các tổ chức của người lao động tồn tại song song bên cạnh  
Công đoàn Việt Nam là một vấn đề mới ở Việt Nam. Để có thể phát huy được hiệu quả của sự  
thay đổi này thì cần phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện chính sách, pháp luật trong thời gian  
tới. Theo đó việc hoàn thiện pháp luật về quyền tự do liên kết của người lao động cần phải  
đáp ứng các yêu cầu sau:  
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện pháp luật phù hợp với các tiêu chuẩn lao động quốc tế về  
quyền tự do liên kết trong quan hệ lao động, thúc đẩy việc gia nhập các công ước quốc tế về  
lao động. Mặc dù hiện nay Việt Nam đã phê chuẩn rất nhiều công ước cơ bản, gần đây nhất  
tháng 6/2019 Việt Nam đã phê chuẩn công ước 98 về áp dụng nguyên tắc của quyền tổ chức  
và thương lượng tập thể, tuy nhiên cho đến thời điểm này Việt Nam vẫn chưa phê chuẩn hết  
các công ước quốc tế về quyền cơ bản của người lao động tại nơi làm việc (còn được gọi là  
các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản) trong đó có Công ước số 87 về quyền tự do hiệp hội  
và bảo vệ quyền được tổ chức .  
Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về tự do liên kết của người lao động, hướng tới ổn định  
kinh tế, chính trị, xã hội. Khi hoàn thiện pháp luật về quyền tự do công đoàn cần chú ý đến  
các điều kiện kinh tế xã hội và tình hình chính trị của Việt Nam. Pháp luật thừa nhận sự tồn  
tại tổ chức của người lao động bên cạnh Công đoàn nhưng tổ chức của người lao động vẫn  
phải chịu sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa  
Việt Nam. Mọi hoạt động của các tổ chức đại diện người lao động phải luôn tuân thủ chủ  
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện chức năng của mình theo  
đúng quy định của pháp luật, chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước. Quyền tự do công đoàn  
chỉ phát huy hiệu quả trong thực tiễn khi pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và hệ  
thống chính trị của Việt Nam.  
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền tự do liên kết của ngƣời  
lao động  
Thứ nhất, cần khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao  
động 2019. Như đã phân tích ở trên, Bộ luật lao động 2019 mới chủ yếu đưa ra các quy định  
mang tính nguyên tắc đối với vấn đề về tổ chức đại diện của người lao động nói chung và tổ  
chức của nguoiwf lao động nói riêng. Chính phủ được Quốc hội trao quyền để quy định chi  
tiết nhiều điều luật trong Bộ luật lao động như các quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng  
ký; thẩm quyền, thủ tục cấp đăng ký, thu hồi đăng ký; quản lý nhà nước đối với vấn đề tài  
chính, tài sản của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp; chia, tách, hợp nhất, sáp nhập,  
giải thể, quyền liên kết của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp; số lượng tối thiểu  
927  
thành viên là người lao động làm việc tại doanh nghiệp; điều lệ của tổ chức của người lao  
động… Vì vậy, để các quy định của Bộ luật lao động, đặc biệt các quy định về tổ chức đại  
diện của người lao động có thể triển khai và áp dụng hiệu quả trong thực tế, thì Chính Phủ, Bộ  
Lao động Thương binh và Xã hội cần sớm nghiên cứu và ban hành các văn bản hướng dẫn thi  
hành chi tiết. Khi ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành cần đảm bảo tính đồng bộ giữa  
các quy định về tổ chức đại diện người lao động với các quy định liên quan đến các chế định  
khác trong Bộ luật lao động như chế định việc làm, thương lượng tập thể, giải quyết tranh  
chấp lao động …  
Thứ hai, sửa đổi Luật Công đoàn để đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ với Bộ luật lao  
động 2019 và các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.  
Luật Công đoàn 2012 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 3, ngày  
20/6/2012 (trên cơ sở sửa đổi, bổ sung Luật Công đoàn 1990) và có hiệu lực thi hành từ ngày  
1/1/2013.  
Việc Việt Nam ký kết, phê chuẩn và tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ  
mới trong thời gian gần đây cũng như việc sửa đổi Hiến Pháp 2013, Bộ luật Lao động 2019  
đã có những tác động rất lớn đến tổ chức Công đoàn ở Việt Nam, từ đó đã đặt ra yêu cầu rà  
soát và hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh về Công đoàn và các tổ chức của người lao động  
trong quan hệ lao động ở nước ta. Việc rà soát, hoàn thiện các quy định trong Luật Công đoàn  
cũng góp phần nội luật hóa theo lộ trình phù hợp những điều ước quốc tế mà Việt Nam là  
thành viên. Trong quá trình hoàn thiện Luật Công đoàn cần chú trọng một số vấn đề sau:  
- Xác định lại phạm vi điều chỉnh của Luật Công đoàn, theo đó cần xác định rõ phạm vi  
điều chỉnh của Luật Công đoàn chỉ trong phạm vi tổ chức công đoàn như hiện nay hay điều chỉnh  
cả các tổ chức đại diện người lao động khác nữa. Trong trường hợp mở rộng phạm vi điều chỉnh  
thì cần thay đổi lại tên của Luật này thành Luật về tổ chức đại diện của người lao động.  
- Hoàn thiện lại cơ cấu tổ chức Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, theo hướng quy  
định cụ thể vai trò, vị trí của tổ chức công đoàn cơ sở trong bối cảnh mới khi Việt Nam thực  
thi Hiệp định CPTPP; quy định cơ chế bảo đảm thực thi vai trò của tổ chức công đoàn cơ sở  
và tổ chức công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở; quy định về tính độc lập trong hoạt động của tổ  
chức công đoàn cơ sở; quy định rõ mối quan hệ giữa tổ chức công đoàn cơ sở với tổ chức của  
NSDLĐ và NSDLĐ trong QHLĐ; quy định về kết nạp các tổ chức của người lao động vào  
Tổng liên đoàn lao động Việt Nam …  
- Tăng cường chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động của tổ  
chức Công đoàn tại cơ sở, tránh tập trung quá nhiều vào hoạt động xã hội khác như hiện nay  
để thực hiện đúng chức năng của tổ chức đại diện người lao động, góp phần nâng cao địa vị  
của tổ chức Công đoàn trong lòng người lao động.  
- Quy định cụ thể cơ chế bảo vệ đối với cán bộ công đoàn, đặc biệt cần xác định rõ cơ  
chế tài chính đối với cán bộ công đoàn, theo đó chi phí cho cán bộ Công đoàn hoạt động phải  
928  
được lấy từ quỹ công đoàn để chính cán bộ công đoàn có thể tự bảo vệ mình và bảo vệ những  
thành viên khác của tổ chức trước sự bất lợi mà người sử dụng lao động mang lại, từ đó góp  
phần tăng cường hiệu quả hoạt động bảo vệ người lao động, thực hiện các chức năng của  
Công đoàn.  
Thứ ba, cần tiếp tục rà soát chỉnh sửa quy định của Bộ luật lao động 2019 về quyền tự  
do liên kết của người lao động. Bộ luật Lao động 2019 lần đầu tiên ghi nhận quyền được tự  
do thành lập, gia nhập và hoạt động trong các tổ chức của người lao động khác ngoài tổ chức  
Công đoàn, nên Việt Nam chưa có kinh nghiệm trong việc điều chỉnh mối quan hệ này. Vì  
vậy, các quy định về tổ chức đại diện người lao động vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu cả về  
lý luận và thực tiễn và cần được tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới.  
Bộ luật lao động chỉ đưa ra khái niệm về tổ chức đại diện người lao động tại Khoản 3  
Điều 3 Bộ luật lao động, trong đó ghi nhận tổ chức đại diện người lao động bao gồm Công  
đoàn và tổ chức của người lao động. Công đoàn được định nghĩa rõ theo Hiến pháp 2013 và  
theo quy định của Luật Công đoàn. ―Tổ chức của người lao động‖ là thuật ngữ mới được xuất  
hiện trong Bộ luật lao động nhưng chưa có một định nghĩa cụ thể về nó. Dựa trên tinh thần  
của Bộ luật lao động thì ―tổ chức của người lao động‖ được dùng để chỉ những tổ chức khác  
đại diện cho người lao động mà không phải là tổ chức Công đoàn. Tuy nhiên, nếu xét về nội  
hàm thuật ngữ thì Công đoàn cũng chính là một tổ chức của người lao động. Vì vậy, việc Bộ  
luật lao động sử dụng khái niệm ―tổ chức của người lao động‖ chỉ những tổ chức đại diện  
người lao động khác để phân biệt với tổ chức Công đoàn là chưa phù hợp. Việc sử dụng thuật  
ngữ này cũng dễ tạo ra sự phân biệt đối xử của các cá nhân, tổ chức với hai loại hình tổ chức  
đại diện của người lao động trong thực tiễn áp dụng pháp luật.  
Các quy định trong Bộ luật lao động 2019 trong chương XIII về tổ chức đại diện của  
người lao động chưa được sắp xếp logic, các vấn đề còn đang đan chéo nên các quy định này  
cần được nghiên cứu và hoàn thiện trong thời gian tới để tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển  
khai, áp dụng các quy định này vào trong thực tế.  
Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật lao động và luật Công đoàn cũng cần xem xét hoàn  
thiện các luật chuyên ngành có liên quan. Tính khả thi của một quy phạm pháp luật không chỉ  
phụ thuộc vào nội dung của quy định đó có phù hợp với thực tiễn hay không mà còn phụ  
thuộc vào sự tương hỗ giữa các quy định có liên quan và khả năng thực thi của các cơ quan, tổ  
chức có thẩm quyền. Việc hoàn thiện quy định về quyền tự do liên kết và thương lượng tập  
thể chỉ đạt hiệu quả khi hoàn thiện các chế định khác của bộ luật Lao động. Hiện nay, nhiều  
chế định của Bộ luật lao động đã được quy định thành một Luật đơn hành như: Luật Việc  
làm, Luật An toàn, vệ sinh lao động. Trong khi đó, các quy định về quyền tự do liên kết và  
thương lượng tập thể có liên quan đến hầu hết các chế định khác nhau điều chỉnh quan hệ lao  
động nên cần phải rà soát chỉnh sửa các văn bản pháp luật khác có liên quan để đảm bảo tính  
đồng bộ của hệ thống pháp luật.  
929  
Việc phê chuẩn Hiệp định CPTPP đem lại những thuận lợi và những thách thức đối  
với Việt Nam. Vấn đề bảo đảm quyền lợi của người lao động đang ngày càng được coi trọng  
bởi người lao động là người trực tiếp tạo ra các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nên trước hết họ  
phải là những quan tâm, bảo vệ, bảo đảm những quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong quan  
hệ lao động. Hiệp định CPTPP đã đưa ra những cam kết về lao động, trong đó yêu cầu áp  
dụng các tiêu chuẩn lao động của ILO buộc các nước thành viên phải tuân thủ. Đây cũng là  
một thách thức với Việt Nam trong quá trình đổi mới tổ chức hoạt động phù hợp với phát  
triển của kinh tế - xã hội đất nước. Bộ Luật vừa được thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2019  
đã có những thay đổi quan trọng trong quan hệ lao động, góp phần cải thiện quan hệ lao động  
ở Việt Nam, tạo nền tảng vững chắc cho hội nhập quốc tế và thương mại công bằng. Các quy  
định trong Bộ luật lao động về tổ chức đại diện người lao động mặc dù vẫn cần được quy định  
chi tiết và cần được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện hơn, nhưng về cơ bản các quy định này  
đã được thay đổi theo hướng tiếp cận phù hợp hơn với các tiêu chuẩn lao động đã đượsc quốc  
tế công nhận. Đây là nỗ lực không nhỏ của Việt Nam trong quá trình thực hiện các cam kết  
quốc tế mà Việt Nam là thành viên.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
2. Bộ luật Lao động năm 2019  
3. Công ước 87 năm 1948 Quyền tự do liên kết và quyền được tổ chức.  
4. Công ước quốc tế các Quyền kinh tế - xã hội và văn hóa năm 1966.  
5. Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị năm 1966.  
6. Công ước 98 (1951) về Áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương  
lượng tập  
7. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Comprehensive  
and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership - CPTPP)  
8. Luật Công đoàn 2012.  
9. Lê Thị Hoài Thu, (2018) ―Hoàn thiện pháp luật về tổ chức đại diện lao động khi  
Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương‖ Tạp chí  
Khoa học Đại học Quốc Gia Hà Nội. Tập 34, Số 4 (2018) 32-40  
10.  
Trần Thị Mai Loan (2017) ―Hoàn thiện pháp luật về quyền tự do thành lập tổ  
chức đại diện của người lao động‖  
thien_pl_ve_lao_dong.pdf truy cập ngày 5/2/2020  
930  
pdf 10 trang yennguyen 14280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự tương thích giữa quy định pháp luật Việt Nam về quyền tự do liên kết của người lao động với Hiệp định CPTPP", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_tuong_thich_giua_quy_dinh_phap_luat_viet_nam_ve_quyen_tu.pdf