Bảo đảm quyền tham gia của công dân trên nền tảng kỹ thuật số

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
BẢO ĐẢM QUYỀN THAM GIA CỦA CÔNG DÂN  
TRÊN NỀN TẢNG KỸ THUẬT SỐ  
Bùi Tiến Đạt*  
* TS. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Trong nền quản trị mở, Nhà nước đóng vai trò chủ đạo - chủ thể trung  
tâm trong việc kết nối, phối hợp, hợp tác giữa khu vực công và các  
tác nhân khác ngoài khu vực công. Nhà nước cần tiếp tục đẩy mạnh  
sự tham gia của công dân trên nền tảng kỹ thuật số (e-participation),  
thể hiện qua quá trình ra quyết định, quá trình tham vấn và quản lý  
thông tin - dữ liệu được nâng tầm về kỹ thuật trên nền tảng kỹ thuật  
số, và được nâng tầm về thể chế dựa vào sự minh bạch và hợp tác. Từ  
bài học kinh nghiệm của nhiều quốc gia, có thể thấy các hình thức  
e-participation ngày càng đa dạng và ngày càng trở nên phổ biến. Sự  
tham gia trên nền tảng kỹ thuật số được thực hiện hiệu quả trên diện  
rộng sẽ là đột phá trong việc nâng cao hiệu quả quản trị và trách nhiệm  
của Nhà nước. Ở Việt Nam, sự tham gia trên nền tảng kỹ thuật số chỉ  
mới phát triển ở việc công khai và vận hành một số thủ tục hành chính  
trên môi trường internet, và cần thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa nhằm xây  
dựng thành công Chính phủ điện tử.  
Từ khóa: Quyền tham gia trên  
nền tảng kỹ thuật số; sự tham gia  
số; e-participation; chính phủ  
điện tử; chính phủ mở.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 03/9/2020  
: 20/9/2020  
: 02/10/2020  
Article Infomation:  
Abstract:  
In open governance, the State plays a key role - the central entity in  
the connection, coordination, and cooperation among the public sector  
and other elements outside the public sector. The State should promote  
citizen participation on the digital platform (e-participation) through  
its policy decision-making, consultation, enhancing its management  
of information - data on a digital platform, and its enhanced institution  
based on transparency and collaboration approach. From the lessons  
learned from foreign countries, it can be seen that e-participation  
is widely applied in several manners and is coming more and more  
popular. The participation on a digital platform effectively implemented  
on a large scale will be a breakthrough in improving the efficiency  
of governance and the responsibility of the State. In Vietnam, digital  
participation is only developed in the publicity and operation of a number  
of administrative procedures on internet environment, and there is a need  
to further strengthen to develop a successful e-Government.  
Keywords: Right to digital  
platform  
participation;  
e-participation; e-participation;  
e-government;opengovernment.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 03 Sep. 2020  
: 20 Sep. 2020  
: 02 Oct. 2020  
Approved  
1. Khái quát về quyền tham gia trên nền  
tảng kỹ thuật số  
của quản trị công hiện đại và đồng thời là  
trụ cột của phát triển bền vững1. Ở Việt  
Nam, thuật ngữ “quyền tham gia” thường  
là cách viết ngắn gọn của quyền tham gia  
Sự tham gia hay quyền tham gia  
(participation) là một khía cạnh quan trọng  
1. UN Department of Economic and Social Affairs, United Nations E-Government Survey 2020: Digital  
Government in the Decade of Action for Sustainable Development, New York, 2020, publicadministration.  
un.org, tr. 115.  
14  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
quản lý nhà nước và xã hội, quyền tham  
gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà  
nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương  
và cả nước. Quyền tham gia lần đầu tiên  
được quy định trong Hiến pháp năm 1980  
tại Điều 56: “Công dân có quyền tham gia  
quản lý công việc của Nhà nước và của xã  
hội”. Sau đó, Hiến pháp năm 1992 quy định  
rõ hơn tại Điều 53 như sau: “Công dân có  
quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội,  
tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả  
nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan  
nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức  
trưng cầu ý dân”. Ở đây, quyền tham gia  
đã được gắn với quyền thảo luận, kiến nghị  
và quyền biểu quyết trưng cầu ý dân. Nếu  
hiểu quyền tham gia bao gồm cả quyền biểu  
quyết trưng cầu ý dân, thì Hiến pháp năm  
1946 đã phần nào quy định về quyền tham  
gia qua quyền phúc quyết (tại các Điều 21,  
32 và 70).  
Tham khảo các văn kiện quốc tế về  
quyền con người, có thể thấy, quyền tham gia  
được thừa nhận rộng rãi như một quyền con  
người. Tuy nhiên, quyền này không có phạm  
vi nhất quán mà có sự khác nhau giữa các  
quốc gia và cũng có thể khác nhau giữa các  
thời kỳ ở một quốc gia. Tuyên ngôn toàn thế  
giới về quyền con người năm 1948 (UDHR)  
và Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính  
trị năm 1966 (ICCPR) đều có những quy  
định phản ánh khá rõ nét về quyền tham gia  
các hoạt động của chính quyền (the right to  
take part in the government; the right and  
the opportunity to take part in the conduct  
of public affairs)2. Đây là quy định khái quát  
về quyền tham gia. Thông thường, theo pháp  
luật quốc tế, quyền tham gia của công dân  
được thực hiện thông qua các quyền dân sự,  
chính trị như quyền bầu cử, quyền ứng cử,  
quyền tự do ngôn luận, quyền tự do hội họp,  
quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện.  
Hiến pháp một số quốc gia như Nga và  
Trung Quốc có những nét tương đồng với  
Hiến pháp Việt Nam. Hiến pháp Liên bang  
Nga năm 1993 quy định: “1. Công dân Liên  
bang Nga có quyền tham gia quản lý nhà  
nước một cách trực tiếp cũng như thông qua  
các đại biểu dân cử. 2. Công dân Liên bang  
Nga có quyền bầu và được bầu vào các cơ  
quan quyền lực nhà nước, các cơ quan tự  
quản địa phương, cũng như tham gia trưng  
cầu ý dân” (Điều 32); “Công dân Liên bang  
Nga có quyền kiến nghị trực tiếp, hoặc gửi  
Kế thừa các Hiến pháp Việt Nam trước  
đó, Điều 28 Hiến pháp năm 2013 quy định:  
“1. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà  
nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến  
nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của  
cơ sở, địa phương và cả nước; 2. Nhà nước  
tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý  
nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch  
trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến  
nghị của công dân”.  
2. UDHR, Article 21:  
“(1) Everyone has the right to take part in the government of his country, directly or through freely chosen  
representatives.  
(2) Everyone has the right of equal access to public service in his country.  
(3) The will of the people shall be the basis of the authority of government; this will shall be expressed in  
periodic and genuine elections which shall be by universal and equal suffrage and shall be held by secret vote  
or by equivalent free voting procedures”.  
ICCPR, Article 25:  
“Every citizen shall have the right and the opportunity, without any of the distinctions mentioned in article 2  
and without unreasonable restrictions:  
(a) To take part in the conduct of public affairs, directly or through freely chosen representatives;  
(b) To vote and to be elected at genuine periodic elections which shall be by universal and equal suffrage and  
shall be held by secret ballot, guaranteeing the free expression of the will of the electors;  
(c) To have access, on general terms of equality, to public service in his country”.  
15  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
kiến nghị cá nhân và tập thể đến các cơ quan  
quyền lực nhà nước và cơ quan tự quản địa  
phương” (Điều 33).  
thách thức toàn cầu lâu dài3. Năm 2008, Tổng  
thống Hoa Kỳ Obama xây dựng đề án Định  
hướng Chính phủ mở (Open Government  
Directive) nhằm thiết lập một hệ thống minh  
bạch, có sự tham gia và hợp tác4. Từ ý tưởng  
này, hai học giả Lee và Kwak đã đề xuất 5  
cấp độ của Chính phủ mở dựa trên nền tảng  
truyền thông đa phương tiện kỹ thuật số: Mức  
độ 1: điều kiện ban đầu (cung cấp thông tin,  
truyền tin); Mức độ 2: minh bạch dữ liệu  
(minh bạch các thủ tục pháp lý và hoạt động  
của chính phủ; chất lượng dữ liệu); Mức độ 3:  
tham gia mở (phản hồi, trao đổi, bỏ phiếu và  
nêu ý tưởng cho hoạt động công cộng; giao  
tiếp tương tác; thu thập ý kiến dư luận); Mức  
độ 4: hợp tác mở (hợp tác liên cơ quan; hợp  
tác mở với công chúng; cùng tạo ra các dịch  
vụ gia tăng); Mức độ 5: cam kết diện rộng  
(tăng cường minh bạch, sự tham gia và hợp  
tác; cam kết công diện rộng và liên tục; cam  
kết công tích hợp)5. Trong đó, STGKTS thể  
hiện các cấp độ cao của Chính phủ điện tử.  
2. Kinh nghiệm quốc tế về bảo đảm quyền  
tham gia của công dân trên nền tảng kỹ  
thuật số  
Điều 41 Hiến pháp Cộng hòa nhân dân  
Trung Hoa năm 1982 quy định: “Công dân  
nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có  
quyền phê bình và kiến nghị đối với bất kỳ cơ  
quan nhà nước hoặc nhân viên của cơ quan  
nhà nước; công dân có quyền khiếu nại, tố  
cáo hoặc tố giác đối với bất kỳ hành vi không  
làm tròn trách nhiệm, trái pháp luật của cơ  
quan nhà nước hoặc nhân viên cơ quan nhà  
nước, nhưng không được phép bịa đặt hoặc  
bẻ cong sự thật để vu cáo hãm hại”.  
Quyền tham gia là một quyền con người,  
đồng thời là một định hướng chính trị. Quyền  
tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia  
thảo luận và kiến nghị không nên chỉ được  
xem xét riêng biệt mà cần đặt trong mối liên  
hệ với các quyền liên quan mật thiết khác. Đó  
chính là các quyền được quy định tại Hiến  
pháp năm 2013: quyền tự do ngôn luận, tự do  
báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền tự do  
hội họp, quyền biểu tình, quyền bầu cử, ứng  
cử, quyền trưng cầu dân ý, quyền khiếu nại,  
tố cáo. Tương tự, Hiến pháp một số quốc gia  
cũng đề cập đến quyền tham gia quản lý nhà  
nước đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với các  
quyền bầu cử, ứng cử, kiến nghị.  
Trong những năm gần đây, ở nhiều  
nước trên thế giới, quyền tham gia của công  
dân trên nền tảng kỹ thuật số ngày càng được  
quan tâm với tư cách là một thành tố thiết  
yếu của Chính phủ điện tử trong một nền  
quản trị mở.  
Trong bối cảnh xây dựng Chính phủ  
mở, Chính phủ điện tử ở nhiều quốc gia trên  
thế giới, sự tham gia trên nền tảng kỹ thuật  
số (STGKTS) đòi hỏi cần áp dụng mạnh mẽ  
ứng dựng công nghệ thông tin (ICT). Mô hình  
Chính phủ mở đề xuất xây dựng khung lý  
thuyết, hệ bằng chứng và chương trình chính  
sách nhằm hướng chính phủ hợp tác với các  
nhân tố ngoài khu vực công để xử lý những  
- Đảm bảo quyền tham gia thông qua  
nền quản trị mở  
Trong nghiên cứu Open governance  
systems: Doing more with more,6 tác giả  
Jeremy Millard đã phân tích và đề xuất các  
hệ thống quản trị mở - trong đó chủ thể trung  
tâm là Nhà nước sẽ đóng vai trò chủ đạo  
3. Jeremy Millard, Open governance systems: Doing more with more, Government Information Quarterly  
5. Lee, G., & Kwak, Y. H. (2012). An open government maturity model for social media-based public engage-  
ment. Government Information Quarterly, 29 (Issue 4), 492-503 (October 2012), pp. 496-497.  
6. Jeremy Millard, Open governance systems: Doing more with more, Government Information Quarterly  
16  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
trong việc kết nối, phối hợp, hợp tác giữa khu  
vực công và các tác nhân khác ngoài khu vực  
công. Theo Millard, mặc dù khu vực công trên  
nguyên tắc có thể tự tạo lập ra giá trị công, giá  
trị công này sẽ còn lớn hơn rất nhiều nếu Nhà  
nước hợp tác với các chủ thể khác ngoài khu  
vực công. Nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo  
nhưng không còn độc quyền trong quá trình  
này7. Hợp tác nhiều hơn với các tác nhân  
khác ngoài khu vực công là chiến lược khôn  
ngoan của Nhà nước nhằm tạo ra nhiều giá trị  
hơn - như Millard mô tả “làm được nhiều hơn  
với nhiều hoạt động hơn”.  
Mặc dù xu thế hợp tác công - tư ngày  
càng được đề cao, Jeremy Millard cũng lưu  
ý Nhà nước vẫn là trọng tâm. Nhà nước vẫn  
phải đảm trách những hoạt động mà khu vực  
tư không thể làm được. Nhà nước vẫn phải  
đảm bảo chất lượng thể chế và khung luật lệ -  
làm “phần mềm” để “phần cứng” (các chủ  
thể, tác nhân nêu trên) có thể hoạt động tốt.  
Nhà nước vẫn phải chịu trách nhiệm về chất  
lượng dịch vụ công và hiệu quả hoạt động  
của mình. Là chủ thể duy nhất chịu trách  
nhiệm trước toàn xã hội, Nhà nước vẫn phải  
đảm bảo xây dựng các giá trị công bền vững  
và cân bằng - qua đó, lợi ích của các nhóm  
trong xã hội được bảo đảm “công bằng” và  
“cân đối” một cách ổn định, lâu dài8.  
trị được định nghĩa là quá trình mà qua  
đó, Nhà nước và các nhân tố phi nhà nước  
tương tác nhằm xây dựng và thực thi chính  
sách trong khuôn khổ một hệ thống những  
quy tắc chính thức và phi chính thức vốn  
định hình quyền lực và cũng được định  
hình bởi quyền lực10. Khái niệm này được  
quan niệm và áp dụng rất rộng khi quản trị  
xuất hiện ở nhiều cấp độ, từ tổ chức quốc  
tế tới thể chế quốc gia, chính quyền địa  
phương, cộng đồng và doanh nghiệp. Các  
nhân tố này tác động qua lại với những lợi  
ích đan xen, tạo nên một hệ thống tương tác  
phức tạp11.  
Vấn đề STGKTS cũng nằm trong xu  
hướng quản trị hiện đại nêu trên. Có thể  
hiểu STGKTS là sự giao thoa của bốn yếu  
tố: (1) STGKTS (E-participation) đòi hỏi  
một môi trường Chính phủ điện tử được xây  
dựng (E-government); (2) STGKTS đòi hỏi  
sự minh bạch; (3) STGKTS đòi hỏi sự hợp  
tác, phối hợp giữa khu vực công và khu vực  
tư (inclusion); (4) STGKTS đòi hỏi sự nâng  
tầm của chính sự tham gia theo cách hiểu  
truyền thống. Theo đó, STGKTS thể hiện  
qua việc các lĩnh vực truyền thống của nó  
(quá trình ra quyết định, quá trình tham vấn,  
và quản lý thông tin - dữ liệu) được nâng tầm  
về kỹ thuật trên nền tảng kỹ thuật số (Chính  
phủ điện tử) và nâng tầm về thể chế dựa vào  
sự minh bạch và hợp tác12.  
Gần đây, Báo cáo Phát triển Thế giới  
năm 2017 với chủ đề “Quản trị và pháp  
luật”9 cũng tiếp cận vấn đề quản trị theo  
hướng quản trị mở nêu trên. Theo đó, quản  
- Sự tham gia trên nền tảng kỹ thuật số  
cần thúc đẩy sự phối hợp, hỗ trợ và hợp tác  
7. Jeremy Millard, Open governance systems: Doing more with more, Government Information Quarterly  
8. Jeremy Millard, Open governance systems: Doing more with more, Government Information Quarterly  
(2015), p.10.  
9. World Bank, World Development Report 2017: Governance and the Law, 2017 (http://www.worldbank.org/  
en/publication/wdr2017).  
10. World Bank, World Development Report 2017: Governance and the Law, 2017, p. 3.  
11. World Bank, World Development Report 2017: Governance and the Law, 2017, p. 3.  
12. United Nations, United Nations E-Government Survey 2016: E-Government in Support of Sustainable  
Development, Sales No. E.16.II.H.2 (New York, 2016), available for download at https://publicadministration.  
17  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
giữa khu vực nhà nước và khu vực tư trong  
cung ứng dịch vụ công  
với các tổ chức thuộc khu vực tư; (iii) Công  
bằng, bình đẳng giữa các tổ chức thuộc khu  
vực tư trong cung ứng dịch vụ công; (iv)  
Công bằng, bình đẳng cho người tiếp cận  
dịch vụ công của một tổ chức.  
Thực tiễn ở một số quốc gia cho thấy,  
nhiều chính sách công thất bại vì các lý do:  
thiếu cam kết chính trị mạnh mẽ của giới  
chính khách, thiếu sự hợp tác, phối hợp,  
tương tác hiệu quả giữa các thiết chế nhà  
nước với nhau và giữa các thiết chế nhà nước  
với các thiết chế phi nhà nước. Vì vậy, Báo  
cáo Phát triển Thế giới năm 2017 dành hẳn  
một chương bàn về giải pháp thúc đẩy sự  
thương lượng và thích nghi trong giới tinh  
hoa của một quốc gia - qua đó, khuyến khích  
họ tham gia vào tiến trình cải cách một cách  
tích cực, thực chất và đáng tin cậy.  
- Sự tham gia trên nền tảng kỹ thuật  
số là đột phá trong việc nâng cao hiệu quả  
quản trị và trách nhiệm của Nhà nước  
Báo cáo Phát triển Thế giới năm 2017  
gợi ý một giải pháp nhằm đạt được pháp  
luật hiệu quả là tạo ra môi trường, diễn  
đàn, cơ hội để các nhóm xã hội (đặc biệt  
các nhân tố ít được đại diện nói lên tiếng  
nói) thực hiện phản biện, thảo luận những  
chính sách của chính quyền13. Mới gần đây,  
Báo cáo của Liên hợp quốc về Chính phủ  
điện tử đã phân tích khá lý thú về các hình  
thức STGKTS theo mức độ chính trị hóa và  
mức độ tham gia. Báo cáo đã mô tả về các  
hình thức tham gia trên nền tảng kỹ thuật số  
(E-participation) theo mức độ chính trị hóa  
và mức độ tham gia.14. Qua đó, có thể thấy  
ba lĩnh vực hoạt động của Nhà nước được  
xếp theo mức độ chính trị hóa từ thấp đến  
cao là: (1) Cung ứng dịch vụ công; (2) Xây  
dựng chính sách; (3) Thảo luận chính trị.  
Ngoài ra, có thể sắp xếp các mức độ tham  
gia từ thấp đến cao là: (1) Công khai thông  
tin; (2) Tham vấn, góp ý; (3) Hợp tác; (4)  
Trao quyền. Từ sự biến thiên của tính chính  
trị hóa và sự tham gia, chúng ta thấy một  
loạt các hình thức tham gia trên nền tảng kỹ  
thuật số thời nay.  
Những lợi ích của dịch vụ công mở giúp  
nâng cao minh bạch, trách nhiệm giải trình  
và hiệu quả phòng, chống tham nhũng. Trong  
bối cảnh quản trị mở, việc cung ứng dịch vụ  
công cũng mang tính “mở” - tức tăng cường  
sự tham gia của người dân và trách nhiệm  
giải trình của Nhà nước cũng như tổ chức  
cung ứng dịch vụ. Rõ ràng cách cải cách dịch  
vụ công mở sẽ trực tiếp đem lại lợi ích cho  
người dân và làm nâng cao chất lượng cuộc  
sống của họ.  
Sự tham gia của tư nhân vào tạo lập,  
xây dựng, cung ứng dịch vụ công ngày càng  
được chấp nhận nhiều hơn từ cả khu vực  
công và khu vực tư. Các tổ chức này vừa  
cạnh tranh vừa hợp tác. Tuy nhiên, các mối  
quan ngại về tính bình đẳng, minh bạch,  
trách nhiệm giải trình và phòng, chống  
tham nhũng tỷ lệ thuận với sự tham gia này.  
Nhằm đảm bảo công bằng và bình đẳng  
trong dịch vụ công, Nhà nước cần lưu ý  
giải quyết tốt các mối quan hệ sau: (i) Công  
bằng, bình đẳng giữa các tổ chức thuộc khu  
vực công với nhau; (ii) Công bằng, bình  
đẳng giữa các tổ chức thuộc khu vực công  
Cũng trên triết lý đó, Báo cáo Việt Nam  
2035 lập luận “các tổ chức phi chính phủ,  
bao gồm cả các tổ chức xã hội, nghề nghiệp  
và tôn giáo sẽ tham gia tích cực hơn trong  
đời sống cộng đồng, bao gồm cả việc tham  
gia giám sát kết quả hoạt động của Nhà nước  
và thực thi vai trò là đối tác của các cơ quan  
13. World Bank, World Development Report 2017: Governance and the Law, 2017, p. 97.  
14. United Nations, United Nations E-Government Survey 2016: E-Government in Support of Sustainable  
Development, Sales No. E.16.II.H.2 (New York, 2016), available for download at https://publicadministration.  
18  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
nhà nước khi triển khai các hoạt động hoặc  
chương trình vì lợi ích chung”15. Sự tham gia  
giám sát của các tổ chức xã hội và người dân  
đối với việc xây dựng và thực thi chính sách,  
pháp luật của Nhà nước là thiết yếu nhằm  
tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình  
của Nhà nước. Theo đó, mục tiêu là đến năm  
2035, “Nhà nước Việt Nam sẽ có một hệ  
thống vận hành hiệu quả cơ chế kiểm soát và  
cân bằng giữa các nhánh quyền lực nhà nước  
và tăng cường năng lực của người dân trong  
việc quy trách nhiệm đối với Nhà nước”16.  
Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 36-  
NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển  
công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát  
triển bền vững và hội nhập quốc tế (Nghị  
quyết số 36). Nghị quyết số 36 đưa ra chính  
sách “Ứng dụng, phát triển công nghệ thông  
tin trong tất cả các lĩnh vực, song có trọng  
tâm, trọng điểm. Ưu tiên ứng dụng công nghệ  
thông tin trong quản lý hành chính, cung cấp  
dịch vụ công, trước hết là trong lĩnh vực liên  
quan tới doanh nghiệp, người dân như giáo  
dục, y tế, giao thông, nông nghiệp”.  
3. Bảo đảm quyền tham gia trên nền tảng  
kỹ thuật số ở Việt Nam  
Năm 2018, Chính phủ tiếp tục đưa ra 5  
nhiệm vụ ưu tiên để xây dựng Chính phủ điện  
tử đến 2020: (1) Đẩy nhanh việc xây dựng,  
hoàn thiện thể chế tạo cơ sở pháp lý đầy đủ,  
toàn diện cho việc triển khai, xây dựng phát  
triển Chính phủ điện tử; (2) Hoàn thành các cơ  
sở dữ liệu quốc gia mang tính chất nền tảng;  
(3) Thiết lập các hệ thống ứng dụng phục vụ  
người dân, doanh nghiệp và phục vụ quản lý  
điều hành của Chính phủ; (4) Rà soát, sắp xếp  
lại và huy động mọi nguồn lực cả về tài chính  
và con người; (5) Phát huy vai trò người đứng  
đầu, nâng cao hiệu quả thực thi và trách nhiệm  
giải trình18.  
- Xây dựng chính sách về sự tham gia  
trên nền tảng kỹ thuật số  
Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày  
24/05/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược  
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật  
Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến  
năm 2020 (Nghị quyết số 48) đã bàn về một  
số nội dung liên quan đến quyền tham gia  
quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo  
luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về  
các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước  
của công dân. Năm 2016, tổng kết việc thực  
hiện Nghị quyết số 48, Bộ Chính trị tiếp tục  
khẳng định “mở rộng dân chủ trực tiếp, tạo  
điều kiện để nhân dân tham gia vào công  
việc của Nhà nước”17.  
Về cơ bản, pháp luật Việt Nam hiện nay  
(Hiến pháp và một số văn bản luật) đã ghi  
nhận và quy định khá đầy đủ các khía cạnh của  
quyền tham gia, giám sát của nhân dân, của  
công dân. Tuy nhiên, các quy định hiện hành  
vẫn còn một số hạn chế. Chính sách về sự tham  
gia trên nền tảng kỹ thuật số còn chưa rõ nét  
trong các văn kiện của Đảng cũng như văn bản  
Chính sách về sự tham gia trên nền  
tảng kỹ thuật số thường được lồng ghép vào  
các chính sách về chính phủ điện tử, chính  
quyền điện tử và chuyển đổi số. Năm 2014,  
15. Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo,  
công bằng và dân chủ, 2016, tr. 109.  
16. Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo,  
công bằng và dân chủ, 2016, tr. 118.  
17. Kết luận 01-KL/TW ngày 04 tháng 4 năm 2016 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết  
số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam  
đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.  
18. Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng, Chính phủ điện tử là xu hướng tất yếu, đẩy lùi nạn tham  
huong-tat-yeu-day-lui-nan-tham-nhung-469020.html).  
19  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
2020: Digital Government in the Decade of  
Action for Sustainable Development, New York,  
2020, publicadministration.un.org.  
pháp luật của Nhà nước. Việc thực hiện các  
quyền hiến định liên quan mật thiết đến phạm  
trù quyền tham gia (quyền tự do ngôn luận,  
tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền  
tự do hội họp, quyền biểu tình, quyền bầu cử,  
ứng cử, quyền trưng cầu dân ý, quyền khiếu  
nại, tố cáo) còn nhiều trở ngại, vướng mắc.  
2. United Nations, United Nations  
E-Government Survey 2016: E-Government in  
Support of Sustainable Development, Sales No.  
E.16.II.H.2 (New York, 2016), available for  
en/research/un-e-governmentsurveys.  
- Bảo đảm sự tham gia trên nền  
tảng kỹ thuật số khi xây dựng Chính phủ  
điện tử  
3. David Le Blanc, “E-participation: a  
quick overview of recent qualitative trends”,  
DESA Working Paper No. 163, ST/ESA/2020/  
DWP/163 (January 2020), p. 4, available at  
wp163_2020.pdf, citing Øystein Sæbø, Jeremy  
Rose and Leif Skiftenes Flak, “The shape of  
eparticipation: characterizing an emerging  
research area”, Government Information  
Quarterly, vol. 25, No. 3 (July 2008)  
Có thể thấy các hình thức STGKTS  
ngày càng đa dạng và phổ biến, từ bài  
học kinh nghiệm của nhiều quốc gia. Nếu  
thực hiện được đa phần các hình thức vừa  
nêu một cách hiệu quả, STGKTS sẽ là đột  
phá trong việc nâng cao hiệu quả quản trị  
và trách nhiệm của Nhà nước. Tuy nhiên,  
ở Việt Nam STGKTS chỉ mới phát triển  
manh nha ở việc công khai và vận hành  
một số thủ tục hành chính trên môi trường  
Internet (dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4),  
mặc dù xây dựng Chính phủ điện tử là chủ  
trương cả thập kỷ nay. Chủ trương xây dựng  
Chính phủ điện tử thực sự đòi hỏi sự tham  
gia trên nền tảng kỹ thuật số được thực hiện  
một cách đa dạng và thẩm thấu vào các hoạt  
động của Nhà nước.  
4. Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính  
trị khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện  
hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định  
hướng đến năm 2020  
5. Kết luận 01-KL/TW ngày 04 tháng 04  
năm 2016 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực  
hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị  
khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện  
hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định  
hướng đến năm 2020.  
Với chủ trương đẩy mạnh xây dựng  
Chính phủ điện tử ở Việt Nam, có thể kỳ  
vọng STGKTS sẽ thúc đẩy sự phối hợp, hỗ  
trợ và hợp tác giữa khu vực nhà nước và  
khu vực tư trong cung ứng dịch vụ công.  
Hiện nay, chúng ta có thể thấy hiệu quả của  
STGKTS rõ rệt nhất trong thực hiện dịch vụ  
công trực tuyến (thuộc nhóm cải cách dịch  
vụ hành chính công). Những cải cách mạnh  
mẽ tiếp theo sẽ mở rộng tới cách nhóm dịch  
vụ công khác (dịch vụ sự nghiệp công, dịch  
vụ công ích). Đây là một xu thế tất yếu trong  
6. Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến  
Dũng, Chính phủ điện tử là xu hướng tất yếu,  
đẩy lùi nạn tham nhũng (Bài trên Báo điện tử  
Vietnamnet:  
chinh-tri/chinh-phu-dien-tu-la-xu-huong-tat-  
yeu-day-lui-nan-tham-nhung469020.html).  
7. Jeremy Millard, Open governance  
systems: Doing more with more, Government  
org/10.1016/j.giq.2015.08.003.  
8. World Bank, World Development Report  
2017: Governance and the Law, 2017 (http://  
www.worldbank.org/en/publication/wdr2017).  
bối cảnh trong và sau đại dịch Covid-19  
Tài liệu tham khảo  
9. Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và  
Đầu tư, Báo cáo Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh  
vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ, 2016./.  
1. UN Department of Economic and Social  
Affairs, United Nations E-Government Survey  
20  
pdf 7 trang yennguyen 17680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo đảm quyền tham gia của công dân trên nền tảng kỹ thuật số", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_dam_quyen_tham_gia_cua_cong_dan_tren_nen_tang_ky_thuat_s.pdf