Một số ý kiến về biện pháp bảo lãnh theo quy định Bộ luật dân sự 2015

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ BIỆN PHÁP BẢO LÃNH THEO  
QUY ĐỊNH BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015  
Văn Trương Ngọc Trâm  
Khoa Luật, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh  
GVHD: ThS. Lê Thị Minh Thư  
TÓM TẮT  
Xã hội phát triền nhanh dẫn đến nhu cầu phát triển kinh tế tăng mạnh, số lượng các giao dịch dân  
sự (GDDS) đều tăng cao theo từng ngày, nhưng các giao dịch đó đều ẩn chứa những rủi ro nhất  
định. Để giảm thiểu sự thiệt hại cho các mối quan hệ dân sự trong xã hội hiện tại thì Nhà nước đã  
đưa ra các quy định thiết thực sao cho phù hợp với nhu cầu xã hội. Trong một số GDDS các chủ thể  
thường thỏa thuận sử dụng một hoặc một vài biện pháp bảo đảm (BPBĐ) được quy định tại Khoản 1  
Điều 292 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ giữa các bên chủ thể  
với nhau. Trong đó, bảo lãnh là một biện pháp được sử dụng khá nhiều cũng với một mục đích  
chính là bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ nhưng bảo lãnh lại có phần khác với các BPBĐ khác. Nhờ  
vào những quy định và tính linh hoạt của mình mà bảo lãnh có một vị trí đặc biệt trong các GDDS  
hiện nay. Trong bài viết này, tác giả phân tích một số bất cập của biện pháp bảo lãnh, từ đó đưa ra  
một vài kiến nghị hoàn thiện.  
Từ khóa: Bảo lãnh, bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh, biện pháp bảo đảm, giao dịch dân sự.  
1 ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trong BLDS 2015 thì các BPBĐ thường giống nhau ở việc bên thực hiện nghĩa vụ thường lấy các tài  
sản, quyền tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của mình để thực hiện các bảo đảm cho việc thực  
hiện nghĩa vụ của mình như cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, ký quỹ,… (theo Điều 309, 317, 330  
BLDS 2015). Khác các biện pháp khác, bảo lãnh xuất hiện trong trường hợp người thực hiện giao  
dịch dân sự không có khả năng tự bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của họ và phải thông qua  
người thứ ba để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình. Qua đó, biện pháp bảo lãnh được  
sử dụng rất nhiều trong kinh tế xã hội, mọi người có thể dễ dàng nhìn thấy các lợi ích của biện  
pháp này nhưng các bất cập cũng không phải là ít. Điều này làm ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp  
đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong GDDS.  
Theo Khoản 1 Điều 335 BLDS 2015 thì bảo lãnh được định nghĩa là: ‚Bảo lãnh là việc người thứ ba  
(sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực  
hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn  
thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ‛.  
Theo định nghĩa ở trên thì bảo lãnh được biết đến như một BPBĐ đối nhân nhưng BLDS 2015 còn có  
thêm điều khoản quy định việc ‚Các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài  
1471  
sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh‛ tại Khoản 3 Điều 336 BLDS 2015 nên bảo lãnh không  
còn đơn thuần là BPBĐ đối nhân như trước. Vì vậy, biện pháp này vô tình cũng trở nên phức tạp hơn  
và từ đó nhiều vấn đề chưa được hoàn thiện cũng bắt đầu xuất hiện. Hơn nữa, do có mặt của bên  
thứ ba trong giao dịch nên giao dịch được bảo đảm về phần nghĩa vụ hơn nhưng cũng có nhiều  
hơn tranh chấp có thể xảy ra trong thực tế. Nên bảo lãnh dù là một BPBĐ ‚có ích‛ của BLDS 2015  
nhưng trên thực tế nó vẫn chưa thực sự phát huy được công dụng của mình trong các GDDS.  
2 MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH VỀ BẢO LÃNH VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN  
Có thể thấy BLDS 2015 quy định về vấn đề bảo lãnh có ba ưu điểm chính: Khai thác được tài sản  
của người thứ 3; Các bên có thể dựa trên niềm tin để giao kết nhưng bên bảo lãnh cũng có thể sử  
dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình làm ‚vật‛ bảo đảm cho cam kết của mình; Nghĩa vụ  
được bảo đảm không nhất thiết là nghĩa vụ tài sản mà có thể là thực hiện một công việc, đối tượng  
để bảo đảm cho ‚cam kết‛ không nhất thiết phải là tài sản hay giá trị tự thân của bên bảo lãnh  
[7.Tr.215]. Nhưng những ưu điểm này chỉ mới được luật hóa, chưa thực sự được khai thác đúng với  
lợi ích của mình trong các nghĩa vụ dân sự ở thực tế. Các quy định về bảo lãnh của BLDS 2015 chưa  
được khai thác và hoàn thiện triệt để nhằm giúp biện pháp này thực sự có ích cho các chủ thể trong  
các GDDS. Vì vậy, nên ‚tầm soát‛ để phát hiện được những bất cập của bảo lãnh và có những biện  
pháp cải thiện, sửa đổi trong quy định về bảo lãnh để các chủ thể có thể tận dụng triệt để các ưu  
điểm này.  
Bất cập đầu tiên, đây là bất cập phổ biến và dễ thấy nhất đó chính là lừa đảo thông qua thực hiện  
bảo lãnh. Hiện nay, có rất nhiều cách thức lừa đảo được dàn dựng dưới hình thức được ‚nhờ‛ thực  
hiện biện pháp bảo lãnh nhất là bảo lãnh xuyên quốc gia. Khi đó bên được bảo lãnh sẽ cấu kết với  
bên bảo lãnh để chiếm đoạt một số tiền (thông thường bên bảo lãnh được yêu cầu bảo lãnh nghĩa  
vụ cho bên được bảo lãnh bằng một số tiền nhất định) của bên bảo lãnh. Biện pháp bảo lãnh cũng  
chưa được phổ biến đầy đủ đến với các chủ thể trong các GDDS khi mà nhiều người vẫn có thể lợi  
dụng sự thiếu hiểu biết của chủ thể về các quy định của pháp luật mà từ đó dụ dỗ chủ thể làm  
người bảo lãnh cho các hợp đồng ảo đó. Có thể nói là, lợi dụng sự ‚mịt mờ‛ của nhiều người về  
pháp luật mà các đối tượng, tổ chức đã biến tướng các quy định về bảo lãnh thành công cụ lừa đảo  
để trục lợi. Quy định về bảo lãnh trong BLDS 2015 đã hướng việc bảo lãnh trở thành quyền của  
người dân chứ không phải là nghĩa vụ của người dân, nghĩa là bảo lãnh được hình thành trên  
nguyên tắc hỗ trợ, bảo vệ cho các giao dịch dân sự mà các chủ thể thực hiện. Nhưng có một số chủ  
thể kém hiểu biết về luật pháp lại dễ dàng bị các đối tượng xấu dẫn dắt và cho rằng họ có nghĩa vụ  
phải thực hiện bảo lãnh một khi đã đồng ý. Mà đa số các chủ thể lại hay ‚giấu bệnh, sợ thầy‛ vì vậy  
nhiều người cam chịu chi một khoản tiền như cam kết để tránh dẫn đến các vấn đề kiện tụng thay  
vì trình báo với cơ quan có thẩm quyền để được tư vấn và giúp đỡ. Và những điều đó vô tình lại tạo  
cơ hội cho các đối tượng xấu thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhiều lần. Còn một dạng lừa đảo  
khác mà mọi người cũng có thể dễ dàng thấy được đó là trong quan hệ tín dụng, nhiều hộ nghèo,  
người nghèo hay cận nghèo lại được nhờ làm bên bảo lãnh cho một khoản vay tín dụng của các  
công ty hay doanh nghiệp. Có lẽ vô lý nhưng sự thật lại xảy ra rất nhiều vì trong trường hợp này  
người thực hiện bảo lãnh được hứa hẹn một khoản lãi hàng tháng còn cao hơn cả lãi suất tín dụng  
1472  
trong khi không cần bỏ ra tài sản hay khoản tiền bảo đảm nào. Những tưởng đó là một khoản ‚làm  
chơi mà ăn thật‛ nhưng bên bảo lãnh sau khi nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh thì mới thực sự thấy được  
hậu quả của giao dịch đó[7.Tr.200].  
Một ví dụ thực tế về lừa đảo bằng biện pháp ‚nhờ‛ thực hiện bảo lãnh: Qua Facebook chị Kim L., SN  
1988, trú tại huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội được một người đàn ông nước ngoài có tài khoản tên là  
‚Tooj Mooj Minhf‛ chủ động kết bạn. Qua giao lưu trên Facebook, người này giới thiệu tên là Jason  
Nicholas, hiện là bác sĩ giải phẫu thần kinh, đang làm việc tại Bệnh viện Badgda Teaching Hospital  
(Iraq) theo hợp đồng với Liên hợp quốc. Sau nhiều lần nhắn tin qua lại với nhau, chị L. tỏ ra tin tưởng  
vào vị bác sĩ này thì ông đề nghị chị L. giúp đỡ, xin cho ông ta được nghỉ phép một thời gian để có  
điều kiện sang Việt Nam. Vị bác sĩ còn hướng dẫn nội dung bức thư chị L. phải viết gửi cho một tổ  
chức của Liên hợp quốc theo email mà ông ta cung cấp để xin nghỉ phép cho ông này. Trong nội  
dung bức thư xin phép, chị L. có cam kết bảo lãnh bằng tiền để bác sĩ Jacson Nicholas được nghỉ  
phép. Ngay sau đó, từ email mà chị L. gửi tới, có thư phản hồi, yêu cầu chị L. cung cấp thông tin cá  
nhân để giải quyết đề nghị của chị. Sau đó một ngày, cũng từ email mà chị L. giao dịch, có một  
bức thư gửi tới chị thông báo vị bác sĩ đó đã không quay trở lại bệnh viện làm việc. Nội dung bức  
thư cho rằng, chị L. là người viết thư xin cho vị bác sĩ này được nghỉ, chị L. đã cam kết bảo lãnh thì  
phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Theo đó, ‚tổ chức‛ trên đã ‚bắt đền‛ chị L. Nhận  
được thông tin này, do chị L. vẫn còn tin tưởng và muốn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình nên  
đã đưa ra gần 14 nghìn USD (tương đương khoảng hơn 325 triệu đồng Việt Nam) để thực hiện  
nghĩa vụ. ‚Tổ chức‛ thuê bác sĩ Jacson Nicholas đã gửi số tài khoản để chị L. chuyển tiền vào. Tuy  
nhiên, nhận thấy số tài khoản mà ‚tổ chức Liên hợp quốc‛ gửi đến lại là một tài khoản cá nhân  
mang tên một người Việt Nam, tại ngân hàng Việt Nam nên chị L sinh nghi. Qua tham khảo và tìm  
hiểu chị L biết mình đã bị lừa nên quyết định không thực hiện theo yêu cầu của "tổ chức" nêu  
trên. Những ngày sau đó, chị L. liên tiếp nhận được những tin đe dọa. Do liên tục bị làm phiền, chị  
L. quyết định trình báo với cơ quan công an [4].  
Tác giả kiến nghị hoàn thiện để khắc phục tình trạng lừa đảo bằng biện pháp bảo lãnh như sau:  
Trước hết là thêm quy định ‚Bên bảo lãnh phải được xem xét về khả năng tài chính để thực hiện  
nghĩa vụ trước khi được ký hợp đồng bảo lãnh nếu không có chứng minh tài chính kèm theo thì hợp  
đồng vô hiệu‛. Như vậy, thì trường hợp bị lừa đảo cũng sẽ khó xảy ra hay khả năng thực hiện nghĩa  
vụ của bên bảo lãnh cũng được bảo đảm hơn. Nên có những buổi tuyên truyền hay những khu hỗ  
trợ, tư vấn ở các cơ quan có thẩm quyền để các chủ thể gặp tình trạng lừa đảo tương tự có thể dễ  
dàng tìm được sự giúp đỡ, tránh được tình trạng bị lừa đảo. Quan trọng nhất là phải giúp cho người  
dân có thể tự có kiến thức về vấn đề lừa đảo như trên bằng các chương trình, tờ rơi hay tuyên truyền  
tại khu phố. Vì ‚phòng bệnh hơn chữa bệnh‛, chỉ khi các chủ thể - người luôn có nguy cơ bị lừa đảo  
– tự có tinh thần cảnh giác thì họ mới có thể tránh được các ‚chiêu trò‛ lừa đảo từ các đối tượng, tổ  
chức xấu đó.  
Bất cập thứ hai, cũng là một vấn đề mà chủ thể dễ gặp và cũng là một trong những lý do khiến cho  
chủ thể trong GDDS ngần ngại khi tiếp xúc với các cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các hợp  
đồng có BPBĐ như bảo lãnh. Đó là, còn nhiều cán bộ trong các cơ quan có thẩm quyền vẫn còn có  
1473  
suy nghĩ là đăng ký ‚cho‛ người dân thay vì ‚phục vụ‛ người dân. Tác giả cũng tán thành với nhận  
định mới đề cập và cho rằng đây là một trong những sai lầm mà người chấp hành hay người thực  
hiện các quy định của luật pháp thường mắc phải, các cán bộ vẫn cho là mình ‚đang ban phát‛  
thay vì mình ‚phải hỗ trợ‛ người dân khi đó tình trạng gây khó khăn, thậm chí là nhũng nhiễu người  
dân trong quá trình hỗ trợ cung cấp các dịch vụ vẫn còn. ‚Một thực tế cần phải thừa nhận rằng, Hệ  
thống đăng ký giao dịch bảo đảm của nước ta vẫn đang vận hành trong quá trình chuyển đổi chế  
độ hành chính từ chế độ hành chính ‚cai quản‛ sang chế độ hành chính ‚phục vụ‛‛ [5]. Mà những  
điều được quy định trong luật lại chưa quá rõ ràng để cho mọi người thực sự hiểu được việc thực  
hiện các BPBĐ trong các giao dịch dân sự là ‚quyền‛ của chủ thể trong giao dịch dân sự đó chứ  
không phải là ‚nghĩa vụ‛ của họ. Các chủ thể bị lừa đảo bằng quan hệ bảo lãnh thì thật ra vẫn có  
một phần trách nhiệm của các cán bộ trong các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền vì họ đã không  
xem xét kỹ các trường hợp mà người bảo lãnh là người không đủ hiểu biết về pháp luật hay khả  
năng kinh tế không đủ để có thể thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Do đó, nhiều mặt của vấn đề cũng  
đều dẫn đến một kết quả thực tế là rất nhiều trường hợp bị lừa đảo từ những giao dịch có biện  
pháp bảo lãnh – được tạo ra nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể trong GDDS. Một khi  
những quy định của luật pháp vẫn còn bị hiểu nhầm và chưa thực sự cho mọi người sự nhận thức  
rõ ràng về định hướng của quy định đó, thì sự hỗ trợ của cơ quan có thẩm quyền đến chủ thể cần  
hỗ trợ vẫn là chưa hết sức và sự ngần ngại của các chủ thể khi có nhu cầu giúp đỡ từ các cơ quan  
có thẩm quyền là vẫn còn.  
Để cải thiện tình trạng nhiều các cán bộ trong các cơ quan có thẩm quyền vẫn còn chưa hiểu rõ về  
quy định của pháp luật về bảo lãnh. Nhà nước phải thực hiện phổ biến cho các cán bộ để họ hiểu  
được bảo lãnh và cả các BPBĐ khác đều là ‚quyền‛ của người dân và họ cần phải ‚hỗ trợ‛, ‚phục  
vụ‛ người dân. Nó có ý nghĩa trong việc xóa bỏ thói quen ‚ban phát‛, ‚ban ơn‛ và tạo lập, xây dựng  
‚văn hoá‛ phục vụ người dân trong Hệ thống cơ quan đăng ký [6.Tr.9-14]. Vai trò của cán bộ rất  
quan trọng khi họ là người có thể trực tiếp phát hiện các vấn đề về tài chính của các bên hay khả  
năng thực hiện nghĩa vụ của các bên từ đó họ là người có thể trực tiếp ngăn chặn các tình huống  
xấu trước khi nó có thể xảy ra. Họ cũng là người trực tiếp giải thích cho các chủ thể trong giao dịch  
để họ nắm rõ các quy định về bảo lãnh từ đó hạn chế được những vấn đề lừa đảo do kém hiểu  
biết. Cán bộ là đại diện của Nhà nước đến với nhân dân, thay mặt Nhà nước để hỗ trợ, giúp đỡ  
nhân dân vì vậy nên có những điều chỉnh trong công tác của các cán bộ liên quan để họ có đủ khả  
năng thực hiện các hoạt động hỗ trợ nhân dân nói chung hay chủ thể trong giao dịch dân sự nói  
riêng khi cần.  
Điểm bất cập thứ ba, mà cũng quan trọng không kém khiến cho quy định của pháp luật về bảo  
lãnh không thực sự đến được với các chủ thể là các điều khoản của luật vẫn còn chưa rõ ràng, dễ  
bị hiểu sai bởi các chủ thể. Điều khoản hay bị hiểu sai đầu tiên là quy định về bảo lãnh là vấn đề về  
việc bên bảo lãnh chỉ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi ‚bên được bảo lãnh không có khả năng thực  
hiện nghĩa vụ bảo lãnh‛ theo Khoản 2 Điều 335 BLDS 2015. Quy định này cho phép nghĩa vụ bảo  
lãnh chỉ xảy ra khi người được bảo lãnh không có khả năng tự thực hiện nghĩa vụ của mình. Nhưng  
quy định này cũng chỉ được áp dụng khi có thỏa thuận trước trong hợp đồng, giữa các bên chứ  
không mặc định khi ký kết biện pháp bảo lãnh. Khi không có thỏa thuận trước thì chỉ cần người  
1474  
được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ đúng, đủ khi đến thời hạn thì khi đó nghĩa vụ bảo lãnh đã  
có hiệu lực. Nhiều người do không hiểu rõ luật mà lại đồng ý thực hiện bảo lãnh cho người khác  
dẫn đến rất nhiều tranh chấp xảy ra trong thực tế. Rất nhiều trường hợp mà những chủ thể thực  
hiện một GDDS và sử dụng luật pháp như ‚một tấm khiên‛ bảo vệ cho quan hệ giao dịch đó nhưng  
họ lại không thực sự hiểu được vấn đề mà luật quy định. Nói rõ hơn, các vấn đề quy định trong luật  
một số là bắt buộc thực hiện, số khác lại là cho phép thực hiện. Nhiều chủ thể lại tự mặc định  
những điều quy định trong luật đều đương nhiên được áp dụng cho hợp đồng mà họ ký. Như vấn  
đề trên, luật quy định ‚có thể thỏa thuận về việc bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên  
được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo  
lãnh‛, ý muốn nói là điều này được pháp luật cho phép nhưng chỉ có hiệu lực khi được thỏa thuận  
trước đó.  
Qua đó, có thể thấy rằng nhiều chủ thể vẫn chưa thực sự hiểu luật. Vì vậy, nên có một số bổ sung  
hay sửa đổi trong các quy định của bảo lãnh để các chủ thể có thể dễ dàng ‚nắm bắt‛ được các  
quy định đó hơn [2]. Có thể sửa đổi điều cũ để quy định dễ hiểu hơn như ‚Có thể thỏa thuận về vấn  
đề thực hiện nghĩa vụ hoàn trả toàn bộ hay một phần dựa trên nghĩa vụ bảo lãnh đã thực hiện‛ để  
yêu cầu thực hiện nghĩa vụ hoàn trả của bên được bảo lãnh với bên bảo lãnh. Mặc dù, đã có quy  
định tại Điều 340 BLDS 2015 nhưng quy định đó lại chưa thực sự rõ ràng, minh bạch để bên bảo  
lãnh dựa vào đó yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ hoàn trả. Điểm hay bị hiểu sai thứ  
hai và cũng rất dễ dàng để nhận thấy đó là Khoản 4 Điều 336 BLDS 2015 về vấn đề thực hiện bảo  
lãnh sau khi người bảo lãnh đã chết, cụ thể là: ‚Trường hợp nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ  
phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người  
bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại‛. Tại đây có nhắc tới vấn đề là ‚nghĩa vụ  
phát sinh sau khi người bảo lãnh chết‛ nhưng lại không làm rõ là nghĩa vụ ‚sau khi‛ đó được xác  
định như thế nào. Điều này đã dẫn đến một vấn đề là có nhiều hướng giải thích khác nhau cho vấn  
đề trên, phổ biến nhất là hai cách giải thích sau: Nghĩa vụ trong tương lai đã được xác định nhưng  
là nghĩa vụ được thực hiện sau khi người bảo lãnh chết nên không cần thực hiện nghĩa vụ đó;  
Nghĩa vụ trong tương lai sau khi người bảo lãnh chết mới được hình thành trong nghĩa vụ bảo lãnh  
nên không cần thực hiện nghĩa vụ đó [7.Tr.198-199]. Nên một số quy định chung chung mặc dù  
giúp mở rộng phạm vi thực hiện cho các chủ thể nhưng nó cũng có thể tạo nên sự mịt mờ cho  
những chủ thể đó khi tiến hành biện pháp bảo lãnh.  
Kiến nghị giúp hoàn thiện cho bất cập này là xác định rõ phần định nghĩa: ‚Trường hợp nghĩa vụ  
được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ  
phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại‛ tại Khoản 4 Điều  
336 BLDS 2015. Theo quan điểm của tác giả, có thể sửa thành ‚Từ thời điểm người bảo lãnh chết thì  
tất cả nghĩa vụ phát sinh trong tương lai mà có thời điểm phát sinh sau thời điểm người bảo lãnh  
chết thì nghĩa vụ bảo lãnh đó chấm dứt tồn tại, nghĩa vụ bảo lãnh chỉ còn hiệu lực đối với những  
nghĩa vụ phát sinh trước thời điểm người bảo lãnh chết - kể cả những nghĩa vụ đang thực hiện hay  
chưa thực hiện‛. Khi các quy định có tính chỉ hướng cao hơn thì các tranh chấp xảy ra trên thực tế  
cũng có thể giảm đi rất nhiều. Còn một số quy định về bảo lãnh khá chung chung để có thể bao  
hàm được nhiều nội dung nhưng nó vô tình lại là điểm yếu khi phạm vi quá rộng dẫn đến các chủ  
1475  
thể dễ hiểu lầm về cách thức, nội dung của quan hệ bảo lãnh. Thế nên cần giới hạn lại phạm vi  
bảo lãnh nhằm cụ thể hóa các giao dịch, tránh trường hợp xảy ra các vụ việc về tranh chấp, đồng  
thời nếu có tranh chấp thì việc xử lý cũng đơn giản hơn, rõ ràng hơn. Để giúp quy định cụ thể hơn  
thì có thể bắt đầu từ việc giới hạn phạm vi bảo lãnh ‚Các bên khi thiết lập quan hệ bảo lãnh thì phải  
có phạm vi bảo lãnh cụ thể là toàn phần hay một phần; chỉ được sử dụng một phạm vi để áp  
dụng, trong trường hợp bảo lãnh một phần phải cụ thể, có thể là bảo lãnh một phần trong một  
khoản nghĩa vụ cố định hoặc bảo lãnh một phần trong giới hạn tài sản đặt ra để bảo lãnh‛[3].  
3 KẾT LUẬN  
Bảo lãnh là một biện pháp quan trọng trong việc bảo đảm quyền và lợi ích của các bên trong giao  
dịch dân sự nhưng vẫn còn nhiều bất cập làm cho biện pháp này chưa thực sự phát huy được hết  
những ưu điểm của nó. Các yếu điểm trong quy định của bảo lãnh có thể tạo thành những lợi thế  
cho các cá nhân, tổ chức thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật mà có thể thấy người bị hại  
lớn nhất lại là những chủ thể trực tiếp tham gia các giao dịch đó. Nên những giải pháp cải thiện,  
sửa đổi phù hợp là biện pháp tối ưu nhất để làm giảm những vấn đề như lừa đảo, hiểu sai quy  
định của pháp luật. Một khi những vấn đề trên được cải thiện thì tin chắc rằng sự hỗ trợ của biện  
pháp bảo lãnh nói riêng hay cả những BPBĐ khác nói chung sẽ thực sự là một công cụ tốt để các  
chủ thể trong GDDS chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
Bộ luật Dân sự 2015.  
[2]  
Hồ Quang Huy, 28/04/2016, Hoàn thiện các quy định về bảo lãnh trong Bộ luật Dân sự Việt  
[3]  
[4]  
[5]  
[6]  
Hồ Quang Huy, 23/05/2017, Hoàn thiện chế định bảo lãnh trên cơ sở các quy định của Bộ  
luật Dân sự năm 2015, xem tại link: https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-  
Minh Khoa, 18/02/2019, Chiêu lừa mới, nhờ "bảo lãnh" xin nghỉ phép, xem tại link:  
Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thị Thu Hương (2012), ‚Bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền  
công dân trong pháp luật hành chính Việt Nam (Một số vấn đề có tính phương pháp luận,  
định hướng nghiên cứu)‛, Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà Nội, Tạp chí Luật học 28.  
ThS. Nguyễn Quang Hương Trà, Số 3 (276) năm 2015, Tiếp cận đăng ký giao dịch bảo đảm  
dưới giác độ quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư  
pháp.  
[7]  
Tưởng Duy Lượng (2020), Pháp luật dân sự - kinh tế và thực tiễn xét xử (Tập 1), Nhà xuất bản  
Tư pháp.  
1476  
pdf 6 trang yennguyen 17680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số ý kiến về biện pháp bảo lãnh theo quy định Bộ luật dân sự 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_y_kien_ve_bien_phap_bao_lanh_theo_quy_dinh_bo_luat_da.pdf