Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động lập pháp của Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
giẢi pháp nâng cao hiỆu quẢ hoạT động lập pháp  
của hội đỒng dân Tộc, các ủy ban của quốc hội1  
Đinh Thanh Hương  
ThS.-Viện-Nghiên-cứu-lập-pháp  
Tóm tắt:  
Thông tin bài viết:  
Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội là thiết chế hiến định quan  
trọng trong cơ cấu tổ chức của Quốc hội. Để nâng cao hiệu quả hoạt  
động lập pháp của Quốc hội, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp,  
trong đó có nhóm giải pháp tiếp tục đổi mới về cơ cấu tổ chức và tăng  
cường chất lượng, hiệu quả hoạt động thẩm tra của Hội đồng dân tộc,  
các Ủy ban của Quốc hội.  
Từ khóa: Hội đồng dân tộc, Ủy ban  
của Quốc hội, lập pháp, thẩm tra.  
Lịch sử bài viết:  
Ngày nhận bài : 25/10/2020  
Biên tập  
: 05/11/2020  
: 08/11/2020  
Duyệt bài  
Abstract:  
Article Infomation:  
The Ethnic Council and the Committees of the National Assembly are  
important constitutional institutions in the organizational structure of  
the National Assembly. In order to improve the effectiveness of the  
legislative activities of the National Assembly, it is necessary to  
synchronously carry out a series of solutions, including a group of  
solutions to continue innovating the organizational structure and  
enhancing the quality and efficiency of verification activities by Ethnic  
Council, Committees of National Assembly.  
Keywords: Ethnic Council and  
Committees of the National  
Assembly, legislation, verification.  
Article History:  
Received  
Edited  
Approved  
: 25 Oct. 2020  
: 05 Nov. 2020  
: 08 Nov. 2020  
1. Thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội  
đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội  
- Về cơ cấu tổ chức của Hội đồng Dân  
tộc, các Ủy ban của Quốc hội  
Từ khi được thành lập đến nay, số lượng  
các Ủy ban của Quốc hội đã được tăng  
cường hơn, với nhiều lần chia, tách, thành  
lập mới một số Ủy ban, như tách Ủy ban  
Pháp luật thành Ủy ban Pháp luật và Ủy ban  
Tư pháp; tách Ủy ban Kinh tế và Ngân sách  
thành Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Tài chính,  
ngân sách… Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn có  
Ủy ban có phạm vi lĩnh vực hoạt động quá  
rộng, nên có khó khăn nhất định trong việc  
bao quát toàn bộ, cũng như chuyên sâu vào  
một số lĩnh vực, vấn đề liên quan trong hoạt  
động lập pháp và giám sát.  
Ví dụ như Ủy ban Khoa học, Công nghệ  
và Môi trường của Quốc hội, bên cạnh phụ  
trách lĩnh vực về “khoa học”, “công nghệ”  
thì còn phụ trách cả về “môi trường”. Như  
chúng ta đã biết, Quốc hội với ba chức năng  
là lập pháp, giám sát và quyết định những  
vấn đề quan trọng của đất nước thì mỗi Ủy  
ban chuyên môn đều thực hiện cả ba chức  
năng này theo lĩnh vực mà mình phụ trách.  
1
Bài viết thuộc công trình nghiên cứu của Đề tài cấp Bộ, mã số ĐTCB.2018-03: “Quyền lập pháp trong cơ  
chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước theo quy định của Hiến pháp năm 2013” do  
Viện Nghiên cứu lập pháp chủ trì.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
11  
Số 22 (422) - T11/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Chính vì vậy, Ủy ban Khoa học, Công nghệ  
và Môi trường của Quốc hội hiện phụ trách  
cả 3 lĩnh vực là khoa học, công nghệ và môi  
trường là quá rộng. Trong khi bên Chính phủ  
có hai bộ độc lập quản lý nhà nước về các  
lĩnh vực này là Bộ Khoa học và Công nghệ  
và Bộ Tài nguyên và Môi trường thì ở Quốc  
hội hiện nay chỉ có một Ủy ban chuyên môn  
phụ trách là Ủy ban Khoa học, Công nghệ  
và Môi trường. Mặt khác, lĩnh vực “tài  
nguyên” hiện nay vẫn chưa có sự theo dõi  
chuyên sâu do chưa có Ủy ban chuyên môn  
nào của Quốc hội theo dõi. Như vậy, Ủy ban  
Khoa học, Công nghệ và Môi trường có  
phạm vi hoạt động quá rộng nên khó có thể  
chuyên sâu vào từng lĩnh vực, nhất là trong  
hoạt động lập pháp và giám sát của Quốc  
hội. Trong khi đó, tình trạng vi phạm pháp  
luật về tài nguyên và môi trường trong  
những năm gần đây diễn biến rất phức tạp,  
trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng môi  
trường sống của người dân, làm suy giảm  
nghiêm trọng nguồn tài nguyên đất nước2.  
Điều này đòi hỏi Quốc hội phải có cơ quan  
chuyên sâu phụ trách lĩnh vực tài nguyên và  
môi trường để tăng cường hơn nữa sự giám  
sát, kiểm soát quyền lực nhà nước trong tổ  
chức thực hiện pháp luật về tài nguyên và  
môi trường.  
này, giúp cho công tác hoạch định, phản biện  
chính sách được xem xét, phân tích, đánh giá  
một cách toàn diện trên mọi lĩnh vực hoạt  
động khác nhau. Đồng thời, cơ cấu này cũng  
góp phần gắn hoạt động của Hội đồng dân  
tộc, các Ủy ban của Quốc hội với thực tiễn  
sinh động trên mọi lĩnh vực của đời sống  
kinh tế - xã hội, làm cho hoạt động của Hội  
đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội phù  
hợp, sát với yêu cầu mà thực tế cuộc sống  
đang đặt ra.  
Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay,  
thành viên của Hội đồng Dân tộc, các Ủy  
ban của Quốc hội đa số đều là ĐBQH hoạt  
động không chuyên trách, các ĐBQH này  
đang có những công việc chính, thường  
xuyên tại nơi công tác, và chỉ dành khoảng  
1/3 thời gian cho hoạt động của Quốc hội4.  
Đây là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng,  
hiệu quả hoạt động của Hội đồng Dân tộc,  
các Ủy ban của Quốc hội. Đặc thù của Quốc  
hội Việt Nam là hoạt động không thường  
xuyên, hoạt động theo kỳ họp, mỗi năm hai  
kỳ, mỗi kỳ khoảng một tháng. Chính vì vậy,  
tổng thời gian tham gia của các ĐBQH hoạt  
động không chuyên trách tại Hội đồng Dân  
tộc, các Ủy ban của Quốc hội là rất hạn chế.  
Điều này cũng dẫn tới công việc sẽ dồn vào  
Thường trực Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban  
của Quốc hội, và do đó, trong nhiều trường  
hợp không thể thực hiện được hết các nhiệm  
vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật.  
Các nhiệm kỳ Quốc hội gần đây cho thấy,  
thành viên của Hội đồng Dân tộc, các Ủy  
ban của Quốc hội là ĐBQH hoạt động  
chuyên trách chiếm tỷ lệ thấp là một rào cản  
không nhỏ trong việc bảo đảm chất lượng,  
- Về cơ cấu, thành phần, số lượng của  
đại biểu Quốc hội là thành viên của Hội  
đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội  
Cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội  
(ĐBQH) mang tính đại diện rộng rãi cho các  
tầng lớp nhân dân3. Do đó, cơ cấu thành  
phần của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của  
Quốc hội cũng phản ánh tính chất đa dạng  
2
3
thuc-pham-612958/.  
Kết quả bầu cử ĐBQH khóa XIV đã thể hiện cơ cấu, thành phần đại biểu: Theo Báo cáo tóm tắt tổng kết  
cuộc bầu cử ĐBQH khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 của Hội đồng  
Bầu cử quốc gia gửi ĐBQH ngày 19/7/2016 đã nêu rõ cơ cấu, thành phần ĐBQH khóa XIV (nguồn: “Quốc  
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kế thừa, đổi mới và phát triển” của Viện Nghiên cứu lập  
pháp, UBTVQH, Nxb. Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, 2016, tr.19).  
4
Theo khoản 2 Điều 24 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, “Đại biểu Quốc hội hoạt động không chuyên  
trách phải dành ít nhất một phần ba thời gian làm việc trong năm để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của  
đại biểu Quốc hội”.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
12  
Số 22 (422) - T11/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
hiệu quả hoạt động của Hội đồng Dân tộc,  
các Ủy ban của Quốc hội5.  
nhiệm, các Phó Chủ nhiệm, các Ủy viên  
thường trực. Khoản 1 Điều 10 Luật sửa đổi,  
bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc  
hội năm 2020 quy định ngoài những thành  
phần đại biểu như quy định tại Luật Tổ chức  
Quốc hội năm 2014 thì Thường trực Ủy ban  
có thêm Ủy viên chuyên trách. Tuy nhiên,  
qua thực tế triển khai thực hiện cho thấy, các  
quy định về cơ cấu tổ chức của Hội đồng  
Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội còn rất  
chung chung, chỉ dừng lại ở những quy định  
mang tính nguyên tắc nên trong quá trình tổ  
chức thực hiện cũng gặp không ít những khó  
khăn, vướng mắc nhất định. Chẳng hạn như  
số lượng thành viên của Hội đồng Dân tộc,  
các Ủy ban của Quốc hội bao nhiêu là hợp  
lý và phù hợp? Có tiêu chí phân bổ số lượng  
thành viên vào Hội đồng Dân tộc và các Ủy  
ban hay không? Trên thực tế, có Ủy ban thì  
có quá ít thành viên tham gia, trong khi đó  
có Ủy ban thì lại quá đông, dẫn đến tình  
trạng nơi thì thiếu, nơi thì lại thừa nguồn  
nhân lực bảo đảm hiệu quả hoạt động; có Ủy  
ban thì tổ chức các tiểu ban trong cơ cấu của  
mình, có Ủy ban thì lại không tổ chức; tỷ lệ  
số thành viên Ủy ban hoạt động theo chế độ  
chuyên trách và không chuyên trách ở mỗi  
Ủy ban cũng rất khác nhau, chưa có các tiêu  
chí đánh giá cụ thể, khoa học.  
Mặt khác, trong các khóa Quốc hội gần  
đây thì có khoảng 30% tổng số ĐBQH hoạt  
động chuyên trách và khoảng 70% tổng số  
ĐBQH là đại biểu hoạt động không chuyên  
trách6, trong đó, nhiều ĐBQH làm việc trong  
các cơ quan hành pháp và tư pháp7. Công  
việc mà ĐBQH (hoạt động không chuyên  
trách) đang công tác vẫn được xem là công  
việc chính, thường xuyên, có quan hệ gắn  
bó, mật thiết hơn, nếu so với công việc  
“kiêm nhiệm” là ĐBQH. Vì vậy, rất khó để  
các ĐBQH này công khai phản biện lại  
những quan điểm, chính sách một cách  
khách quan, độc lập, hoặc phát biểu ý kiến  
khác với quan điểm, chỉ đạo của thủ trưởng,  
bộ, ngành mà họ đang công tác. Tình trạng  
này thể hiện rất rõ trong hoạt động của họ tại  
Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của  
Quốc hội, các Đoàn ĐBQH. Đặc biệt, nếu  
có những xung đột lợi ích trong việc hoạch  
định chính sách thì những đại biểu dân cử  
này rất khó bảo đảm sự khách quan trong  
việc thể hiện quan điểm, chính kiến8.  
Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 67  
Luật Tổ chức Quốc hội thì cơ cấu tổ chức  
của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc  
hội gồm: Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Hội  
đồng Dân tộc, Chủ nhiệm, các Phó Chủ  
nhiệm các Ủy ban, các Ủy viên thường trực,  
Ủy viên chuyên trách và các Ủy viên khác  
hoạt động kiêm nhiệm theo chế độ không  
chuyên trách; Thường trực Ủy ban gồm Chủ  
- Về hoạt động thẩm tra dự án luật,  
pháp lệnh  
Hoạt động thẩm tra của Hội đồng Dân  
tộc, các Ủy ban của Quốc hội được hiểu là  
việc các cơ quan này tiến hành xem xét, thảo  
5
6
Theo Báo cáo các ý kiến đánh giá được tổng hợp trong các nghiên cứu chuyên đề và hội thảo khoa học  
trong khuôn khổ của Đề tài cấp bộ ĐTCB.2018-03.  
Quốc hội khóa XI có 121 đại biểu chuyên trách (chiếm gần 25% tổng số ĐBQH); Quốc hội hóa XII có  
145 đại biểu chuyên trách (chiếm 29,41%), Quốc hội khóa XIII có 154 đại biểu chuyên trách (chiếm 30,8%)  
khác (nguồn: “Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kế thừa, đổi mới và phát triển” của  
Viện Nghiên cứu lập pháp, UBTVQH, Nxb. Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 24).  
Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng  
khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt  
động hiệu lực, hiệu quả” đã đưa ra những giải pháp cụ thể đối với hệ thống tổ chức của Nhà nước ở Trung  
ương, theo đó nghiên cứu việc giảm hợp lý số lượng ĐBQH kiêm nhiệm ở các cơ quan hành pháp.  
Xem Bài viết “Chức năng đại diện của Quốc hội trong Hiến pháp Việt Nam” của TS. Lương Minh Tuân,  
trong cuốn kỷ yếu “Chức năng đại diện của Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền” thì trong trường hợp  
xung đột lợi ích, các ĐBQH khó lòng phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân cả nước.  
7
8
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
13  
Số 22 (422) - T11/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
luận, đánh giá một cách toàn diện các nội  
dung liên quan đến dự án luật, pháp lệnh  
được trình Quốc hội, UBTVQH xem xét,  
cho ý kiến, quyết định thông qua; và trình  
bày báo cáo kết quả thẩm tra trước Quốc hội,  
UBTVQH. Quá trình thẩm tra là quá trình  
xem xét, phân tích, phản biện, kiến nghị về  
chính sách, pháp luật có liên quan đến nội  
dung của các dự án, các quy phạm; bảo đảm  
nội dung của các dự án đạt được mục tiêu đặt  
ra, phù hợp với những quy luật khách quan,  
những đòi hỏi, yêu cầu bức xúc của cuộc  
sống cần được điều chỉnh; phù hợp với  
những quy định của Hiến pháp và sự thống  
nhất trong hệ thống pháp luật. Đó là quá trình  
hoạt động sáng tạo đòi hỏi phải đầu tư rất  
nhiều công sức, nguồn lực, trí tuệ, thời gian,  
sự tâm huyết của các thành viên Hội đồng  
Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội. Hơn nữa,  
phải bảo đảm sự vô tư, trong sáng, khách  
quan, bản lĩnh trong quá trình thẩm tra.  
Với vai trò quan trọng như vậy nhưng  
thực tế hoạt động thẩm tra của Hội đồng Dân  
tộc, các Ủy ban của Quốc hội vẫn còn những  
tồn tại, hạn chế, ảnh hưởng đến hoạt động  
thẩm tra và chất lượng dự án, dự thảo trình  
Quốc hội, UBTVQH. Chẳng hạn, vẫn còn  
tình trạng không bảo đảm thời hạn gửi hồ sơ  
dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết để  
thẩm tra9. Thực tế cho thấy, để kịp gửi hồ sơ  
gửi cho ĐBQH trước kỳ họp Quốc hội,  
nhiều trường hợp hồ sơ tuy được gửi muộn,  
không đúng thời hạn nhưng cơ quan thẩm tra  
vẫn tiến hành thẩm tra, điều này cũng ảnh  
hưởng đến thời gian nghiên cứu, tiếp cận hồ  
sơ và chất lượng thẩm tra của cơ quan thẩm  
tra dự án, dự thảo đó10.  
trình, thẩm tra, cho ý kiến và xem xét thông  
qua vẫn còn gặp một số khó khăn, hạn chế  
trong xác định căn cứ thực tiễn, cơ sở khoa  
học, đánh giá tác động, dự liệu các nguồn lực  
cần thiết để có điều kiện và khả năng thực  
hiện. Qua các nhiệm kỳ của Quốc hội gần  
đây cho thấy, không ít dự án đã được đưa  
vào Chương trình nhưng lại phải xin rút vì  
chưa được chuẩn bị kỹ hoặc ý kiến, quan  
điểm trong dự án luật còn quá khác nhau,  
đồng thời lại có những dự án phải bổ sung  
cấp bách khi Chương trình đã được thông  
qua. Các Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp  
luật về Chương trình xây dựng luật, pháp  
lệnh hàng năm đều phân tích rất chi tiết, cụ  
thể những dự án luật, pháp lệnh đề nghị đưa  
ra khỏi Chương trình và những dự án luật,  
pháp lệnh đề nghị đưa vào Chương trình để  
triển khai thực hiện ngay. Số lượng các dự  
án, dự thảo đề nghị đưa ra hoặc đưa vào khá  
lớn. Sở dĩ có tình trạng này là do: một mặt,  
các cơ quan quản lý nhà nước đều có nhu  
cầu cấp bách ban hành văn bản luật, pháp  
lệnh trong lĩnh vực mà bộ, ngành mình quản  
lý; mặt khác, việc thẩm tra còn tình trạng  
thiếu những căn cứ thực tiễn, báo cáo đánh  
giá tác động chi tiết, khoa học, cơ sở lý luận  
để xác định tính cần thiết, thứ tự ưu tiên của  
việc đưa một dự án vào Chương trình, cũng  
như quá trình chuẩn bị, khả năng nghiên cứu  
soạn thảo dự án đó. Trên thực tế, nhiều dự  
án được đưa vào Chương trình mới chỉ dừng  
lại ở tên gọi và một số những nguyên tắc cơ  
bản, chưa xác định rõ phạm vi, đối tượng  
điều chỉnh cũng như những nội dung cơ bản  
của dự án. Một trong những nguyên nhân là  
việc thẩm tra dự kiến Chương trình còn thiếu  
những hoạt động khảo sát thực tiễn, chưa  
làm việc cụ thể với các cơ quan, tổ chức có  
liên quan về việc đề nghị đưa các dự án vào  
dự kiến Chương trình; không nắm chắc được  
Về thẩm tra Chương trình xây dựng luật,  
pháp lệnh hằng năm của Quốc hội, thực tế  
cho thấy, việc xây dựng dự kiến chương  
9
Theo quy định tại khoản 2 Điều 64 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 thì thời hạn gửi hồ sơ là chậm nhất  
20 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp của UBTVQH và chậm nhất là 30 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp  
Quốc hội.  
du-an-luat-cham-tien-do-112406.html; Lê Sơn, Hội nghị chuyên đề công tác xây dựng pháp luật năm 2018,  
chinhphu.vn.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
14  
Số 22 (422) - T11/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
tiến độ, khả năng và chất lượng soạn thảo,  
cũng như việc đánh giá tác động của văn  
bản, dẫn đến tình trạng một số hồ sơ đề nghị  
xây dựng dự án luật, pháp lệnh còn kém chất  
lượng như nêu trên.  
tộc, các Ủy ban của Quốc hội thường do một  
thành viên của các cơ quan này dự cuộc họp  
của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc  
hội chủ trì thẩm tra và thường là phát biểu  
với ý kiến cá nhân của thành viên đó. Rất ít  
trường hợp, ý kiến phát biểu đó là ý kiến của  
tập thể Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của  
Quốc hội hoặc của Thường trực Hội đồng  
Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội.  
- Về hoạt động tham gia thẩm tra  
Hoạt động tham gia thẩm tra cũng có ý  
nghĩa hết sức quan trọng để bảo đảm chất  
lượng phân tích, phản biện chính sách. Vì  
trên thực tế, phạm vi, lĩnh vực hoạt động của  
Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội  
thường có sự giao thoa, đan chéo lẫn nhau  
nên trong nhiều trường hợp, Hội đồng Dân  
tộc hoặc một Ủy ban của Quốc hội không thể  
nắm bắt toàn diện, sâu sắc các nội dung,  
cũng như những thông tin liên quan đến các  
vấn đề của dự án khi có sự đan xen với phạm  
vi hoạt động của Ủy ban khác. Hơn nữa, sự  
tham gia thẩm tra của Ủy ban Pháp luật còn  
bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính  
thống nhất của hệ thống pháp luật; sự tham  
gia của Ủy ban về các vấn đề xã hội còn bảo  
đảm các nội dung về bình đẳng giới; sự tham  
gia Ủy ban Tư pháp cũng góp phần phản  
biện các nội dung liên quan đến phòng,  
chống tham nhũng, việc phát hiện và xử lý  
hành vi tham nhũng; sự tham gia Ủy ban Tài  
chính, ngân sách còn liên quan đến các vấn  
đề về ngân sách và chi tiêu ngân sách...  
Trong những nhiệm kỳ vừa qua, hoạt  
động tham gia thẩm tra của Hội đồng Dân  
tộc, các Ủy ban của Quốc hội đã có nhiều cố  
gắng trong việc tổ chức thực hiện và đạt  
được những kết quả nhất định, góp phần  
cung cấp thêm thông tin có độ tin cậy cao,  
hỗ trợ việc hoạch định, phân tích, phản biện  
chính sách, pháp luật. Tuy nhiên, công tác  
tham gia thẩm tra vẫn còn tồn tại, hạn chế  
như: Việc tham gia thẩm tra chưa bảo đảm  
đúng nguyên tắc làm việc tập thể, quyết định  
theo đa số; Việc tham gia của Hội đồng Dân  
Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này  
là do nguồn nhân lực của Hội đồng Dân tộc,  
các Ủy ban của Quốc hội thường rất thiếu,  
2/3 tổng số thành viên là ĐBQH hoạt động  
theo chế độ không chuyên trách; chính Hội  
đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội  
cũng đang chủ trì thẩm tra một hoặc nhiều  
dự án, dự thảo nên không còn nhiều thời  
gian để tham gia hoạt động thẩm tra của Ủy  
ban khác; bộ máy tham mưu, giúp việc về  
mặt chuyên môn rất mỏng, cả Hội đồng Dân  
tộc, các Ủy ban của Quốc hội chỉ có một Vụ  
giúp việc khoảng từ 20 đến 30 người, với  
chất lượng không đồng đều. Thêm vào đó,  
các tài liệu phục vụ cho các cuộc họp thẩm  
tra, tham gia thẩm tra thường gửi đến rất  
muộn, không đúng thời gian theo luật định  
nên không đủ thời gian để nghiên cứu một  
cách sâu sắc, toàn diện và tổ chức họp để  
tham gia thẩm tra… Ngoài ra, các quy định  
pháp luật về cơ chế, trách nhiệm phối hợp  
thẩm tra giữa Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban  
của Quốc hội chỉ mới dừng ở mức quy định  
chung, không rõ ràng, cụ thể. Thực tế, không  
ít các báo cáo thẩm tra thường chỉ tập trung  
làm rõ được những nội dung chính về hoạt  
động chuyên môn của các cơ quan nhà nước  
hữu quan mà chưa thực sự xem xét một cách  
tổng thể các phương diện (về tổ chức bộ  
máy, biên chế, ngân sách, việc thực hiện hoạt  
động chuyên môn như chính sách dân tộc,  
bình đẳng giới, phòng chống tham nhũng...)  
của cơ quan đó11.  
11 Chẳng hạn, trong báo cáo của Ủy ban Tư pháp về công tác phòng, chống tham nhũng thì hầu như các Ủy  
ban khác không tham gia đánh giá về lĩnh vực phòng, chống tham nhũng do Ủy ban mình phụ trách. Điều  
này tất yếu dẫn đến những thông tin trong các báo cáo thẩm tra về vấn đề này khó phản ánh được đầy đủ,  
toàn diện được “bức tranh chung” về phòng, chống tham nhũng được thẩm tra, xem xét.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
15  
Số 22 (422) - T11/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
2. Kiến nghị giải pháp  
chức được các bộ phận/nhóm ĐBQH có  
chuyên môn sâu về cùng lĩnh vực, hoặc chủ  
động thành lập các tiểu ban khi cần thiết để  
có thể phát huy các thế mạnh trong lĩnh vực  
hoạt động của mỗi ĐBQH, cũng như huy  
động hiệu quả sự tham gia của các chuyên  
gia giỏi, nhà khoa học am hiểu sâu sắc về  
lĩnh vực của Ủy ban13. Thiết chế Ủy ban lâm  
thời14 cũng nên được nghiên cứu sử dụng  
nhiều hơn để tăng cường hiệu quả hoạt động  
chung của Quốc hội. Về lâu dài, cần xem xét  
thực hiện việc chia, tách như đã nêu trên, để  
các Ủy ban có điều kiện hoạt động chuyên  
sâu và hiệu quả hơn. Việc chia, tách các Ủy  
ban theo hướng này cần bảo đảm không làm  
tăng thêm số lượng ĐBQH, hay biên chế của  
các Vụ giúp việc cho Hội đồng Dân tộc, các  
Ủy ban của Quốc hội.  
Thứ hai, trước mắt, trong điều kiện đặc  
thù ở nước ta, cần nghiên cứu để cơ cấu một  
số lượng hợp lý nhất định ĐBQH hoạt động  
chuyên trách là thành viên của Hội đồng Dân  
tộc, các Ủy ban của Quốc hội, để những đại  
biểu này dành toàn bộ thời gian làm việc cho  
Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Tiến  
tới tăng cường đáng kể ĐBQH hoạt động  
chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc, các Ủy  
ban của Quốc hội15, hướng tới ít nhất là  
50%16 tổng số thành viên Hội đồng Dân tộc,  
- Nhóm giải pháp về đổi mới cơ cấu tổ  
chức, hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các  
Ủy ban của Quốc hội  
Thứ nhất, cần nghiên cứu để tổ chức số  
lượng Ủy ban của Quốc hội hợp lý, khoa  
học, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai  
đoạn mới của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà  
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt  
Nam. Giám sát của Quốc hội là một trong  
những cách thức để kiểm soát quyền lực nhà  
nước, nhất là đối với hoạt động hành pháp.  
Trong khi đó, tài nguyên và môi trường là  
hai lĩnh vực rất rộng lớn và hiện nay đều là  
những vấn đề nhức nhối, bức xúc trong xã  
hội. Do vậy, cần tiếp tục nghiên cứu để chia,  
tách một số Ủy ban thành các Ủy ban chuyên  
sâu hơn, ví dụ: Ủy ban Khoa học, Công nghệ  
và Môi trường tách thành Ủy ban Khoa học,  
Công nghệ và Ủy ban Tài nguyên và Môi  
trường để các Ủy ban này có điều kiện  
chuyên sâu vào những lĩnh vực tương ứng  
với các bộ, ngành của Chính phủ có trách  
nhiệm quản lý nhà nước ở các lĩnh vực này12.  
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của  
Luật Tổ chức Quốc hội năm 2020 chưa có  
quy định về việc chia, tách các Ủy ban. Vì  
vậy, trước mắt, mỗi Ủy ban nên chủ động tổ  
12 Ở Đức và một số quốc gia khác, Quốc hội thành lập các ủy ban chuyên môn tương ứng với các bộ trong  
Chính phủ để Quốc hội có điều kiện thực hiện tốt hơn các chức năng của mình, trong đó có hoạt động  
giám sát nhằm thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước.  
13 Theo khoản 4 Điều 67 Luật Tổ chức Quốc hội, thành viên của Tiểu ban có thể không phải là ĐBQH.  
14 Theo Điều 88 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.  
15 Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng  
khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt  
động hiệu lực, hiệu quả” đã đưa ra những giải pháp cụ thể đối với hệ thống tổ chức của Nhà nước ở Trung  
ương, theo đó thực hiện tăng tỷ lệ ĐBQH chuyên trách theo mục tiêu đã đề ra. Tại Điều 1 Luật sửa đổi, bổ  
sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2020 quy định sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 23 như  
sau: “Số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ít nhất là bốn mươi phần trăm tổng số đại biểu  
Quốc hội”.  
16 Quốc hội khóa X (1997-2002) có 450 ĐBQH; Quốc hội khóa XI (2002-2007) có 498 ĐBQH trong đó có  
121 ĐBQH chuyên trách (chiếm 24,29%); Quốc hội khóa XII (2007-2011) có 493 ĐBQH trong đó có 145  
ĐBQH chuyên trách (chiếm 29,41%); Quốc hội khóa XIII (2011-2016) có 500 ĐBQH trong đó có 154  
ĐBQH chuyên trách (chiếm 30,08%); (nguồn: Sách: “Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam  
kế thừa, đổi mới và phát triển” của Viện Nghiên cứu lập pháp, UBTVQH, Nhà xuất bản Chính trị Quốc  
gia sự thật, Hà Nội, 2016, trang 24). Quốc hội khóa XIV (2016-2021) có 494 ĐBQH, ĐBQH hoạt động  
chuyên trách chiếm 30,0%.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
16  
Số 22 (422) - T11/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
các Ủy ban của Quốc hội17. Xây dựng Quy  
chế làm việc phù hợp cho các ĐBQH hoạt  
động không chuyên trách như thường xuyên  
gửi văn bản xin ý kiến đóng góp; kết nối  
thông tin qua mạng, tăng cường họp trực  
tuyến…  
Thứ ba, ngoài việc tăng tỷ lệ ĐBQH  
hoạt động chuyên trách, thì đối với ĐBQH  
hoạt động không chuyên trách, trong các  
nhiệm kỳ Quốc hội tới cần giảm đáng kể  
những ĐBQH làm việc trong các cơ quan  
hành pháp và tư pháp18,19. Đồng thời, nên  
“hạn chế” việc tham gia của các ĐBQH này  
trong cơ cấu tổ chức của Hội đồng Dân tộc,  
các Ủy ban của Quốc hội, nhằm giảm thiểu  
việc ĐBQH phải đóng “hai vai”, vừa là đại  
biểu dân cử, vừa thực hiện nhiệm vụ của cơ  
quan hành pháp, tư pháp. Có như vậy, hoạt  
động của Quốc hội mới bảo đảm được tính  
khách quan và nâng cao được chất lượng,  
hiệu quả.  
Thứ tư, để bảo đảm cân đối số thành  
viên trong Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của  
Quốc hội thì cần quy định Hội đồng Dân tộc,  
các Ủy ban của Quốc hội phải có đủ số thành  
viên tối thiểu, phù hợp, đáp ứng yêu cầu  
công việc và nhiệm vụ được giao để bảo  
đảm chất lượng, hiệu quả hoạt động. Cần  
nghiên cứu để quy định ngay trong Luật Tổ  
chức Quốc hội số lượng tối thiểu và tối đa  
thành viên của Hội đồng Dân tộc, mỗi Ủy  
ban của Quốc hội, nhất là đối với các ĐBQH  
hoạt động chuyên trách trong Hội đồng Dân  
tộc, các Ủy ban của Quốc hội, tránh trường  
hợp có Ủy ban quá đông và có Ủy ban có số  
lượng ĐBQH rất hạn chế20. Mặt khác, nên  
có cơ chế hợp lý để các ĐBQH có thể đăng  
ký tham gia đồng thời là thành viên của một  
số Ủy ban nhất định, nhằm bảo đảm phát  
huy tốt năng lực hoạt động trong một hoặc  
một số lĩnh vực chuyên môn21.  
17 Trên thực tế, chúng ta chưa có tiêu chí cụ thể để xác định tỷ lệ % ĐBQH hoạt động chuyên trách.  
18 Ngoài ra, cũng sẽ xem xét việc dành tỷ lệ nhất định cho các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý, người  
có nhiều kinh nghiệm hoạt động đại biểu sắp đến tuổi nghỉ hưu nhưng còn đủ điều kiện về năng lực công  
tác, trí tuệ, uy tín và có sức khỏe, tham gia ứng cử làm ĐBQH hoạt động chuyên trách mà không giữ chức  
vụ lãnh đạo trong các cơ quan của Quốc hội. Các tiêu chí lựa chọn, cơ cấu cụ thể người ứng cử ĐBQH cần  
được cụ thể hóa trong Đề án bầu cử ĐBQH khóa XV để bảo đảm lựa chọn được ĐBQH có chất lượng  
(Xem Báo cáo số 531/BC-UBTVQH14 ngày 19/5/2020 của UBQTVH giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo  
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội).  
19 Xem Bài viết “Chức năng đại diện của Quốc hội trong Hiến pháp Việt Nam” của TS. Lương Minh Tuân,  
trong cuốn kỷ yếu “Chức năng đại diện của Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền” thì việc kiêm nhiệm  
chức vụ hành chính hoặc tư pháp không chỉ làm cho các vị đại biểu “quá tải”, mà còn dẫn đến tình trạng  
xung đột lợi ích trong việc thực hiện chức năng giám sát và trong việc thực hiện chức năng lập pháp. Cũng  
theo tác giả thì về cơ bản, đã làm ĐBQH thì thôi không làm các quan chức tư pháp hoặc các quan chức  
hành chính nữa, trừ các chức danh thuộc hành pháp chính trị như Thủ tướng, Phó Thủ tướng và một số bộ  
trưởng.  
20 Nhiều khóa Quốc hội vừa qua cho thấy, vào đầu mỗi nhiệm kỳ Quốc hội thì các ĐBQH đều có nguyện  
vọng đăng ký tham gia là thành viên của Ủy ban Tài chính- Ngân sách, Ủy ban Kinh tế, Ủy ban đối ngoại,  
Ủy ban các vấn đề xã hội, Ủy ban Pháp luật... Trong khi đó, Ủy ban Tư pháp, Ủy ban Khoa học, Công  
nghệ và Môi trường lại rất ít đại biểu đăng ký do những Ủy ban này có lĩnh vực hoạt động quá chuyên sâu,  
số ĐBQH am hiểu sâu ở lĩnh vực này cũng rất ít. Việc này dẫn đến sự mất cân đối giữa các Ủy ban khi có  
Ủy ban thì có quá nhiều đại biểu, có Ủy ban lại quá ít hoặc có Ủy ban lại có nhiều đại biểu Quốc hội là  
lãnh đạo tỉnh, thành phố trong khi Ủy ban khác lại không có…  
21 Tham khảo kinh nghiệm của Hoa Kỳ thì các thành viên của Hạ viện và Thượng viện Hoa Kỳ có thể tham  
gia nhiều Ủy ban khác nhau (có thể lên tới 5-7 Ủy ban), và đa số nghị sĩ được phân bổ là thành viên của  
(ít nhất) một Ủy ban thường trực có quyền lực hay đặc quyền, như Ủy ban Phân bổ ngân sách, Ủy ban  
Thương mại, Ủy ban Quy chế (thuộc Hạ viện) và Ủy ban Phân bổ ngân sách, Ủy ban Các lực lượng vũ  
trang, Ủy ban Tài chính (thuộc Thượng viện). Xem: Roger H. Davidson, Walter J. Oleszek, Frances E.  
Lee & Eric Schickler 2019, Congress and Its Members, CQ Press; 17th ed.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
17  
Số 22 (422) - T11/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Để làm được điều này thì cần có quy  
định cụ thể thẩm quyền và trách nhiệm của  
UBTVQH trong việc xem xét, quyết định số  
lượng thành viên của từng Ủy ban và cơ cấu  
số lượng ĐBQH hoạt động chuyên trách và  
ĐBQH hoạt động không chuyên trách,…  
phù hợp với đặc thù lĩnh vực hoạt động của  
mỗi Ủy ban. Trong trường hợp cần thiết,  
Quốc hội cũng có thể ra Nghị quyết để quy  
định cụ thể, chi tiết hơn về tổ chức và hoạt  
động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của  
Quốc hội.  
thức thảo luận tại phiên họp thẩm tra; theo  
đó, chuyển việc phát biểu ý kiến từ tham  
luận sang tranh luận; tăng cường đi sâu vào  
việc luận giải, phân tích, phản biện chính  
sách không chỉ đối với những vấn đề lớn,  
những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, mà  
cần phải đề cập đầy đủ, toàn diện đối với tất  
cả các nội dung chương, điều của dự án. Nên  
kéo dài các phiên họp thẩm tra của Hội đồng  
dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội để có điều  
kiện xem xét một cách thấu đáo, đầy đủ, toàn  
diện, cụ thể đối với tất cả những vấn đề  
thuộc nội dung của dự án; nâng cao chất  
lượng, hiệu quả phân tích, phản biện và  
hoạch định chính sách trong các báo cáo  
thẩm tra của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban  
của Quốc hội.  
Luật Ban hành VBQPPL và các văn bản  
hướng dẫn thi hành cần quy định những vấn  
đề, nội dung mang tính bắt buộc trong báo  
cáo thẩm tra; theo đó, trong báo cáo thẩm tra  
cần kèm theo phụ lục các tư liệu về kết quả  
nghiên cứu, khảo sát thực tiễn trong và ngoài  
nước, hội thảo, lấy ý kiến các chuyên gia...  
mà Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc  
hội sử dụng phục vụ cho hoạt động thẩm tra;  
đặc biệt là đánh giá, kiến nghị cụ thể về từng  
vấn đề thuộc về phạm vi, đối tượng, nguyên  
tắc, quan điểm, chính sách pháp luật đối với  
tất cả các điều, khoản của dự án. Báo cáo  
thẩm tra cũng bảo đảm phản ánh đầy đủ,  
không bỏ sót ý kiến thành viên về tất cả  
những vấn đề của dự án, cả nội dung lớn như  
về quan điểm, chính sách hay những vấn đề  
cụ thể, chi tiết, cách thức thể hiện, kỹ thuật  
văn bản. Bên cạnh đó, cũng cần có những  
quy định trong luật để tránh tình trạng “vận  
động hành lang” của cơ quan soạn thảo, cơ  
quan trình dự án đối với cơ quan chủ trì thẩm  
tra, tham gia thẩm tra và bộ máy tham mưu,  
phục vụ của các cơ quan này; bảo đảm kiểm  
soát tốt xung đột lợi ích, lợi ích nhóm trong  
hoạt động thẩm tra.  
- Nhóm giải pháp liên quan đến hoạt  
động thẩm tra của Hội đồng Dân tộc, các  
Ủy ban của Quốc hội  
- Thứ nhất, để nâng cao chất lượng thẩm  
tra Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh  
hằng năm của Quốc hội thì Ủy ban Pháp luật  
với vai trò là cơ quan chủ trì thẩm tra cần  
làm việc kỹ với các cơ quan có kiến nghị về  
dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết  
được đưa vào Chương trình để làm rõ sự cần  
thiết ban hành, thứ tự ưu tiên, phạm vi, đối  
tượng điều chỉnh và những nội dung cơ bản  
của dự án; các điều kiện cần thiết về thời  
gian, tiến độ, nguồn nhân lực, báo cáo tổng  
kết, báo cáo đánh giá tác động của chính  
sách... để soạn thảo dự án sau khi đã được  
đưa vào Chương trình. Cần tăng cường sự  
phối hợp chặt chẽ giữa Ủy ban Pháp luật với  
Hội đồng dân tộc, các Ủy ban khác của Quốc  
hội trong việc thẩm tra Chương trình xây  
dựng luật, pháp lệnh; quy định rõ hơn về  
trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá  
nhân trong việc đề nghị, kiến nghị đưa dự án  
vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh,  
nhất là trách nhiệm trong việc tổ chức thực  
hiện theo đúng tiến độ thời gian, chất lượng  
của dự án và các yêu cầu khác bảo đảm để  
Quốc hội có điều kiện, cơ sở để xem xét,  
quyết định.  
Thứ hai, công tác thẩm tra cần phát huy  
và nâng cao tính phản biện, xem xét và phân  
tích kỹ những ý kiến, quan điểm trái chiều  
đối với cùng một vấn đề, chú ý trong nhiều  
trường hợp ý kiến thiểu số chưa hẳn là ý kiến  
không hợp lý. Cần đổi mới căn bản cách  
Thứ ba, thực hiện chủ trương tăng tỷ lệ  
số ĐBQH hoạt động chuyên trách nhằm  
nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc  
hội, nhất là trong việc bảo đảm chức năng  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
(Xem tiếp trang 43)  
18  
Số 22 (422) - T11/2020  
pdf 8 trang yennguyen 8600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động lập pháp của Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiai_phap_nang_cao_hieu_qua_hoat_dong_lap_phap_cua_hoi_dong.pdf