Chính sách hậu tái định cư đối với dân tộc thiểu số ở một số dự án thủy điện ở nước ta hiện nay

CHÍNH SÁCH  
CHÍNH SÁCH HậU TÁI ĐỊNH CƯ ĐỐI VỚI DÂN TỘC THIểU SỐ  
ở MỘT SỐ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN ở NƯỚC TA HIỆN NAY  
TS. Nguyễn Lâm Thành*  
TS. Nguyễn Anh Phong**  
ThS. Vũ Huy Phúc, Th.S Phạm Thị Thu Hà, Th.S Nguyễn Mai Linh***  
*-Phó-Chủ-tịch-Hội-đồng-Dân-tộc-của-Quốc-hội.  
**-Giám-đốc-Trung-tâm-Thông-tin-phát-triển-nông-nghiệp-nông-thôn,-Viện-Chính-sách-và-Chiến-lược-PTNNNT.  
***-Nghiên-cứu-viên,-Viện-Chính-sách-và-Chiến-lược-PTNNNT  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Tái định cư, chính sách  
tái định cư, chính sách hậu tái  
định cư, dân tộc thiểu số.  
Chính sách hậu tái định cư là những chính sách hỗ trợ cho cộng đồng và  
người dân khu, điểm tái định cư nhằm hỗ trợ phát triển sinh kế, tạo việc  
làm tăng thu nhập và giảm nghèo bền vững thông qua các giải pháp như  
đào tạo nghề, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng,  
vật nuôi, đầu tư cơ sở hạ tầng, v.v. Mặc dù, các dự án thủy điện đều triển  
khai các chính sách hỗ trợ ổn định cuộc sống cho người dân sau tái định  
cư nhưng tỷ lệ nghèo của hộ dân tộc thiểu số ở các khu, điểm tái định cư  
bình quân vẫn ở mức cao hơn mức bình quân chung của các hộ dân tộc  
thiểu số; tỷ lệ hộ được đào tạo nghề và chuyển đổi nghề nghiệp thấp; việc  
tái định cư chưa đáp ứng được nhu cầu về bảo tồn, duy trì bản sắc văn hóa  
và phong tục truyền thống; yếu kém trong xử lý ô nhiễm môi trường sống  
tại các khu, điểm tái định cư. Để khắc phục những bất cập trên, cần thực  
hiện đồng bộ các giải pháp như: đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp;  
nâng cấp, sửa chữa cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, sinh hoạt cộng đồng  
và cung cấp các dịch vụ công; tập trung triển khai hoạt động giảm nghèo  
bền vững; bảo tồn duy trì văn hóa cộng đồng và hỗ trợ hội nhập cộng đồng  
vùng tái định cư; đảm bảo vệ sinh môi trường; và nghiên cứu thí điểm xây  
dựng quỹ hỗ trợ người dân hậu tái định cư.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 09/9/2020  
: 19/9/2020  
: 22/9/2020  
Article Infomation:  
Key words: Resettlement,  
resettlement policy, post-  
resettlement policy, ethnic  
minorities.  
Abstract:  
The Post-resettlement policies are the ones supporting the communities  
and people in the resettlement sites for their livelihood developments, jobs  
provision, income generation, and poverty reduction in a sustainable  
manner through such solutions as vocational training, supports to a career  
change, structure transformation of crop and livestock, infrastructure  
investment, etc. Although hydropower projects all implement policies to  
stabilize lives for people after resettlement, the poverty rate of ethnic  
minority households in resettlement areas and sites is still at an average  
level, which is higher than the average of the ethnic minority households;  
the proportion of households receiving vocational training and career  
change is low; the resettlement has not met the needs of conservation and  
maintenance of cultural identity and traditional customs; weaknesses in  
handling environmental pollution in resettlement sites. It is necessary to  
implement solutions such as vocational training, career change; upgrading  
and repairing infrastructure for production, community activities and  
providing public services; focus on implementing activities of sustainable  
poverty reduction; preserving and maintaining community culture and  
supporting community integration in resettlement areas; ensure  
environmental sanitation, and researching on pilot building a fund to  
support post-resettlement people to overcome the above shortcomings.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 09 Sep. 2020  
: 19 Sep. 2020  
: 22 Sep. 2020  
Approved  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
42  
Số 18 (418) - T9/2020  
CHÍNH SÁCH  
1. Đặt vấn đề  
Kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới,  
hậu TĐC vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn,  
tỷ lệ hộ nghèo cao. Nguyên nhân là do các  
chính sách hỗ trợ cho người dân phát triển  
sinh kế chưa hiệu quả, công tác đào tạo nghề  
chưa phù hợp với người dân, nhiều hỗ trợ đã  
được chủ đầu tư cam kết nhưng không thực  
hiện, tình trạng thiếu đất sản xuất và chất  
lượng thấp rất phổ biến, cơ sở hạ tầng (nhà  
ở, đường, hệ thống cấp nước...) xuống cấp  
nghiêm trọng gây khó khăn cho đời sống của  
người dân và ảnh hưởng đến niềm tin của  
người dân.  
2. Chính sách tái định cư và hậu tái định cư  
Trước năm 1993, đất đai đều được quản  
lý bởi Nhà nước nên các giao dịch phải  
thông qua các quyết định của Nhà nước, đất  
không có giá trị, thị trường đất đai chưa  
được công nhận. Trong giai đoạn này, TĐC  
là quá trình đưa người dân từ vùng dự án đến  
nơi định cư mới, có đền bù những mất mát  
cho người dân nhưng không có chính sách  
giúp người dân phục hồi sinh kế. Điều đó  
khiến người dân TĐC rất dễ bị rơi vào nghèo  
đói sau khi di dời và TĐC3.  
Luật Đất đai năm 1993 đã hình thành  
khung chính sách bồi thường, hỗ trợ cho  
người TĐC khi Nhà nước thu hồi đất. Điều  
kiện bắt buộc khi thực hiện dự án có thu hồi  
đất quy mô lớn là phải có “khu TĐC xây  
dựng phù hợp với quy hoạch, tiêu chuẩn và  
quy chuẩn xây dựng ở đô thị hoặc nông  
thôn”4. Đến năm 2004, Nghị định  
197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 quy  
định: “Trước khi bố trí đất ở cho các hộ gia  
để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, thủy  
điện là nguồn năng lượng có vai trò quan  
trọng góp phần sử dụng hiệu quả nguồn tài  
nguyên nước, đảm bảo an ninh năng lượng  
quốc gia, chống lũ, chống hạn, cung cấp  
nước tưới cho nông nghiệp, sinh hoạt của  
nhân dân, đóng góp nguồn ngân sách, cải  
thiện cơ sở hạ tầng vùng miền núi, đặc biệt  
là đảm bảo cung ứng điện cho quá trình hội  
nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, việc xây  
dựng các công trình thủy điện, đặc biệt là các  
công trình thủy điện lớn vừa qua đang đặt ra  
nhiều thách thức đối với công tác ổn định  
đời sống của người dân vùng DTTS và miền  
núi. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển  
Nông thôn, tính đến năm 2020, nước ta có  
khoảng 86 dự án thủy điện phải thực hiện  
công tác di dân, tái định cư. Tổng số dân  
phải di chuyển để xây dựng các cổng trình  
thủy điện trên cả nước là 66.372 hộ1. Ước  
tính 90% số người bị ảnh hưởng bởi thủy  
điện là đồng bào DTTS sống ở vùng núi2.  
Nhiều công trình thủy điện đã hoàn  
thành công tác thu hồi đất, TĐC từ nhiều  
năm trước. Chính phủ và các địa phương đã  
có rất nhiều cố gắng trong việc ban hành cơ  
chế, chính sách cũng như tổ chức thực hiện  
để TĐC cho người dân và đã đạt được những  
kết quả nhất định. Bộ mặt nông thôn vùng  
TĐC đã có sự thay đổi, cơ sở hạ tầng tốt hơn.  
Tuy nhiên, khi so sánh với sự phát triển  
chung, đời sống của người dân trong thời kỳ  
1 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2020), Báo cáo Đánh giá tình hình thực hiện chính sách pháp luật  
về di dân, tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện.  
2 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2018), Báo cáo thực trạng và giải pháp ổn định di cư tự do các  
vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.  
3 Bui Thi Minh Hang and Pepijin Schreinemachers (2011), TĐC nông hộ ở Tây Bắc Việt Nam: Thay đổi sinh  
kế và thích ứng, International Journal of Water Resources Development 27(4): 769-785.  
4 Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
43  
Số 18 (418) - T9/2020  
CHÍNH SÁCH  
đình, cá nhân, khu TĐC phải được xây dựng  
cơ sở hạ tầng đồng bộ đảm bảo đủ điều kiện  
cho người sử dụng tốt hơn hoặc bằng nơi ở  
cũ”5 và “Tạo điều kiện cho các hộ vào khu  
TĐC được xem cụ thể khu TĐC và thảo luận  
công khai về dự kiến bố trí”. Tuy nhiên, theo  
quy định của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP,  
chỉ có các hộ dân bị thu hồi trên 30% diện  
tích đất sản xuất mới được hỗ trợ chuyển đổi  
nghề nghiệp và đào tạo việc làm; Nghị định  
số 69/2009/NĐ-CP6 cho phép tất cả các hộ  
dân có đất sản xuất bị thu hồi sẽ được hưởng  
chế độ hỗ trợ nêu trên. Đây là một bước tiến  
trong chính sách để đảm bảo công bằng  
trong đền bù; nhưng cũng còn một số bất cập  
cần điều chỉnh cho phù hợp với thực tế (ví  
dụ trường hợp hộ dân có đất sản xuất vượt  
hạn điền; mức độ đền bù cần phân biệt giữa  
các hộ dân bị thu hồi ít hay nhiều đất, v.v.).  
Theo quy định của Nghị định số  
69/2009/NĐ-CP, mức hỗ trợ các hộ bằng  
tiền từ 1,5 đến 5 lần giá đất đối với toàn bộ  
diện tích đất bị thu hồi, nhưng không vượt  
quá hạn mức giao đất nông nghiệp sẽ do  
UBND các tỉnh quyết định mức hỗ trợ cụ  
thể. Điều này khiến UBND các tỉnh lúng  
túng trong việc ra quyết định về mức hỗ trợ  
do thiếu hướng dẫn cụ thể, đồng thời cũng  
gây rủi ro khiếu kiện nếu một dự án nằm trên  
địa bàn 2 tỉnh có hai mức hỗ trợ khác nhau7.  
Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể về  
chức, cá nhân đang sử dụng trong trường  
hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích  
quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã  
hội vì lợi ích quốc gia và mục đích công  
cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh  
bạch và được bồi thường theo quy định của  
pháp luật” (khoản 3 Điều 54).  
Năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị  
định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 và  
Quyết định số 64/2014/QĐ-TTg ngày  
18/11/2014. Hai văn bản này quy định về  
chính sách đặc thù di dân, TĐC các dự án  
thủy lợi, thủy điện. Quyết định số  
64/2014/QĐ-TTg đã đưa ra các giải pháp  
gồm: hỗ trợ người dân TĐC chuyển đổi cây  
trồng, vật nuôi, thủy sản, phát triển rừng sản  
xuất, hỗ trợ đào tạo nghề. Tuy nhiên, sau 5  
năm triển khai chính sách này thể hiện một  
số bất cập, việc triển khai thực hiện chậm do  
thiếu nguồn kinh phí thực hiện và cơ chế tài  
chính phân cấp không rõ ràng. Đối với một  
số dự án lớn như thủy điện Sơn La, Chính  
phủ có riêng Đề án ổn định dân cư, phát triển  
KT-XH vùng TĐC thủy điện Sơn La.  
Tháng 2/2019, Thủ tướng Chính phủ đã  
ban hành chính sách mới8 thông qua quy  
định việc lập, thẩm định, phê duyệt và thực  
hiện dự án đầu tư ổn định đời sống và sản  
xuất cho người dân sau TĐC theo đúng các  
văn bản pháp luật về đầu tư công để tăng  
tính thực thi. Đặc biệt, chính sách mới làm  
rõ trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát  
việc thu hồi đất: “Nhà nước thu hồi đất do tổ  
5 Điều 35 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004.  
6 Nghị định số 69/2009/ND-CP đã hết hiệu lực và được thay thế bởi Nghị định số 43/2014/NĐ-CP hướng  
dẫn Luật Đất đai 2013.  
7 Lê Anh Tuấn, Đào Thị Việt Nga (2016), Phát triển thủy điện ở Việt Nam: Thách thức và Giải pháp, Nxb.  
Khoa học và kỹ thuật.  
8 Quyết định số 06/2019/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 64/2014/QĐ-TTg ngày  
18/11/ 2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chính sách đặc thù về di dân, tái định cư các dự án  
thủy lợi, thủy điện.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
44  
Số 18 (418) - T9/2020  
CHÍNH SÁCH  
triển nông thôn là đơn vị chủ trì tổng hợp kế  
hoạch trung hạn hàng năm do UBND các  
tỉnh lập gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài  
chính theo quy định của Luật Đầu tư công,  
Luật Ngân sách nhà nước.  
sách và Chiến lược PTNNNT đã thực hiện  
Đề tài “Những vấn đề cấp bách trong thực  
hiện TĐC ở vùng dân tộc thiểu số và miền  
núi nước ta hiện nay”; trong đó, có thực hiện  
điều tra khảo sát tại 10 tỉnh tiêu biểu của Việt  
Nam có thực hiện chương trình TĐC liên  
quan đến các công trình thủy điện; trong đó,  
Sơn La và Lai Châu thuộc khu vực Tây Bắc  
Bộ; Tuyên Quang thuộc Đông Bắc Bộ;  
Thanh Hóa và Nghệ An thuộc Bắc Trung  
Bộ; Quảng Nam, Bình Thuận thuộc duyên  
hải Nam Trung Bộ; Gia Lai và Lâm Đồng  
thuộc Tây Nguyên; Bình Phước thuộc Đông  
Nam Bộ.  
Nhằm giải quyết các vấn đề đang tồn tại,  
tăng cường vai trò quản lý nhà nước trong  
lĩnh vực di dân, TĐC dự án thủy lợi, thủy  
điện, năm 2019, Thủ tướng Chính phủ đã  
phê duyệt Đề án: “Rà soát và hoàn thiện các  
chính sách về di dân, TĐC dự án thủy lợi,  
thủy điện”9. Đề án đặt ra mục tiêu rà soát,  
đánh giá thực trạng các chính sách về di dân,  
TĐC dự án thủy lợi, thủy điện; đề xuất các  
nhiệm vụ, giải pháp và những định hướng  
xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách  
pháp luật về di dân, TĐC dự án thủy lợi,  
thủy điện để hỗ trợ, tạo điều kiện giúp người  
dân TĐC phát triển sản xuất, nâng cao thu  
nhập và ổn định cuộc sống, đồng thời đề  
xuất các giải pháp giúp người dân TĐC tiếp  
cận bình đẳng các dịch vụ xã hội cơ bản tại  
nơi ở mới, góp phần ổn định tình hình an  
ninh trật tự, phát triển kinh tế - xã hội tại các  
địa phương tiếp nhận TĐC. Do mới ban  
hành, đến thời điểm hiện tại chưa có nhiều  
địa phương triển khai thực hiện đề án này,  
những vấn đề cấp bách đang diễn ra tại các  
khu TĐC do đó vẫn còn nguyên tính thời sự  
và cần thiết được nhận diện để có những giải  
pháp kịp thời và đồng bộ.  
Trong mỗi tỉnh, lựa chọn huyện xã miền  
núi có thực hiện chương trình TĐC cho  
người DTTS. Có hai nhóm hộ được chọn là  
nhóm hộ TĐC và nhóm hộ đối chứng. Trong  
đó, nhóm hộ đối chứng là nhóm hộ sinh sống  
tại vùng lân cận. Hai nhóm hộ TĐC và hộ  
đối chứng được phỏng vấn bằng bảng hỏi  
cấu trúc tập trung vào các nội dung để đánh  
giá tác động của TĐC tới đời sống kinh tế,  
xã hội và môi trường sống.  
3.2. Kết quả khảo sát về thực hiện  
chính sách tái định cư ở một số dự án thủy  
điện  
a) Tỷ lệ hộ nghèo cao tại các khu, điểm  
TĐC  
Kết quả khảo sát tại các tỉnh, tỷ lệ nghèo  
ở các khu, điểm TĐC cao hơn so với mặt  
bằng chung và so với bình quân các hộ  
DTTS khác. Tỷ lệ nghèo tại các khu TĐC  
bình quân là 33,63% cao hơn khoảng 3% so  
với bình quân các hộ DTTS khác. Tỷ lệ  
nghèo tại các khu TĐC được ghi nhận cao  
3. Thực trạng thực hiện chính sách hậu tái  
định cư ở một số dự án thủy điện ở nước ta  
3.1. Giới thiệu về cuộc khảo sát  
Trong năm 2018-2019, Hội đồng Dân  
tộc Quốc hội, Ủy ban Dân tộc và Viện Chính  
9 Quyết định số 1457/QĐ-TTg ban hành ngày 25/10/2019 phê duyệt Đề án: Rà soát và hoàn thiện các chính  
sách về di dân, tái định cư dự án thủy lợi, thủy điện.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
45  
Số 18 (418) - T9/2020  
CHÍNH SÁCH  
nhất là 67% tại các khu TĐC của Dự án thủy  
điện Bản vẽ và Thủy lợi Bản Mồng (Nghệ  
An). Tỷ lệ nghèo thấp nhất được ghi nhận là  
10.2% tại khu TĐC của Thủy điện Trung  
Sơn tại Thanh Hóa. Tỷ lệ nghèo thường tăng  
cao sau 2-3 năm TĐC khi người dân đã sử  
dụng hết tiền đền bù cho việc mua sắm vật  
dụng cá nhân, mua thực phẩm.  
Theo kết quả khảo sát, tỷ lệ hoàn thành  
giao đất sản xuất của các dự án TĐC bình  
quân mới đạt 69% so với quy hoạch. Tình  
trạng các hộ dân TĐC chưa được giao đủ đất  
sản xuất so với hạn mức quy định tồn tại ở  
nhiều nơi như: Dự án thủy điện Huội Quảng,  
Bản Chát tỉnh Lai Châu, bình quân diện tích  
đất sản xuất là 0,89 ha/hộ, thấp hơn so với  
hạn mức quy định (1,2 - 1,5 ha/hộ); Dự án  
thủy điện Bản Vẽ tỉnh Nghệ An còn 75 hộ  
chưa nhận đất, với tổng diện tích còn thiếu  
là 90,4 ha; Dự án thủy điện Hủa Na tỉnh  
Nghệ An còn 746 hộ chưa được giao đủ đất  
lúa, với tổng diện tích còn thiếu 57,8 ha, 311  
hộ thiếu đất lâm nghiệp với tổng diện tích là  
1.032 ha; Dự án thủy điện Đồng Nai 3 tỉnh  
Đắk Nông còn 275 hộ chưa được giao đủ đất  
sản xuất nông nghiệp, với tổng diện tích còn  
thiếu là 257 ha; Dự án thủy điện Thượng  
Kon Tum tỉnh Kon Tum còn 106 hộ chưa  
được giao đủ đất sản xuất nông nghiệp, với  
tổng diện tích còn thiếu là 75 ha.  
b) Chưa đảm bảo cung cấp đủ đất sản  
xuất và đất ở cho người dân TĐC ổn định  
cuộc sống  
Theo khảo sát ở nhiều khu, điểm TĐC  
của Gia Lai, Quảng Nam, Nghệ An, đất ở và  
đất sản xuất chỉ đáp ứng nhu cầu trong mấy  
năm đầu, chưa đảm bảo nhu cầu tách hộ,  
giãn dân, gia tăng dân số; có những nơi bố  
trí đất ở không đúng phương án quy hoạch  
như tại Bản Vẽ (Nghệ An), bố trí ở nơi có độ  
dốc lớn, nguy cơ sạt lở cao, không đảm bảo  
an toàn nên sau TĐC người dân không ở mà  
chuyển đi nơi khác, nhiều khu TĐC bỏ  
hoang.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
46  
Số 18 (418) - T9/2020  
CHÍNH SÁCH  
Hiện nay, tình trạng thiếu đất sản xuất  
và đất ở đang làm cho cuộc sống của người  
dân ở các khu, điểm TĐC của các công trình  
thủy lợi và các công trình khác (thủy điện,  
giao thông) ở vùng DTTS và miền núi đang  
gặp rất nhiều khó khăn. Thiếu đất sản xuất  
là nguyên nhân làm nhiều hộ TĐC quay về  
khu vực lòng hồ canh tác. Điển hình như  
thủy điện Bản Vẽ có 136 hộ (434 khẩu) quay  
về cư trú canh tác trên khu vực lòng hồ, và  
một số thủy điện khác như An Khê, Thác  
Mơ, Hàm Thuận cũng có tình trạng này  
nhưng ít hơn.  
c) Đời sống của người dân TĐC còn  
nhiều khó khăn do thực hiện chưa tốt công  
tác hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, phát triển  
sinh kết và tạo việc làm của các hộ sau TĐC  
Theo đánh giá của cán bộ chính quyền  
các địa phương, người dân TĐC đang phải  
đối mặt với những vấn đề như: thu nhập thấp  
và thiếu việc làm, hoạt động sản xuất nông  
nghiệp không hiệu quả. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
47  
Số 18 (418) - T9/2020  
CHÍNH SÁCH  
được hỗ trợ tạo sinh kế sau TĐC vẫn còn  
thấp, cụ thể: chỉ 23,7% số hộ được hỗ trợ  
chuyển đổi nghề nghiệp; 19,5% được tập  
huấn kỹ thuật; 16,3% được đào tạo nghề  
mới; 12,8% được hỗ trợ nguyên liệu đầu vào  
sản xuất; và chỉ 7,4% được hỗ trợ liên kết,  
tiêu thụ sản phẩm. Với tỷ lệ được hỗ trợ thấp  
như trên, trong khi phải đối mặt với nhiều  
khó khăn sinh kế khi chuyển đổi nơi ở, có  
thể thấy người dân TĐC đã trở thành một đối  
tượng rất dễ bị tổn thương trong xã hội.  
Tỷ lệ thấp như trên còn cho thấy, chính  
sách hỗ trợ chuyển đổi nghề hay đa dạng hóa  
sinh kế cho người dân thực hiện nhưng  
không hiệu quả, thiếu bền vững. Như trên đã  
đề cập, tỷ lệ các hộ tham gia đào tạo nghề mới  
rất thấp chỉ 16,3%, nguyên nhân là do nhận  
thức thấp của người dân về cơ hội chuyển đổi  
việc làm, nhiều người lớn tuổi nên việc đào  
tạo nghề, chuyển đổi nghề gặp khó khăn.  
Trong khi đó, cơ hội tìm các việc làm phi  
nông nghiệp ở các nhà máy, công ty ở địa  
phương cũng không nhiều, tỷ lệ lao động địa  
phương được nhận làm việc tại các công trình  
thủy điện trên địa bàn rất thấp. Tập quán làm  
việc tự do và có nhiều lễ hội trong năm của  
người DTTS cũng ảnh hưởng tới chất lượng  
và thời gian làm việc, khiến các doanh nghiệp  
không ưu tiên tuyển chọn (một số địa phương  
có các công ty cao su, mía đường như Bình  
Thuận, Bình Phước, Gia Lai, người dân được  
đào tạo vào làm ở các công ty này nhưng rất  
nhiều lao động không thể tuân thủ kỷ luật và  
bỏ việc không làm…). Ngoài ra, theo các cán  
bộ phụ trách đào tạo nghề ở các địa phương,  
các đơn vị đào tạo nghề gặp khó khăn trong  
chọn lựa ngành nghề để đào tạo (có nhu cầu  
lao động nhiều, yêu cầu kỹ thuật không cao,  
thời gian làm việc ổn định, mức thu nhập  
đảm bảo v.v.) trong phạm vi khu vực gần với  
các khu TĐC.  
d) Các công trình công cộng và nhà ở  
của hộ TĐC nhanh chóng xuống cấp hoặc  
bị bỏ hoang do không phù hợp với phong tục  
tập quán  
Đối với rất nhiều dự án thủy điện, các  
khu TĐC đồng bộ đã được xây dựng. Tuy  
nhiên, theo người dân, việc thiết kế, xây  
dựng các khu TĐC chưa quan tâm đến  
phong tục, tập quán, và văn hóa của các cộng  
đồng người DTTS nên nhiều công trình nhà  
ở và công trình công cộng sau khi đưa vào  
sử dụng không được người dân sử dụng.  
Kết quả khảo sát cho thấy, tại các khu,  
điểm TĐC có xây nhà đồng bộ hầu hết đã  
xuống cấp nghiêm trọng, tỷ lệ nhà bỏ hoang  
khá nhiều (ở khu TĐC thủy điện Hạm Thuận  
tỉnh Bình Thuận ước tỉnh khoảng 30% số  
nhà bị bỏ hoang; thủy điện Bản Vẽ tỉnh  
Nghệ An nhiều khu nhà TĐC di vén gần  
lòng hồ đã bỏ hoang từ nhiều năm; thủy điện  
Thác Mơ tỉnh Bình Phước, Sông Tranh 2  
tỉnh Quảng Nam cũng trong tình trạng tương  
tự. Đối với các dự án thủy điện ở giai đoạn  
sau năm 2013, rút kinh nghiệm từ sự thiếu  
hiệu quả của các khu TĐC xây dựng đồng  
bộ nên các dự án đã chuyển qua hỗ trợ tiền  
để người dân tự xây dựng nhà ở hoặc vận  
chuyển nhà từ nơi ở cũ về nơi ở mới.  
Tình trạng thiếu quy hoạch các công  
trình phụ (nhà bếp, nhà vệ sinh, chuồng  
trại…) ở các khu, điểm TĐC rất phổ biến.  
Nhiều khu TĐC tập trung có xây nhà vệ sinh  
cho các hộ, nhưng do không phù hợp với  
phong tục, tập quán, văn hóa nên các hộ  
không sử dụng và chuyển đổi thành nhà kho  
(điển hình như tại khu TĐC An Khê- Kanak  
Gia Lai). Theo người dân, nguyên nhân do  
khi quy hoạch đã không tính toán khoảng  
cách từ nhà vệ sinh với nhà ở, dẫn tới xây  
quá sát với nhà ở gây ô nhiễm, không phù  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
48  
Số 18 (418) - T9/2020  
CHÍNH SÁCH  
hợp với phong tục của người DTTS là nhà  
vệ sinh phải cách xa nhà ở.  
e) Chưa đáp ứng được nhu cầu về bảo  
tồn, duy trì bản sắc văn hóa và phong tục  
truyền thống tại các khu, điểm TĐC.  
Khảo sát các khu, điểm TĐC cho thấy,  
các công trình dịch vụ công như: đường giao  
thông, hệ thống cấp nước sinh hoạt, nhà văn  
hóa, hệ thống điện chưa được xây dựng.  
Nhiều khu TĐC sau 10 năm mới có điện lưới  
như khu TĐC của thủy điện Bản Vẽ (Nghệ  
An). Một số dự án thu hồi đất trong giai đoạn  
quy hoạch treo đã 10 năm gây khó khăn cho  
cuộc sống của các hộ do không được đầu tư  
cơ sở hạ tầng, đường, điện (như dự án Thủy  
lợi Bản Mồng, Nghệ An).  
Đối với nhiều dự án thủy điện lớn như:  
Sơn La, Lai Châu, Tuyên Quang, Bản Vẽ -  
Nghệ An đã thực hiện di dời nhiều cộng  
đồng người dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, ở  
nhiều nơi, những người di dời phải ở xen  
ghép với những cộng đồng dân tộc tại chỗ.  
Điều này dẫn tới nhiều hoạt động văn hóa  
truyền thống của các dân tộc khó được duy  
trì và đang bị mai một dần. Điều này thể hiện  
rõ nhất ở tần suất sinh hoạt văn hóa cộng  
đồng, tổ chức lễ hội truyền thống tại các khu  
TĐC thấp hơn so với các khu đối chứng và  
đánh giá của người dân về mức độ quan  
trọng của “già làng, trưởng bản” ở các khu  
TĐC cũng kém quan trọng hơn so với nơi  
đối chứng. Cụ thể, 25,04% hộ TĐC đồng ý  
tần suất tổ chức trong những năm gần đây ít  
hơn so với trước kia, tỷ lệ của hộ đối chứng  
là 21,01%. Tỷ lệ đánh giá kém quan trọng  
hơn của già làng, trưởng bản của các hộ  
TĐC là 13,55%, trong khi đó các hộ đối  
chứng đánh giá là 10,76%. Ngoài ra, ở một  
số nơi, do nhà văn hóa cộng đồng được xây  
dựng với chất lượng kém, đến nay đã xuống  
cấp, người dân không dám sử dụng trong  
những ngày mưa bão vì sợ sập (TĐC thủy  
điện Bản Vẽ - Nghệ An, Hàm Thuận - Bình  
Thuận)11.  
Một số khu TĐC đã có các công trình  
công cộng nhưng xuống cấp nghiêm trọng.  
Đặc biệt, đối với các công trình đường giao  
thông, nước sinh hoạt sau một thời gian ngắn  
sử dụng rất nhiều công trình đã hư hỏng. Chỉ  
có khoảng 47,0% người dân TĐC tiếp cận  
được nước sạch (gồm nước máy vào nhà,  
nước máy công cộng, giếng khoan và giếng  
đào), trong khi mức tiếp cận này ở các hộ  
ĐC là 62,0%. Các hộ TĐC chủ yếu dùng  
nước chảy từ các khe suối chiếm 45,3%,  
trong khi các hộ đối chứng dùng nhiều nhất  
là nước từ giếng đào 34,3%. Tình trạng thiếu  
nước nghiêm trọng nhất tại khu TĐC các  
công trình giao thông tại Bình Phước, hầu  
hết các giếng nước đào ở đây đã cạn nước,  
khu cấp nước tập trung cũng đã cạn và hư  
hỏng nghiêm trọng, người dân phải mua  
nước từ các xe chở nước và không đủ nước  
để cho sinh hoạt hàng ngày10.  
Mâu thuẫn trong cộng đồng cũng đang  
là vấn đề đặt ra đối với các khu TĐC, đặc  
biệt là tại các khu TĐC xen ghép, hay các  
khu TĐC mà cộng đồng TĐC sống gần các  
cộng đồng bản địa khác. Kết quả khảo sát  
Ngoài ra, nhà sinh hoạt động đồng cũng  
hư hỏng, nhiều khu bị bỏ hoang như tại thủy  
điện An Khê- Kanak Gia Lai.  
10 Nguồn: Khảo sát tại các tỉnh, 2018-2019.  
11 Nguồn: Khảo sát tại các tỉnh, 2018-2019.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
49  
Số 18 (418) - T9/2020  
CHÍNH SÁCH  
cho thấy, 13,1% hộ TĐC đánh giá các mâu  
thuẫn trong cộng đồng tăng hơn so với 5  
năm trước đây, trong khi hộ đối chứng chỉ  
8,5%12.  
nuôi, thủy sản mới phù hợp với từng địa  
phương; tăng cường các hoạt động khuyến  
nông bằng cách xây dựng các mô hình trình  
diễn về cây, con mới ở địa phương để người  
dân học hỏi và làm theo; (iii) ưu tiên cho các  
hộ TĐC tiếp cận nguồn vốn vay tín chấp  
hoặc vay theo chuỗi giá trị với lãi suất ưu  
đãi; ưu tiên cấp vốn vay ưu đãi cho các  
doanh nghiệp đầu tư sản xuất nông nghiệp,  
đặc biệt với các dự án có khả năng thu hút  
lao động từ các khu TĐC.  
f) Yếu kém trong xử lý ô nhiễm môi  
trường sống tại các khu, điểm TĐC  
Do khi thiết kế quy hoạch khu TĐC các  
chủ đầu tư đã không chú ý quy hoạch khu xử  
lý rác thải, thu gom nước thái sinh hoạt, sản  
xuất. Đến nay, tình trạng ô nhiêm môi trường  
đang rất phổ biến tại các khu TĐC, rác thải  
sinh hoạt, rác thải từ chăn nuôi thải trực tiếp  
ra môi trường gần khu dân cư gây ô nhiễm,  
gây nguy cơ dịch bệnh đối với cộng đồng  
(điển hình tại các khu TĐC của thủy điện  
Bản Vẽ - Nghệ An, thủy điện An Khê -  
Kanak Gia Lai). Ngoài ra, tình trạng thiếu  
nước sinh hoạt đang rất phổ biến ở nhiều khu  
TĐC cũng gây ảnh hưởng lớn tới việc giữ  
gìn vệ sinh môi trường sống tại các khu  
TĐC, đặc biệt ở một số khu như TĐC thủy  
điện Sơn La, thủy điện Bình Phước, thậm chí  
người dân phải mua nước sinh hoạt từ các xe  
téc với giá cao.  
b) Nâng cấp, sửa chữa cơ sở hạ tầng  
phục vụ cộng đồng và dịch vụ công  
Cần phải có chính sách, quy định để các  
địa phương lồng ghép việc sửa chữa nâng  
cấp các công trình cơ sở hạ tầng tại các khu  
TĐC với các chương trình lớn như Chương  
trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới.  
Ngoài ra, cần nghiên cứu xây dựng cơ chế  
để sử dụng nguồn kinh phí trích từ nguồn  
đóng góp hàng năm của các nhà máy thủy  
điện cho các địa phương cho việc đầu tư duy  
tu, sửa chữa các công trình cơ sở hạ tầng ở  
các khu TĐC.  
3. Một số giải pháp hoàn thiện chính sách  
Trên cơ sở kết quả khảo sát, chúng tôi  
kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện chính  
sách hậu TĐC đối với đồng bào dân tộc thiểu  
số ở các dự án thủy điện sau đây:  
c) Đào tạo nghề, chuyển đổi nghề  
nghiệp  
Để công tác đào tạo nghề đồng bào  
DTTS ở các khu, điểm TĐC hiệu quả, cần  
thực hiện một số các giải pháp sau:  
a) Hỗ trợ công tác giảm nghèo  
Thứ nhất, cần điều chỉnh bổ sung tăng  
kinh phí cho việc đào tạo nghề đối với đồng  
bào các dân tộc TĐC ở các công trình thủy  
điện trong các quyết định phê duyệt các công  
trình, dự án.  
Thứ hai, tăng cường đầu tư cơ sở vật  
chất, trang thiết bị cho các cơ sở đào tạo  
nghề trong vùng TĐC hoặc cơ sở có điều  
kiện phù hợp nhằm giúp cho học viên có  
Cần ưu tiên thực hiện các giải pháp sau  
để hỗ trợ giảm nghèo cho các khu TĐC: (i)  
tiếp tục rà soát, đẩy mạnh chính sách giao  
đất cho hộ DTTS, đặc biệt diện tích rừng do  
các đơn vị nhà nước đang quản lý, các công  
ty nông lâm nghiệp ở các địa phương; (ii) hỗ  
trợ phát triển sản xuất nông nghiệp (nghiên  
cứu thử nghiệm các loại giống cây trồng, vật  
12 Nguồn: Khảo sát tại các tỉnh, 2018-2019.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
50  
Số 18 (418) - T9/2020  
CHÍNH SÁCH  
điều kiện nắm bắt tốt những kiến thức đã học  
để áp dụng vào trong công việc tại nơi ở  
mới. Đồng thời, có chính sách đãi ngộ phù  
hợp để thu hút những giáo viên dạy nghề  
giỏi, có kinh nghiệm về công tác tại các cơ  
sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh.  
Thứ ba, đa dạng hóa loại hình đào tạo  
nghề cho phù hợp với lao động của đồng  
bào. Chẳng hạn như đối với đồng bào tại các  
điểm, khu TĐC cần có phương án hỗ trợ  
người dân khai thác tiềm năng nuôi trồng,  
đánh bắt thủy sản ở lòng hồ, hỗ trợ người  
dân TĐC chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát  
triển thương mại, dịch vụ… Đẩy mạnh đào  
tạo những nghề có thu nhập cao và nhu cầu  
xã hội đang cần như lao động tại các khu  
công nghiệp hay xuất khẩu lao động.  
truyền thông cho cộng đồng TĐC nhằm  
nâng cao nhận thức về môi trường sống,  
chăn nuôi cách xa khu dân cư, thu gom và  
xử lý rác thải sinh hoạt, rác thải chăn nuôi  
hợp vệ sinh; coi các khu TĐC là địa bàn ưu  
tiên trong thực hiện Chương trình mục tiêu  
quốc gia nông thôn mới để lồng ghép, vận  
dụng nguồn lực thực hiện.  
f) Xây dựng quỹ hỗ trợ người dân hậu  
TĐC  
Cần nghiên cứu thành lập quỹ hỗ trợ đầu  
tư sau TĐC, gọi là Quỹ TĐC, dùng để hỗ trợ  
ổn định đời sống, sản xuất cho người dân  
vùng TĐC và duy tu bảo dưỡng một số công  
trình giao cho cộng đồng quản lý. Nguồn  
kinh phí trích từ kinh phí đóng góp của nhà  
máy thủy điện cho địa phương hàng năm.  
4. Kết luận  
Thứ tư, đẩy mạnh công tác tuyên truyền,  
nâng cao nhận thức cho đồng bào trong việc  
định hướng nghề phù hợp với từng lứa tuổi,  
địa bàn... Tăng cường tự kiểm định chất  
lượng dạy nghề nhằm phát huy được nghề  
nghiệp đối với mỗi người sau khi học nghề.  
d) Bảo tồn, duy trì văn hóa cộng đồng  
và hỗ trợ hội nhập cộng đồng vùng TĐC  
Cần xây dựng và có kế hoạch bảo tồn  
các lễ hội, phong tục, tập quán của người dân  
các khu TĐC; các địa phương cần đưa vào  
kế hoạch hàng năm tổ chức các lễ hội văn  
hóa theo đặc thù của các dân tộc, huy động  
người dân tham gia để thúc đẩy giao lưu văn  
hóa giữa cộng đồng TĐC và cộng đồng  
người dân sở tại để giúp người dân TĐC  
nhanh chóng hòa nhập với địa phương; hỗ  
trợ cộng đồng người DTTS xây dựng nhà  
văn hóa cộng đồng theo đúng phong tục, tập  
quán, bằng các vật liệu như ở nơi ở cũ.  
e) Giải pháp bảo vệ môi trường sống  
Sau khi người dân chuyển về các khu  
TĐC, rất nhiều chính sách hỗ trợ người dân  
ổn định cuộc sống được thực hiện như: hỗ  
trợ sinh kế, trợ cấp lương thực, chuyển đổi  
nghề nghiệp và đào tạo nghề… Tuy nhiên,  
quá trình thực hiện được đánh giá là chưa  
hiệu quả, có rất nhiều chính sách thực hiện  
chậm như chính sách hỗ trợ đất sản xuất ở  
nhiều tỉnh (tỷ lệ giao đất chỉ đạt bình quân  
69%), chính sách đào tạo nghề không hiệu  
quả do ít người tham gia, chuyển đổi nghề  
nghiệp không thực hiện được do thiếu các  
công việc phí nông nghiệp cho người dân,  
trong khi các hoạt động nông nghiệp sản  
xuất nhỏ lẻ, năng suất thấp, không hiệu quả  
dẫn đến tỷ lệ nghèo tại các khu, điểm TĐC  
vẫn cao hơn so với bình quân chung của  
vùng DTTS và miền núi. Chính vì thế, trong  
thời gian tới cần phải thực hiện triệt để các  
giải pháp được đề xuất trong nghiên cứu này  
nhằm giải quyết những khó khăn trong phát  
triển kinh tế của hộ DTTS và giảm nghèo  
Bổ sung quy định về xây dựng các công  
trình xử lý ô nhiễm môi trường trong các dự  
án TĐC, xây dựng chương trình giáo dục  
bền vững  
n
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
51  
Số 18 (418) - T9/2020  
pdf 10 trang yennguyen 10840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chính sách hậu tái định cư đối với dân tộc thiểu số ở một số dự án thủy điện ở nước ta hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchinh_sach_hau_tai_dinh_cu_doi_voi_dan_toc_thieu_so_o_mot_so.pdf