Bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống dưới góc độ so sánh luật

BẢO HỘ NHÃN HIỆU PHI TRUYỀN THỐNG DƯỚI GÓC ĐỘ  
SO SÁNH LUẬT  
Lê Nguyên Hạnh  
Khoa Luật, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh  
GVHD: ThS. Nguyễn Chí Thắng  
TÓM TẮT  
Nhãn hiệu phi truyền thống, cũng giống như những loại nhãn hiệu truyền thống khác, để có thể  
bảo hộ loại nhãn hiệu này cũng cần xây dựng quy định về điều kiện bảo hộ riêng biệt. Trên thế giới,  
khái niệm nhãn hiệu phi truyền thống không còn xa lạ, rất nhiều quốc gia đã sớm có quy định riêng  
để bảo hộ loại nhãn hiệu đặc biệt này. Bài viết dưới đây nêu ra và phân tích, so sánh quy định về  
điều kiện bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống của một số nước trên thế giới, cùng với nhu cầu cấp  
thiết bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống ở Việt Nam. Từ đó người viết kiến nghị các nhà làm luật Việt  
Nam có thể tham khảo, xem xét để có thể ban hành quy định cụ thể để bảo hộ cho loại nhãn hiệu  
đặc biệt trên.  
Từ khóa: Điều kiện bảo hộ, điều kiện bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống, khả năng phân biệt,  
nhãn hiệu phi truyền thống, nhãn hiệu.  
1 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU PHI TRUYỀN THỐNG Ở MỘT  
SỐ QUỐC GIA  
Trong quá khứ, nhãn hiệu bị giới hạn bởi chữ cái, từ ngữ, hình ảnh, hình ba chiều hoặc sự kết hợp  
của các yếu tố trên. Sự giới hạn này có thể thấy rõ trong quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ,  
theo khoản Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2009 thì điều đầu tiên để một nhãn hiệu được  
bảo hộ đó là phải ‚là dấu hiệu nhìn thấy được‛ hay trong Luật Nhãn hiệu hiện hành của Malaysia  
[4] cũng không hề đề cập đến các loại nhãn hiệu không nhìn thấy được. Theo thời gian, phạm vi để  
một dấu hiệu có thể được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu ngày càng được mở rộng, những dấu hiệu  
này có thể là âm thanh, mùi hương, hương vị, một đoạn video,… Rất nhiều quốc gia trên thế giới  
đã công nhận bảo hộ cho những loại dấu hiệu này, như định nghĩa về nhãn hiệu âm thanh trong  
Luật Nhãn hiệu Hoa Kỳ, Luật Nhãn hiệu Úc năm 1995. Từ đó xuất hiện các khái niệm nhãn hiệu âm  
thanh, nhãn hiệu mùi hương, nhãn hiệu chuyển động,… và được gọi chung là nhãn hiệu phi truyền  
thống (Non-conventional marks/Non-traditional marks) hay nhãn hiệu cảm giác (sensory mark). Vì  
độ dài của bài viết có hạn nên tác giả chỉ đi sâu phân tích chủ yêu là hai loại nhãn hiệu âm thanh  
và nhãn hiệu mùi hương, đây là hai loại nhãn hiệu phi truyền thống mà Việt Nam đang xem xét để  
xây dựng cơ chế bảo hộ.  
Nếu như nhãn hiệu truyền thống có đặc điểm chính là những dấu hiệu nhìn thấy được, thì đa số  
nhãn hiệu phi truyền thống lại có đặc điểm là những dấu hiệu không nhận biết được bằng thị  
1585  
giác. Chính vì đặc điểm này mà các điều kiện để được bảo hộ của nhãn hiệu phi truyền thống là  
rất đặc biệt.  
Thứ nhất, trong pháp luật về nhãn hiệu của đa số các quốc gia, điều kiện tiên quyết để một nhãn  
hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu phải có tính phân biệt. Điều kiện này là điều hiển nhiên bởi chức  
năng chính của nhãn hiệu là để phân biệt hàng hóa/dịch vụ của các nhà cung cấp khác nhau,  
giúp người tiêu dùng ghi nhớ và nhận biết được sản phẩm/dịch vụ đó được cung cấp bởi nhà cung  
cấp nào. Nhưng đối với nhãn hiệu phi truyền thống, việc xác định khả năng phân biệt của nhãn  
hiệu là khá phức tạp, vì nhiều nhãn hiệu phi truyền thống đa số không thể nhận biết bằng thị giác.  
Khác với các loại nhãn hiệu truyền thống, có thể nhận biết thông qua thị giác, nhãn hiệu truyền  
thống khi được xem xét trong quá trình thẩm định thì chỉ cần không phải là những dấu hiệu bị pháp  
luật cấm hoặc hạn chế sử dụng hoặc không thuộc trường hợp bị coi là không có khả năng phân  
biệt thì có thể được bảo hộ. Còn đối với nhãn hiệu phi truyền thống, khả năng phân biệt của chúng  
được thể hiện qua việc người tiêu dùng khi tiếp xúc với nhãn hiệu phi truyền thống đó có liền liên  
tưởng và nhận biết được nhà cung cấp là chủ sở hữu nhãn hiệu hay không. Vì vậy thông thường,  
chủ sở hữu nhãn hiệu phi truyền thống thường phải đầu tư vào việc quảng cáo, tuyên truyền cho  
các dấu hiệu đó đủ để người tiêu dùng quen và liên tưởng, nhận biết, phân biệt về nguồn gốc  
thương mại của sản phẩm/dịch vụ đó.  
Theo Luật Nhãn hiệu Hoa Kỳ, trong vụ Gen. Electric Broad. Co., 199 USPQ 560, 563 (TTAB 1978) Ủy  
ban giải quyết khiếu nại về nhãn hiệu (Trademark Trial and Appeal Board - TTAB) cho rằng nhãn  
hiệu âm thanh có thể được đăng ký theo Nguyên tắc đăng ký nếu chúng ‚ngẫu nhiên, độc đáo  
hoặc có khả năng phân biệt và có thể sử dụng để đi vào nhận thức của người nghe và khi lặp lại  
người nghe nhận biết rằng âm thanh đó đến từ sản phẩm hoặc dịch vụ nào, thậm chí kể cả khi sản  
phẩm/dịch vụ bị ẩn danh hoặc ẩn nguồn gốc‛[6]; trong vụ Vertex Grp. LLC, 89 USPQ (The United  
States Patents Quarterly) 2d 1694, 1700 (TTAB 2009) hội đồng xét xử nhận định dấu hiệu âm thanh  
bao gồm một đoạn âm thanh hoặc sự kết hợp của các loại âm thanh hoặc nốt nhạc, có thể có  
hoặc không có từ ngữ, hoặc âm thanh đi kèm với từ ngữ [6]. TTAB trong vụ General Electric  
Broadcasting Company, Inc., 199 USPQ 560 (TTAB 1978) cho rằng khả năng phân biệt của nhãn  
hiệu âm thanh được chia thành hai loại: một là nhãn hiệu âm thanh có tính phân biệt cố hữu (khả  
năng phân biệt tự thân), tức là nhãn hiệu này tự bản thân nó đã có khả năng phân biệt mà không  
cần bất cứ một sự chứng minh nào đến từ khả năng nhận biết hay liên tưởng của người tiêu dùng;  
ngược lại, nhãn hiệu không có tính phân biệt cố hữu bắt buộc phải chứng minh khả năng phân biệt  
của nó thông qua quá trình sử dụng mới có thể được bảo hộ. Tương tự như nhãn hiệu truyền thống,  
trường hợp một nhãn hiệu âm thanh bị từ chối có thể trên cơ sở tương đối, tuyệt đối [21]. Nhãn hiệu  
âm thanh bị từ chối tuyệt đối khi có chứa dấu hiệu bị loại trừ, không có khả năng phân biệt hoặc  
mang tính chức năng (tính mô tả). Nhãn hiệu âm thanh bị từ chối tương đối khi nhãn hiệu đó trùng  
hoặc tương tự với nhãn hiệu đã được đăng ký/được bảo hộ trước đó. Giống như trường hợp một  
thiết kế nhãn hiệu vừa có thể đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nhiệp đối với nhãn hiệu, vừa có  
thể đăng ký bảo hộ quyền tác giả dưới dạng tác phẩm mỹ thuật; nhãn hiệu âm thanh cũng có thể  
được bảo hộ quyền tác giả dưới dạng tác phẩm âm nhạc nên có trường hợp nhãn hiệu âm thanh  
cũng có thể trùng hoặc tương tự với một tác phẩm âm nhạc/một đoạn trong tác phẩm âm nhạc.  
1586  
Một nhãn hiệu âm thanh được gọi là Nokia Tune, thuộc sở hữu của Tập đoàn Nokia được bảo hộ  
bởi USPTO có số bằng 2413729 là một trường hợp đặc biệt, thực chất giai điệu này được trích từ một  
tác phẩm độc tấu guitar Grande Valse của Francisco Tarrega được viết vào năm 1902 [17]. Hay  
đoạn nhạc ‚Looney Tunes Theme Song‛ dù trước đó đã được bảo hộ dước dạng tác phẩm âm nhạc  
nhưng vẫn tiếp tục được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu âm thanh và được USPTO bảo hộ. [18]  
Khi âm nhạc được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu sẽ tạo ra nhiều lợi ích hơn cho tác giả, bởi nếu  
được gia hạn liên tục thì nhãn hiệu có thể được bảo hộ vô thời hạn, trong khi đó việc bảo hộ quyền  
tác giả đối với tác phẩm lại chỉ nằm trong một khoảng thời gian nhất định (theo điểm b khoản 2  
Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành của Việt Nam thì thời hạn đó là suốt cuộc đời tác giả và 50  
năm sau khi tác giả chết), khiến cho tính thương mại của tác phẩm âm nhạc trở nên cao hơn. Luật  
nhãn hiệu của Ấn Độ năm 2017 còn quy định cụ thể nhãn hiệu âm thanh được chứa trong tệp MP3  
và phải có độ dài không quá 30 giây. [7]  
Trong quy định về mô tả nhãn hiệu khi đăng ký bảo hộ của các quốc gia, nhãn hiệu âm thanh  
thường được mô tả dựa trên một khuôn nhạc gồm các ký hiệu âm nhạc để xác định giai điệu của  
âm thanh đó, các tệp MP3, CD, DVD, các phương tiện cho phép phát lại âm thanh, có thể hiện đồ  
họa và thời lượng của âm thanh [14]; hay một bản biểu diễn đồ họa của âm thanh thể hiện các tần  
số của âm lượng [8,Tr.9]. Tất cả các quy định trên chủ yếu giúp cho thẩm định viên có thể thẩm định  
được nhãn hiệu âm thanh và cũng dễ dàng hơn cho việc công bố nhãn hiệu trong quá trình thẩm  
định âm thanh.  
Với nhãn hiệu mùi hương, việc đánh giá khả năng phân biệt cũng tương tự nhãn hiệu âm thanh,  
điểm khác là nhãn hiệu mùi hương giúp người tiêu dùng phân biệt nguồn gốc thương mại của sản  
phẩm thông qua khứu giác. Quy định về nhãn hiệu mùi hương của Úc quy định cụ thể những loại  
mùi hương được cho là không có khả năng phân biệt, như: mùi hương tự nhiên của sản phẩm (là  
mùi hương mang tính thiết yếu, tính chức năng của sản phẩm như mùi gỗ với sản phẩm gỗ, mùi  
cao su với lốp xe,…); mùi hương che dấu mùi tự nhiên của sản phẩm (mùi chanh cho sản phẩm  
nước rửa chén); mùi hương phổ biến trong hoạt động thương mại (mùi hương mà người tiêu dùng  
nhận biết đó là mùi đương nhiên của sản phẩm do hầu hết các nhà sản xuất đề sử dụng mùi  
hương đó cho sản phẩm cùng loại, không để lại ấn tượng cho người tiêu dùng). [15]  
Thứ hai, một điều kiện nữa để nhãn hiệu phi truyền thống được bảo hộ là phải có tính phi chức  
năng. Dấu hiệu mang tính chức năng, ví dụ như âm thanh của hàng hóa tạo ra trong qua trình  
hoạt động, các sản phẩm/dịch vụ cùng loại buộc phải sử dụng dấu hiệu mang tính chức năng đó,  
như vậy dấu hiệu này đương nhiên mất đi tính phân biệt cố hữu. Ví dụ: âm thanh của máy cưa điện  
dùng cho dịch vụ đốn chặt cây hay sản xuất máy cửa điện; tiếng gia cầm kêu dùng cho ngành sản  
xuất thức ăn gia cầm, sản xuất thịt gia cầm; âm thanh ‚ping‛ của lò vi ba khi kết thúc quá trình làm  
nóng, người tiêu dùng nhận biết âm thanh đó là âm thanh của lò vi ba chứ không phải sử dụng âm  
thanh đó để nhận biết sản phẩm đó đến từ nhà cung ứng/nhà sản xuất nào. Tương tự, với nhãn  
hiệu mùi hương, trong khi thẩm định nhãn hiệu ‚mùi hoa đại‛ (số văn bằng 1639128, chủ sở hữu là  
CLARKE, CELIA) USPTO ban đầu từ chối bảo hộ nhãn hiệu vì cho rằng mùi hoa đại không chỉ ra được  
nguồn gốc thương mại của chủ đơn và mùi hương chỉ là chức năng của sản phẩm. Tuy nhiên, sau  
1587  
đó chủ đơn đã kháng cáo và chứng minh rằng không có công ty nào trước đó sản xuất ra loại vả có  
mùi hương hoa đại và mùi hương này tạo nên một lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm của họ, người  
tiêu dùng có thể nhận biết nguồn gốc thương mại của sản phẩm dựa trên mùi hương này. Sau đó,  
Hội đồng kháng cáo Hoa Kỳ (TTAB) đã công nhận và chấp thuận bảo hộ cho nhãn hiệu mùi hương  
này [12] Qua quyết định trên của Hội đồng kháng cáo Hoa Kỳ, có thể cho thấy, nhãn hiệu mùi  
hương có thể được bảo hộ khi mùi hương không phải là một thuộc tính vốn có hoặc tính tự nhiên  
của sản phẩm mà phải là một đặc điểm riêng biệt được tạo ra bởi chủ sở hữu của sản phẩm đó,  
tính phi chức năng cũng loại trừ việc sử dụng nhãn hiệu của các đối thủ cạnh tranh khác và tạo nên  
tính phân biệt của sản phẩm/dịch vụ.  
Đối với nhãn hiệu mùi hương, vì tính chất không lưu giữ được mùi hương lâu và mỗi người có một  
cảm nhận khác nhau về mùi hương, nên việc miêu tả loại nhãn hiệu này để thẩm định khi nộp đơn  
hay đăng bạ công khai nhãn hiệu là điều không hề đơn giản. Theo quy định về nhãn hiệu của Úc,  
khi nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu mùi hương phải nộp kèm theo bản đồ họa thể hiện nhãn  
hiệu hoặc một bản mô tả bằng văn bản, có thể nộp kèm một mẫu thử của mùi hương, bản mô tả  
ngoài việc miêu tả mùi hương còn phải thể hiện loại sản phẩm/dịch vụ nào mang mùi hương đó và  
mục đích sử dụng của loại hàng hóa đó. [15]  
Có rất nhiều nhãn hiệu phi truyền thống khác được bảo hộ trên thế giới: Nhãn hiệu chuyển động  
(movement trade mark) là một đoạn video ngắn và những yếu tố trong video có sự chuyển động. Ví  
dụ: nhãn hiệu cú nhảy của Toyota chỉ dài 02 giây được bảo hộ tại Úc có số văn bằng là 1676600 [2]  
là một đoạn video thể hiện bóng của một người phụ nữ nhảy trong không trung, hai tay của cô gái  
giơ cao lên hơn đầu và chân cũng nhảy cao cùng lúc; đoạn video hình quả bóng tròn màu đỏ lắc  
tay và chân của Công ty Mars Australia Pty Ltd cũng được bảo hộ tại Úc, có số văn bằng là 919012  
[3]. Nhãn hiệu mùi hương đầu tiên được bảo hộ ở Mỹ vào năm 1990 theo quyết định của Hội đồng  
xét xử và kháng cáo nhãn hiệu Hòa Kỳ (TTAB) trong vụ In Re Clarke, nhãn hiệu mùi hương này được  
miêu tả là ‚nhãn hiệu có tác động lớn, tươi mát, hương hoa gợi nhớ đến hương thơm của hoa đại‛  
[18]. Nhãn hiệu âm thanh đầu tiên được bảo hộ trên thế giới là nhãn hiệu ‚3 hồi chuông‛ (số bằng  
916522) của Đài NBC từ năm 1971 cho dịch vụ phát thanh tại Hoa Kỳ [19]. Nhãn hiệu mùi hương, nổi  
tiếng với án lệ New York Pizzeria, Inc vs Syal et al về hương vị pizza, cũng có rất nhiều đơn đăng ký  
nhãn hiệu hương vị được gửi tới Văn phòng Sở hữu trí tuệ Châu Âu (European Union Intellectual  
Property Office – EUIPO) và Văn phòng sáng chế và nhãn hiệu Mỹ (the United States Patent And  
Trademark Office – USPTO), nhưng cho đến ngày 29 tháng 05 năm 2019 vẫn chưa có nhãn hiệu  
hương vị nào được chấp nhận bảo hộ trên thế giới.  
2 THỰC TRẠNG BẢO HỘ NHÃN HIỆU PHI TRUYỀN THỐNG TẠI VIỆT NAM  
Tháng 3 năm 2018, Việt Nam tham gia ký kết Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái  
Bình Dương (CPTPP), trong đó Điều 18 của Hiệp định này yêu cầu các nước thành viên phải thừa  
nhận bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và khuyến khích bảo hộ nhãn hiệu mùi hương. Tuy nhiên, cho  
đến lần sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ gần đây nhất vào ngày 14 tháng 06 năm 2019 [9] thì Việt Nam  
vẫn chưa thừa nhận bảo hộ bất cứ một loại nhãn hiệu phi truyền thống nào.  
1588  
Cũng như các quốc gia khác, nhu cầu đăng ký bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống tại Việt Nam  
cũng phát sinh. Các doanh nghiệp trong nước như: Công ty Cổ phần sữa Việt Nam trong nhiều  
quảng cáo, cuối mỗi đoạn quảng cáo đều có giọng nữ cao đọc ‚Vinamilk‛ đi kèm với hình nhãn  
hiệu Vinamilk có hình ngôi sao trắng chạy dọc đường elip, hay đoạn âm thanh ‚Viettel hãy nói theo  
cách của bạn‛ của Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel thường xuyên xuất hiện trên các quảng  
cáo của tập đoàn này. Đoạn âm thanh đọc ‚Vinamilk‛, ‚Viettel hãy nói theo cách của bạn‛ có thể  
được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu âm thanh, hình ảnh ngôi sao chuyển động tròn theo hình elip  
của Vinamilk có thể được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu chuyển động theo quy định về nhãn hiệu  
của một số nước như tác giả có phân tích ở trên. Trên thị trường Việt Nam rất nhiều sản phẩm của  
Nokia được bán ra, nhưng nhãn hiệu âm thanh Nokia Tune không được thừa nhận và bảo hộ tại  
Việt Nam do không có quy định về loại nhãn hiệu âm thanh, dẫn đến tình trạng nhãn hiệu này bị  
rất nhiều chủ thể xâm phạm mà không thể xử lý. Qua đó, nhận thấy không chỉ các doanh nghiệp  
trong nước mà các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào thị trường Việt Nam cũng đều có nhu  
cầu bảo hộ các nhãn hiệu phi truyền thống.  
3 KẾT LUẬN  
Từ thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống của các quốc gia trên thế giới cho thấy, việc thừa  
nhận bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống là không khó, nhưng việc thẩm định để xác lập bảo hộ đối  
với những loại nhãn hiệu này là không dễ dàng, đặc biệt là đối với Việt Nam, khi khoa học công  
nghệ của nước ta đang trong giai đoạn đang phát triển, việc nộp đơn đăng ký bảo hộ online đối với  
nhãn hiệu truyền thống cũng mới được đưa vào vận hành, website cũng chỉ ở cấp độ 3. Nhưng  
bước đầu pháp luật vẫn cần đưa ra nhưng quy định đề thừa nhận xem xét bảo hộ đối với những  
loại nhãn hiệu phi truyền thống, dần dần bổ sung các quy định về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh,  
nhãn hiệu mùi hương để phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập.  
Về điều kiện bảo hộ, nên quy định xem xét bảo hộ đối với những dấu hiệu không nhìn thấy được.  
Quy định về điều kiện bảo hộ của nhãn hiệu của một số quốc gia như tác giả nêu ở phần trên cho  
thấy điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu phi truyền thống cũng khá giống với quy định về điều kiện  
bảo hộ nhãn hiệu của Việt Nam. Cũng là hai đặc tính cơ bản mà nhãn hiệu nói chung bắt buộc  
phải có, đó là: tính phân biệt của nhãn hiệu và tính phi chức năng (đối với quy định về bảo hộ nhãn  
hiệu ở Việt Nam hiện hành thì có thể tương tự với tính chất không mang tính mô tả, chỉ chủng loại,  
chữ/số đơn giản,…). Cũng có thể quy định nghĩa vụ chứng minh dấu hiệu được đăng ký bảo hộ có  
khả năng phân biệt và khả năng phi chức năng cho chủ đơn đăng ký nhãn hiệu để giảm bớt gánh  
nặng đối với cơ quan nhà nước, cụ thể là thẩm định viên thẩm định nhãn hiệu. Hay nâng cao  
quyền phản đối đơn đăng ký nhãn hiệu của bên thứ ba bằng cách tăng thời gian công bố nhãn  
hiệu, phát triển đa dạng hơn hình thức công bố nhãn hiệu (không chỉ trên Công báo sở hữu công  
nghiệp mà còn trên các trang thông tin điện tử khác) giảm đáng kể khả năng trùng hoặc tương tự  
nhãn hiệu.  
Về tài liệu cần cung cấp khi nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, nên cho phép cung cấp nhãn hiệu  
dưới dạng bản đồ họa, file mềm hoặc bất cứ hình thức nào có thể thể hiện rõ ràng, chính xác nhất  
nhãn hiệu để thẩm định viên có thể đánh giá nhãn hiệu một cách chính xác nhất. Ngoài ra, việc  
1589  
thẩm định nhãn hiệu phi truyền thống cần có những người có chuyên môn cao về lĩnh vực của dấu  
hiệu đó, thẩm định dấu hiệu âm thanh cần người thẩm âm tốt, chính vì thế việc đào tạo, lựa chọn  
những người có đủ năng lực để thẩm định những loại nhãn hiệu này là vô cùng quan trọng. Cuối  
cùng là cần hệ thống dữ hiệu đồng bộ, để có thể đánh giá chính xác khả năng bảo hộ của nhãn  
hiệu cũng như công bố nhãn hiệu.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
Act 815 Trademark Act 2019 Law of Malaysia.  
[2]  
Australian Government, IP Australia, Australian Trade Mark Search  
marks/other-types-trade-marks  
[3]  
Australian Government, IP Australia, Australian Trade Mark Search  
ae95-27f2249fa34d  
[4]  
[5]  
[6]  
truy cập ngày 25 tháng 05 năm 2020.  
Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, NXB Chính trị quốc gia  
Sự thật.  
Nguyên văn: ‚arbitrary, unique or distinctive and can be used in a manner so as to attach to  
the mind of the listener and be awakened on later hearing in a way that would indicate for  
the listener that a particular product or service was coming from a particular, even if  
1200d1e2927.html  
[7]  
[8]  
Nguyên văn: ‚the registration of the trademark consists of a sound as a trademark, the  
reproduction of the same shall be submitted in the MP3 format not exceeding thirty seconds’  
length recorded on a medium which allows for easy ang clearly audible replaying  
accomplained with a graphical representation of its notations.‛ Rule 26(5) of the Trade Marks  
Rules, 2017.  
Phòng Sở hữu trí tuệ Liên minh châu Âu (EUIPO), 2017, Hướng dẫn kiểm tra nhãn hiệu của liên  
web/secure/webdav/guest/document_library/contentPdfs/law_and_practice/trade_marks_  
practice_ma nual/WP_2_2017/Part-B/04-  
part_b_examination_section_4_absolute_grounds_for_refusal/part_B_examination_section_  
4_chapt er_2/part_B_examination_section_4_chapter_2_EUTM%20definition_en.pdf  
[9]  
Quốc hội, 2019, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở  
hữu trí tuệ số 42/2019/QH14.  
[10] Trade Marks Office Manual of Practice and Trademarks Rules 2017 of India.  
1590  
[11] TTAB - Trademark Trial and Appeal Board - *1 IN RE CELIA CLARKE, DBA CLARKE'S OSEWEZ  
trial-and-appeal-board-1-re-celia-clarke-dba-clarkes-osewez-serial-no-758429  
[12] Văn phòng sáng chế và nhãn hiệu Mỹ (USPTO), 2018, Sổ tay hướng dẫn và kiểm tra nhãn  
hiệu.  
[13] (Trademark Manual of Examining Procedure-  
cập ngày 25 tháng 5 năm 2020.  
[14] Văn phòng sáng chế và nhãn hiệu Mỹ (USPTO), 2018, Sổ tay hướng dẫn và kiểm tra nhãn  
hiệu (Trademark Manual of Examining Procedure-TMEP)  
traditional_Signs/21.6_Sound_(auditory)_trade_marks.htm  
[15] Văn phòng sáng chế và nhãn hiệu Mỹ (USPTO), 2018, Sổ tay hướng dẫn và kiểm tra nhãn  
hiệu (Trademark Manual of Examining Procedure-TMEP)  
traditional_Signs/21.7_Scent_trade_marks.htm  
[16] Văn phòng sáng chế và nhãn hiệu Mỹ (USPTO), Hệ thống tra cứu tình trạng nhãn hiệu là truy  
xuất tài liệu về nhãn hiệu của Mỹ (Trademark Status & Document Retrieval-TSDR)  
=DE FAULT&searchType=statusSearch  
[17] Văn phòng sáng chế và nhãn hiệu Mỹ (USPTO), Hệ thống tra cứu tình trạng nhãn hiệu là truy  
xuất tài liệu về nhãn hiệu của Mỹ (Trademark Status & Document Retrieval-  
eTy pe=DEFAULT&searchType=statusSearch  
[18] Văn phòng sáng chế và nhãn hiệu Mỹ (USPTO), Hệ thống tra cứu tình trạng nhãn hiệu là truy  
xuất tài liệu về nhãn hiệu của Mỹ (Trademark Status & Document Retrieval-TSDR). Nguyên  
văn: ‚The mark is a high impact, fresh, floral fragrance reminiscent of plumeria blossoms‛  
e=D EFAULT&searchType=statusSearch  
[19] Văn phòng sáng chế và nhãn hiệu Mỹ (USPTO), Hệ thống tra cứu tình trạng nhãn hiệu là truy  
xuất tài liệu về nhãn hiệu của Mỹ (Trademark Status & Document Retrieval-TSDR)  
DEF AULT&searchType=statusSearch  
[20] Văn phòng sáng chế và nhãn hiệu Mỹ (USPTO), Registration  
process/filing-online/registration-maintenancerenewalcorrection-forms truy cập ngày 25  
tháng 05 năm 2020.  
1591  
pdf 7 trang yennguyen 9260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống dưới góc độ so sánh luật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_ho_nhan_hieu_phi_truyen_thong_duoi_goc_do_so_sanh_luat.pdf