Trách nhiệm của ASEAN với các vấn đề an ninh khu vực: Góc nhìn của luật pháp quốc tế

Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):999-1007  
Bài tham luận  
Open Access Full Text Article  
Trách nhiệm của ASEAN với các vấn đề an ninh khu vực: góc nhìn  
của luật pháp quốc tế  
Phạm Ngọc Minh Trang*  
TÓM TẮT  
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (tên gọi tắt là ASEAN) sau hơn 50 năm hình thành và phát triển  
đã dần khẳng định ví trí của mình trong hệ thống quốc tế. Tổ chức quốc tế lâu đời nhất và lớn  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
nhất khu vực Đông Nam Á này được dự đoán rằng sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trên thế giới  
trong năm 2020. Bên cạnh vấn đề phát triển kinh tế cho khu vực, ASEAN cũng chú trọng các mục  
tiêu chính trị, trong đó nổi bật nhất là mục tiêu bảo đảm hoà bình, an ninh và ổn định trong khu  
vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, mục tiêu này chính là nơi ASEAN hứng chịu nhiều chỉ trích, đặt biệt là  
khi nhắc đến các vấn đề về tranh chấp biển Đông và khủng hoảng người tị nạn Rohingya. Các chỉ  
trích cho rằng ASEAN đã không thật sự hoạt động hiệu quả hay chưa có một nỗ lực đáng ghi nhận  
trong các vấn đề này. Thậm chí, Simon Chesterman, Trưởng Khoa Luật đại học quốc gia Singapore,  
đã đặt câu hỏi: "ASEAN có tồn tại hay không?". Để trả lời câu hỏi khá bao quát này, bài viết sẽ xem  
xét tư cách pháp lý của ASEAN trong hệ thống pháp luật quốc tế. Đây là cơ sở để khẳng định sự  
tồn tại như một chủ thể độc lập của ASEAN so với các quốc gia thành viên. Sau đó, bài viết sẽ xác  
định quyền năng pháp lý của ASEAN đối với an ninh khu vực để chứng minh rằng trước luật pháp  
quốc tế ASEAN thực sự có trách nhiệm trong việc giải quyết các xung đột trong khu vực.  
Từ khoá: ASEAN, an ninh khu vực, vai trò pháp lý  
các quốc gia thành viên ASEAN chấp nhận các cuộc  
gặp mặt và đối thoại song phương một cách riêng lẻ  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Năm 2020 đánh dấu cột mốc 53 năm hình thành và  
với Trung Quốc, điển hình là Campuchia, lựa chọn  
phát triển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á  
duy trì quan hệ với Trung Quốc vì lo sợ bất lợi đối với  
(ASEAN). Đây là tổ chức quốc tế lâu đời và lớn nhất  
cá nhân quốc gia hơn là sự thống nhất chung của toàn  
tại khu vực này với tất cả 10 nước thành viên, bao gồm  
Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myan-  
khối ASEAN [4, tr. 34-39]. Đáng thất vọng nhất đó  
Trường Đại học Khoa học Xã hội và  
Nhân văn, ĐHQG-HCM,Việt Nam  
là việc ASEAN đã không đưa ra được một tuyên bố  
chung về Phán quyết của Toà trọng tài quốc tế trong  
vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc5.  
mar, Philippines, Singapore, ái Lan và Việt Nam.  
Đến năm 2020, theo dự báo của Diễn đàn kinh tế thế  
giới (WEF), ASEAN rất có thể sẽ trở thành nền kinh  
tế lớn thứ 5 toàn cầu1. Bên cạnh các mục tiêu phát  
triển về kinh tế, ASEAN còn là một tổ chức chính trị  
quan trọng tại khu vực với tham vọng giữ gìn nền hoà  
bình và an ninh Đông Nam Á2. Tuy nhiên, với vai trò  
này ASEAN đang hứng chịu nhiều chỉ trích, đặc biệt  
là khi đề cập vấn đề nổi bật tại khu vực là các tranh  
chấp ở biển Đông.  
Đối với vấn đề tranh chấp dai dẳng và ngày càng phức  
tạp tại Biển Đông, đa số các nhà bình luận cho rằng  
ASEAN đã không hoạt động hiệu quả khi sự đoàn  
kết nội bộ bị lung lay. Rizal Sukma – giám đốc điều  
hành Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế  
(CSIS) Indonesia- cho rằng việc không đưa ra được  
một ông cáo chung tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại  
giao lần thứ 45 của ASEAN là dấu hiệu cho thấy  
những bất đồng của các nước thành viên về vấn đề  
Biển Đông3. Sự thiếu đoàn kết nội bộ thể hiện ở chỗ  
Liên hệ  
Phạm Ngọc Minh Trang, Trường Đại học  
Khoa học Xã hội và Nhân văn,  
ĐHQG-HCM,Việt Nam  
Từ những thực tế trên cho thấy sự thụ động, phân  
tán và thiếu hiệu quả của ASEAN trong việc đối phó  
với các vấn đề an ninh của khu vực. ậm chí, Si-  
mon Chesterman, Trưởng Khoa Luật đại học quốc  
gia Singapore, đã đặt câu hỏi: “ASEAN có tồn tại hay  
không?” [6, tr.83]. Để trả lời câu hỏi khá bao quát  
này, bài viết sẽ xem xét tư cách pháp lý của ASEAN  
trong hệ thống pháp luật quốc tế. Đây là cơ sở để  
khẳng định sự tồn tại như một chủ thể độc lập của  
ASEAN so với các quốc gia thành viên. Sau đó, bài  
viết sẽ xác định quyền năng pháp lý của ASEAN đối  
với an ninh khu vực để chứng minh rằng trước luật  
pháp quốc tế ASEAN có trách nhiệm trong việc giải  
quyết các xung đột trong khu vực.  
Email: pnminhtrangfi[email protected].vn  
Lịch sử  
• Ngày nhận: 18/01/2021  
• Ngày chấp nhận: 11/5/2021  
• Ngày đăng: 13/5/2021  
DOI : 10.32508/stdjssh.v5i2.625  
Bản quyền  
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố  
mở được phát hành theo các điều khoản của  
the Creative Commons Attribution 4.0  
International license.  
TƯ CÁCH PHÁP LÝ CỦA ASEAN  
Trích dẫn bài báo này: Trang P N M. Trách nhiệm của ASEAN với các vấn đề an ninh khu vực: góc nhìn  
của luật pháp quốc tế . Sci. Tech. Dev. J. - Soc. Sci. Hum.; 5(2):999-1007.  
999  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):999-1007  
các tổ chức mà trong các hiệp ước thành lập hay hiến  
chương của nó không đề cập đến điều này. Điển hình  
là trong Hiến chương Liên hiệp quốc không hề nhắc  
đến việc tổ chức này có tư cách pháp lý hay không.  
Tuy nhiên, trong ý kiến tư vấn pháp lý của mình ở vụ  
việc Trách nhiệm bồi thường của Liên hiệp quốc, Toà  
án công lý quốc tế (ICJ) đã khẳng định tư cách pháp  
lý của Liên hiệp quốc như sau:  
Lý thuyết về Tư cách pháp lý của Tổ chức  
quốc tế  
Tư cách pháp lý quốc tế của một tổ chức quốc tế là  
điều kiện tiên quyết làm phát sinh quyền và nghĩa vụ  
của tổ chức quốc tế (tách biệt so với quyền và nghĩa vụ  
của các thành viên), và đi kèm theo đó còn là quyền  
được khởi kiện các chủ thể khác hoặc bị khởi kiện ra  
các toà án quốc tế7. Đặc biệt theo điều 2 của Dự thảo  
về Trách nhiệm pháp lý của Tổ chức quốc tế năm 2011  
(2011 Draꢀ Articles on the Responsibilities of Inter-  
national Organizations, viết tắt DARIO 2011), một tổ  
chức quốc tế muốn tồn tại độc lập trong hệ thống pháp  
luật quốc tế cần phải làm rõ tư cách pháp lý này.  
Việc xác định tư cách pháp lý của một tổ chức quốc  
tế chưa bao giờ là một điều dễ dàng. Các học giả hiện  
tại cũng đưa ra nhiều học thuyết khác nhau để giúp  
chứng minh sự tồn tại của yếu tố luật học này của các  
“eo ý kiến của Toà, Tổ chức (Liên hiệp quốc) đã  
được trù định cho việc thực hiện và thụ hưởng, và  
trên thực tế đã đang thực hiện và thụ hưởng các chức  
năng và quyền mà chỉ có thể được lý giải trên cơ sở  
của việc sở hữu […] tư cách pháp lý quốc tế và năng  
lực để có thể hoạt động trong lĩnh vực quốc tế. Hiện  
tại đây là loại hình tối cao của tổ chức quốc tế, và nó  
không thể nào thực hiện các ý định của các nhà sáng  
lập nếu như nó không sở hữu tư cách pháp lý quốc  
tế. Cần phải nhận thức rằng các thành viên của nó  
bằng việc giao phó những chức năng nhất định và với  
các nhiệm vụ và trách nhiệm kèm theo đã trao cho nó  
các quyền năng cần thiết để thực hiện hiệu quả các  
nhiệm vụ này… Từ đó, Toà đi đến kết luận rằng Tổ  
tổ chức quốc tế8–10  
.
Hiện nay tạm thời có 2 lý thuyết nổi bật bàn về vấn đề  
này, tuy nhiên, có thể nói nội hàm của 2 học thuyết  
này là đối nghịch lẫn nhau. Học thuyết đầu tiên nhấn  
mạnh về ý chí của các quốc gia khi thành lập các tổ  
chức quốc tế (‘Will theory’). Học thuyết này cho rằng  
việc xác định tư cách pháp lý của một tổ chức quốc tế  
phải dựa trên việc các quốc gia sáng lập có muốn cấp  
tư cách pháp lý cho tổ chức quốc tế này hay không.  
Ý chí này phải được thể hiện rõ ràng bằng hình thức  
một điều khoản trong các hiệp ước thành lập. Ví dụ  
như tổ chức Liên minh Châu Âu (EU) được các quốc  
gia thành lập trao cho tư cách pháp lý tại điều 46 Hiệp  
ước Lisbon. Hay có thể tìm thấy điều khoản tương  
tự khẳng định về tư cách pháp lý của Ngân hàng thế  
giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) trong các hiến  
chương thành lập nên các tổ chức này. Điều này nhấn  
mạnh tầm quan trọng của chủ quyền và vai trò chủ  
động của các quốc gia [7, tr.53].  
Học thuyết thứ hai coi trọng chức năng của các tổ  
chức quốc tế. Một trong các học giả ủng hộ mạnh mẽ  
cho học thuyết này là Finn Seyerster. Vị luật sư người  
Na Uy này nhấn mạnh vào cái mà ông gọi là “orga-  
nizationhood” (tạm dịch: cương vị một tổ chức), có  
tính chất tương tự như “statehood” (tạm dịch: cương  
vị quốc gia) [11, tr.21]. Để xác định tư cách pháp lý  
quốc tế của một tổ chức quốc tế cần căn cứ vào các  
hành vi và hoạt động của tổ chức này. Một trong các  
khía cạnh để xem xét đó là khi các tổ chức quốc tế  
có các hành vi mang tính chất riêng, độc lập với các  
thành viên của nó, ví dụ như là đưa ra các nghị quyết  
chức quốc tế này [UN] là một chủ thể quốc tế”.[13  
,
tr. 9]  
Trên một phương diện nhất định, có thể suy luận rằng  
ICJ đã đưa ra kết luận của mình về tư cách pháp lý  
quốc tế của Liên hiệp quốc dựa trên các lập luận của  
học thuyết chức năng.  
Tư cách pháp lý quốc tế của ASEAN  
Dù căn cứ vào bất kỳ học thuyết nào nói trên, hoàn  
toàn có thể chứng minh được tư cách pháp lý quốc tế  
của tổ chức ASEAN từ khi tổ chức này cho ra đời bản  
Hiến chương của mình vào năm 2008.  
ứ nhất, các quốc gia thành viên ASEAN thể hiện  
rất rõ quyết tâm trao cho ASEAN một tư cách pháp lý  
quốc tế. Xuất phát điểm từ Chương trình hành động  
Viên Chăn năm 2005, các quốc gia thành viên ASEAN  
đã lên kế hoạch cho việc soạn thảo một hiến chương  
đóng vai trò là khung pháp lý cho tất cả các hoạt động  
của ASEAN14. Trong hội nghị thượng đỉnh ASEAN  
lần thứ 11 tại Kuala Lumpur năm 2005, các quốc gia  
thành viên đã ký kết Tuyên bố thành lập Hiến chương  
ASEAN. Trong đó, tại điểm số 5 có ghi rằng “Hiến  
chương ASEAN sẽ trao cho ASEAN tư cách pháp lý  
quốc tế”15. ASEAN cũng hình thành Nhóm các cá  
nhân suất xắc (Eminent Person Group – EPG) bao  
gồm 10 người đại diện cho 10 quốc gia thành viên  
mang tính chất bắt buộc đối với các thành viên thì nó với công việc là đưa ra các đề xuất cho việc soạn thảo  
có thể được hiểu là đã sở hữu tư cách pháp lý quốc Hiến Chương16. Năm 2006, theo báo cáo của EPG,  
tế [12, tr.47]. Học thuyết này rất hữu ích và quan ASEAN cần phải có một tư cách pháp lý để bộ máy  
trọng trong việc trả lời về tư cách pháp lý quốc tế của của Tổ chức được hoạt động hiệu quả và đáp ứng được  
1000  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):999-1007  
những mục tiêu mới và vai trò mới của ASEAN17  
.
cũng đã thông qua Quy định về thủ tục ký kết các Hiệp  
ước quốc tế bởi ASEAN19 cụ thể hoá thẩm quyền ký  
kết hiệp ước quốc tế của ASEAN. Tại quy định số 2 có  
nêu rõ: “[…] các hiệp ước quốc tế [ký kết] bởi ASEAN  
[…] có nghĩa là các thoả thuận bằng văn bản, bất chấp  
tên gọi là gì, được điều chỉnh bởi luật quốc tế tạo ra  
quyền và nghĩa vụ cho ASEAN như là một thực thể  
độc lập với các quốc gia thành viên”.[19, p.1]  
Tiếp đến, tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 12  
vào năm 2007, ASEAN thành lập Lực lượng giải quyết  
công việc cấp cao (High Level Task Force – HLTF) để  
soạn thảo ra một bản Hiến chương hoàn chỉnh dựa  
trên những khuyến nghị từ báo cáo của EPG18. Cuối  
cùng, Hiến chương của ASEAN đã được các quốc gia  
thành viên ký kết vào Hội nghị thượng đỉnh ASEAN  
lần thứ 13 vào tháng 11 năm 2007. Đến tháng 12 năm  
2008, Hiến chương bắt đầu có hiệu lực pháp lý. eo  
điều 3 của Hiến chương, ASEAN là một tổ chức liên  
chính phủ có tư cách pháp lý. Sau đó, có thể khẳng  
định không có một tranh cãi trong việc xác lập tư cách  
pháp lý quốc tế của ASEAN giữa các thành viên của tổ  
chức này. Tất cả các văn bản chính thức của ASEAN  
đều chào mừng sự kiện Hiến chương ra đời và khẳng  
định lại tư cách pháp lý của ASEAN.  
ứ hai, ASEAN có một cấu trúc tổ chức rõ ràng với  
các chức năng chuyên biệt, độc lập với các quốc gia  
thành viên. Hay nói rõ hơn, ASEAN có một bộ máy  
với các cơ quan cụ thể thực hiện các nhiệm vụ của  
tổ chức và ra quyết định lên các thành viên. Đầu  
tiên phải kể đến là Hội nghị thượng đỉnh ASEAN  
(ASEAN Summit), đây là cơ quan quyết định chính  
sách tối cao của cả tổ chức. Kế đến, ASEAN còn có  
các cơ quan điều phối thực hiện các quyết định của  
Hội nghị thượng đỉnh ASEAN bao gồm Hội đồng  
điều phối ASEAN (ASEAN Coordinating Council);  
Các hội đồng của Cộng đồng An ninh-chính trị, Cộng  
đồng kinh tế, Cộng đồng Văn hoá-Xã hội; Uỷ ban các  
đại diện thường trực (Committee of Permanent Rep-  
resentatives to ASEAN); và Tổng thư ký ASEAN cũng  
như ban thư ký ASEAN. Cuối cùng, căn cứ theo điều  
5 của Hiến chương, 10 quốc gia thành viên có trách  
nhiệm phải thực hiện tất cả các nghĩa vụ do Tổ chức  
đưa ra. Đặc biệt, các trường hợp vi phạm và không  
tuân thủ các nghĩa vụ nói trên, sẽ được đưa ra trước  
Hội nghị thượng đỉnh ASEAN quyết định [2, p.14].  
ứ ba, ASEAN có các năng lực hành vi đối ngoại  
thể hiện tư cách pháp lý quốc tế trong hệ thống pháp  
luật quốc tế. Các hoạt động đối ngoại của ASEAN đã  
được nêu ra trong các văn bản quan trọng trước đây,  
bao gồm Tuyên bố Bangkok 1967, Tuyên bố hoà hợp  
Bali 1976, Hiệp ước ân thiện và hợp tác Đông Nam  
Á 1976 và oả thuận khung về Tăng cường hợp tác  
kinh tế của ASEAN 1992. Tuy nhiên, phải đến khi  
có Hiến chương ASEAN năm 2008, thì các hoạt động  
đối ngoại này được pháp lý hoá với những điều khoản  
cụ thể. Chương XII của Hiến chương quy định về  
hoạt động đối ngoại của ASEAN. Trong đó, theo điều  
41 của Hiến chương, ASEAN có khả năng tham gia  
ký kết các hiệp ước quốc tế với các chủ thế khác của  
Trên thực tế, từ sau khi thông qua Hiến chương  
ASEAN vào năm 2008, có hai văn kiện pháp lý quan  
trọng nhấn mạnh tư cách pháp lý này của tổ chức các  
nước Đông Nam Á. Đó là Hiệp ước về đặc quyền và  
quyền miễn trừ của Tổ chức giữa các thành viên20  
và Hiệp ước về việc đặt trụ sở tại Indonesia và quyền  
miễn trừ cho ban thư ký của ASEAN giữa Indonesia  
và ASEAN21. Các hiệp ước quốc tế này đều khẳng  
định tư cách pháp lý của ASEAN như một chủ thể độc  
lập của luật quốc tế. Ngoài ra, các hiệp ước này còn  
công nhận quyền miễn trừ cho Tổng thư ký ASEAN  
và các viên chức của tổ chức này. Hơn hết các hiệp  
ước còn cho phép ASEAN tham gia vào các hoạt động  
pháp lý theo luật quốc gia. Các hoạt động này bao  
gồm ký kết hợp đồng, sở hữu động sản và bất động  
sản cùng với việc tham gia vào hoạt động tranh tụng  
trước toà [20, p.4]. Ngoài ra, Tổng thư ký ASEAN sẽ  
đại diện cho tổ chức trong các hoạt động này. Việc  
ký kết hiệp ước với một chủ thể khác của luật quốc  
tế (Indonesia) và cho phép các viên chức của tổ chức  
hưởng thụ các đặc quyền và miễn trừ đã nhấn mạnh  
tư cách pháp lý của ASEAN.  
ASEAN cũng có các hoạt động đối ngoại quan trọng  
với các bên thứ ba. Một ví dụ điển hình là việc Mỹ  
gửi đại sứ của mình tại tổ chức này22. Hay, Tổng  
thư ký ASEAN, đại diện cho tổ chức này, ký kết các  
văn bản ghi nhớ về hợp tác giữa ASEAN và Liên hiệp  
quốc (UN)23. Ngoài ra, ASEAN còn có các hợp tác  
với các tổ chức quốc tế khác như Tổ chức Lao động  
quốc tế (ILO), Tổ chức hợp tác ượng Hải (SCO)  
hay Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hiệp  
quốc (UNESCO)24  
.
Như vậy có thể khẳng định ASEAN là một chủ thể của  
hệ thống pháp luật quốc tế, tồn tại một cách độc lập  
với các quốc gia thành viên của nó. Bên cạnh tư cách  
pháp lý này, ASEAN còn có các trách nhiệm của mình,  
mà nếu không thực hiện sẽ dẫn đến các hệ pháp pháp  
lý tương ứng. Phần tiếp theo của bài viết sẽ phân tích  
trách nhiệm gìn giữ an ninh khu vực của ASEAN.  
TRÁCH NHIỆM GÌN GIỮ AN NINH  
HOÀ BÌNH KHU VỰC ASEAN  
Không khó để khẳng định rằng việc giữ gìn hoà bình  
Luật quốc tế. Quan trọng hơn, vào năm 2011, ASEAN và an ninh khu vực là một trong những nhiệm vụ  
1001  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):999-1007  
trọng tâm hàng đầu của ASEAN. Nó trước hết được xảy ra xung đột chiến tranh trong khu vực, ASEAN  
khẳng định trong chính Hiến chương của tổ chức này, còn hướng tới tất cả các mối đe doạ ở tất cả các lĩnh  
cụ thể là trong lời nói đầu, điều 1 về mục đích của tổ vực (chính trị, quân sự, kinh tế, môi trường, và các  
chức và điều 2 về nguyên tắc hoạt động của ASEAN. lĩnh vực khác) có thể ảnh hưởng không những đối với  
ông thường, lời nói đầu cùng với các điều khoản về các quốc gia mà còn đối với từng cá nhân trong các  
mục đích và nguyên tắc của một tổ chức quốc tế mang nước thành viên. Có thể nói đây là một mục tiêu rất  
tính chất hướng dẫn cho toàn bộ hoạt động của tổ tham vọng của tổ chức này. Do đó, trên cơ sở của việc  
chức đó, cho nên, muốn hiểu rõ về vai trò mà ASEAN chứng minh rằng các xung đột tại biển Đông, cuộc  
cho rằng mình đảm nhiệm cần phải phân tích một khủng hoảng tị nạn người Rohingya, hoặc các mâu  
cách cụ thể các điều khoản này.  
thuẫn khác trong khu vực đã, đang hoặc có khả năng  
Trong điều 1 khoản 1 của Hiến chương ghi nhận mục tác động tiêu cực đến các vấn đề vừa được đề cập ở  
đích của ASEAN là “gìn giữ và tăng cường hoà bình, trên, ASEAN phải có nhiệm vụ giải quyết các xung  
an ninh và ổn định, và hơn nữa củng cố các giá trị đột này.  
hướng đến hoà bình trong khu vực”.  
Như vậy có thể khẳng định rằng ASEAN, cùng với tư  
Trước hết, cần xác định “khu vực” được nhắc đến cách lý quốc tế, có trách nhiệm đối với an ninh và hoà  
trong điều 1 này bao gồm các giới hạn địa lý nào. bình khu vực. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là  
Trong điều 2 của Hiến chương ASEAN có nhắc đến ASEAN có quyền sử dụng tất cả các công cụ pháp lý  
nguyên tắc “tôn trọng chủ quyền […], toàn vẹn lãnh để thực hiện cam kết của mình. Điều này đã được Toà  
thổ […] của các quốc gia thành viên”. Như vậy, “khu ICJ nêu ra trong ý kiến tư vấn của mình năm 1949:  
vực” mà điều 1 nhắc có thể được hiểu là các vùng mà “Toà ra quyết định cuối cùng rằng Tổ chức quốc tế  
các quốc gia thành viên có được các đặc quyền mà này [UN] là một chủ thể [pháp lý] quốc tế. Điều này  
Luật quốc tế cho phép (đó là chủ quyền, quyền chủ không tương đồng với việc nói rằng tổ chức này là một  
quyền và các quyền tài phán). Cụ thể hơn, “khu vực” quốc gia, chắc chắn là nó không phải, hay nói rằng  
ở đây bao gồm vùng đất thuộc chủ quyền quốc gia và tư cách pháp lý quốc tế và quyền và nghĩa vụ của nó  
vùng trời trên phần đất đó, cùng với nội thuỷ, lãnh  
hải và vùng trời trên hai vùng biển này, ngoài ra còn  
có vùng biển đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của  
10 nước thành viên ASEAN. Có thể thế rằng, khu vực  
biển Đông nằm hoàn toàn trong giới hạn địa lý được  
nhắc đến trong Hiến chương ASEAN.  
Cụm từ “hoà bình, an ninh, và ổn định” thường được  
lặp đi lặp lại trong Hiến chương thể hiện mối liên hệ  
của các từ này với nhau. Có thể lập luận rằng, cụm  
từ này cũng như những từ này cùng ám chỉ về một  
trạng thái không có xung đột và chiến tranh. Nhưng  
nếu diễn giải cụm từ này cùng với lời nói đầu và các  
điều khoản khác trong Hiến chương, có thể thấy rằng  
nó mang một ý nghĩa rộng hơn như vậy. Điều 1.8 cho  
rằng ASEAN cần phải ứng phó với “tất cả các mối đe  
doạ, tội phạm đa quốc gia hay các thách thức xuyên  
biên giới”. Ngoài ra, ASEAN cần đảm bảo đây là “khu  
giống với quốc gia. Tương tự như việc không thể nói  
rằng nó là một siêu quốc gia, hay bất kỳ cách diễn tả  
nào có nghĩa như vậy…. Trong khi các quốc gia sở  
hữu một cách tuyệt đối các quyền và nghĩa vụ được  
công nhận theo luật quốc tế, quyền và nghĩa vụ của  
một thực thể như Tổ chức này (Liên Hiệp Quốc) phải  
phụ thuộc vào mục tiêu và chức năng được ghi nhận  
rõ ràng hoặc được ngụ ý trong các văn bản thành lập  
và được phát triển trong các hoạt động của nó” [13  
tr.9].  
,
Do vậy, để xem xét khả năng thực hiện trách nhiệm  
giữ gìn hoà bình và an ninh khu vực của mình cần  
phải nhìn vào các quyền năng pháp lý của ASEAN hay  
các công cụ pháp lý mà ASEAN có thể sử dụng. Phần  
tiếp theo của bài viết sẽ phân tích về vấn đề này.  
QUYỀN NĂNG PHÁP LÝ CỦA ASEAN  
vực không có vũ khí hạt nhân” và một môi trường an Có thể hiểu một cách đơn giản rằng quyền năng pháp  
toàn “không chất kích thích”. Mặt khác, mục tiêu của lý của một tổ chức quốc tế là quyền lực hay quyền hạn  
ASEAN còn đề cập đến sự phồn thịnh và ổn định của để thực hiện được các mục tiêu mà các quốc gia thành  
sự phát triển kinh tế, nâng cao việc bảo vệ môi trường lập đã đề ra cho nó. Các hành vi pháp lý này có thể là  
và phát triển bền vững cho các thành viên trong tổ việc đưa ra các nghị quyết kêu gọi các bên trong một  
chức. Bên cạnh đó, ASEAN cũng chú trọng về việc tranh chấp quốc tế kiềm chế, tránh việc sử dụng vũ lực  
bảo vệ sự phát triển của con người, trong đó, lời nói hay đơn giản là quyết định ngân sách cho một cơ quan  
đầu còn nhắc đến các yếu tố như “sự khoẻ mạnh về trong tổ chức thực hiện hoạt động được giao hoặc  
tinh thần và thể chất, kế sinh nhai và sự thịnh vượng phức tạp hơn là việc là sử dụng quân đội của mình để  
của con người” trong cộng đồng ASEAN. Như vậy, có thực hiện các chiến dịch gìn giữ hoà bình25. Một điều  
thể hiểu rằng mục tiêu “an ninh, hoà bình, ổn định” cần lưu ý ở đây là năng lực pháp lý này chỉ phát sinh và  
của ASEAN không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo không chịu sự điều chỉnh của luật pháp quốc tế khi đã khẳng  
1002  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):999-1007  
định được tư cách pháp lý của tổ chức quốc tế. Sau kết quốc tế với tư cách chủ thể. Điều 41 khoản 7 của  
khi đã xác định tư cách pháp lý của ASEAN cùng với Hiến chương ASEAN khẳng định tổ chức này có thể  
trách nhiệm giữ gìn an ninh khu vực của tổ chức này, tham gia ký kết các hiệp định với các nước, hoặc các  
bài viết sẽ căn cứ vào các văn bản pháp lý của ASEAN tổ chức và thể chế tiểu khu vực trong khu vực và quốc  
(trong đó, trọng tâm là Hiến chương ASEAN) để xác  
định các công cụ ASEAN có thể sử dụng để thực hiện  
cam kết của mình.  
ASEAN có ba quyền năng quan trọng để thực hiện  
mục tiêu gìn giữ hoà bình an ninh khu vực, bao gồm:  
(1) ra quyết định, (2) ký kết các hiệp ước quốc gia tế,  
và (3) giải quyết tranh chấp.  
tế. Các hiệp ước này bao gồm (1) các hiệp ước ASEAN  
ký kết với các quốc gia hay các tổ chức quốc tế khác và  
(2) các hiệp ước của ASEAN ký kết với các quốc gia  
thành viên21. Ngoài ra, Hiến chương ASEAN cũng  
quy định nhiệm vụ cho từng cơ quan thực hiện toàn  
bộ quy trình công việc này từ đàm phán đến thi hành  
hiệp ước của ASEAN.  
Về quá trình đàm phán và thông qua hiệp ước quốc  
tế, ASEAN giao nhiệm vụ cho ba cơ quan chính. Đầu  
tiên, Các hội nghị bộ trưởng chuyên ngành cùng với  
Uỷ ban đại diện thường trực ASEAN sẽ đề xuất việc  
ký kết hiệp ước quốc tế. Tiếp đến Hội nghị Ngoại  
trưởng (hoặc tự thân hoặc thông qua Uỷ ban đại diện  
thường trực ASEAN) sẽ quyết định về đề xuất này và  
chỉ định một hoặc nhiều đại diện tham gia đàm phán  
[2, p.1]. Trong suốt quá trình đàm phán, các hội nghị  
bộ trưởng chuyên ngành và Uỷ ban đại diện thường  
trực ASEAN cần phải được cung cấp thông tin, và Hội  
nghị ngoại trưởng ASEAN ở bất cứ lúc nào có thể đưa  
Ra quyết định  
Một trong những thẩm quyền quan trọng của một tổ  
chức quốc tế là việc nó có thể đưa ra các quyết định đối  
với các vấn đề liên quan đến mục tiêu hoạt động của  
tổ chức. Các quyết định này có thể mang tính chất bắt  
buộc chung đối với các quốc gia thành viên hoặc chỉ  
mang tính chất khuyến nghị. Lấy ví dụ cụ thể từ Liên  
hiệp quốc, nếu như Đại hội đồng là cơ quan chỉ có  
thể đưa ra các văn bản mang tính đề xuất26, các quyết  
định của Hội đồng bảo an mang tính ràng buộc về mặt  
pháp lý đối với tất cả thành viên Liên hiệp quốc26  
.
Đối với ASEAN, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định ra những hướng dẫn thêm cho quá trình đàm phán [2,  
tối cao là Hội nghị thượng đỉnh ASEAN. Điều 7 của p.2]. Khi có bản dự thảo về hiệp ước này, Hội nghị bộ  
Hiến chương ASEAN trao quyền quyết định cho Hội trưởng chuyên ngành và Uỷ ban đại diện thường trực  
nghị thượng đỉnh đối với các vấn đề quan trọng liên ASEAN sẽ xem xét và trình lên cho Hội nghị ngoại  
quan đến mục tiêu hoạt động của ASEAN. Ngoài ra, trưởng ASEAN thông qua bằng cách chỉ định Tổng  
ASEAN có các cơ quan được thành lập với nhiệm vụ thư ký ASEAN (hoặc 1 cá nhân đại diện) ký kết và  
thi hành các quyết định của Hội nghị thượng đỉnh thông qua Hiệp ước này [2, p.2-3].  
ASEAN. Đó là Hội đồng điều phối ASEAN [2, p.8],  
Các hội đồng cộng đồng ASEAN [2, p.8], và Các hội  
nghị bộ trưởng chuyên ngành [2, p.9]. Ngoài ra, việc  
điều phối giám sát việc thi hành các quyết định này  
được giao cho ban thư ký ASEAN [2, p.10]. Việc phối  
hợp thực hiện ở cấp độ quốc gia sẽ được Ban thư ký  
quốc gia ASEAN [2, p.12] thực hiện.  
Từ khi thành lập đến nay ASEAN đã trải qua 33 lần  
Hội nghị thượng đỉnh; kết quả của các Hội nghị này  
thông thường bao gồm các Tuyên bố (Chairman’s  
statement, Joint Statement, …) hoặc các văn bản ghi  
nhớ (Memmorandum of Understanding). Đây là các  
văn bản mang tính chất định hướng chung cho toàn  
bộ hoạt động của tổ chức [2, p.4]. Hội nghị thượng  
đỉnh ASEAN là cơ quan thể hiện cao nhất mức độ tập  
trung chính trị của cả tổ chức và chịu trách nhiệm cho  
tất cả hoạt động của các cơ quan bên dưới, tuy nhiên  
lại thiếu đi tính chất ràng buộc về mặt pháp lý trong  
các văn bản ban hành.  
Về việc thi hành hiệp ước quốc tế đã ký kết, ASEAN  
giao cho các cơ quan bao gồm Hội đồng điều phối  
ASEAN [2, p.8], các cơ quan chuyên ngành cấp bộ  
trưởng của ASEAN [2, p.9], trong đó, Tổng thư ký  
ASEAN sẽ chịu trách nhiệm điều phối và theo dõi quá  
trình thực hiện các cam kết quốc tế này của ASEAN và  
báo cáo lên Hội nghị thượng đỉnh ASEAN hằng năm  
[2, p.10].  
Từ phân tích trên, có thể đưa ra một số nhận xét về  
năng lực ký kết hiệp ước quốc tế của ASEAN như sau.  
ứ nhất, việc ký kết các hiệp ước quốc tế của ASEAN  
chịu sự chi phối mạnh mẽ của các thành viên; bên  
cạnh đó, thư ký ASEAN không đóng vai trò quan  
trọng trong quy trình tham gia hiệp ước quốc tế của  
ASEAN, hay thậm chí không đề xuất việc ký kết này  
với ASEAN. Tất cả mọi quyết định liên quan đến hoạt  
động này đều được đưa về tham vấn và quyết định  
bởi ba cơ quan là Uỷ ban các Đại diện thường trực  
ASEAN, các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng  
của ASEAN và Hội nghị ngoại trưởng ASEAN. Các  
cơ quan này có sự tham gia đầy đủ các đại diện các  
Ký kết hiệp ước quốc tế  
Căn cứ theo Hiến chương, ASEAN là một tổ chức quốc gia thành viên và làm việc dựa trên cơ chế đồng  
quốc tế được trang bị năng lực tham gia vào các cam thuận. Do đó, có thể nói rằng ASEAN chỉ có thể thực  
1003  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):999-1007  
hiện chức năng này nếu có sự đồng ý của tất cả các giải quyết tranh chấp. Hầu như tất cả các giai đoạn  
trong các thủ tục của các biện pháp giải quyết tranh  
chấp của ASEAN đều phải được thông báo đến Tổng  
thư ký ASEAN và Tổng thư ký phải có trách nhiệm  
hỗ trợ về mặt pháp lý, kỹ thuật, và các vấn đề khác  
có liên quan đến tranh chấp trong suốt quá trình trên  
quốc gia thành viên. Điều này còn dẫn đến một hệ  
quả đó là khó có thể xem xét trách nhiệm trong các  
hành vi của ASEAN.  
ứ hai, toàn bộ quy trình tham gia vào hiệp ước quốc  
tế của ASEAN từ khi đàm phán đến lúc thông qua là  
một quá trình dài dòng và phức tạp. Việc thi hành  
các cam kết quốc tế càng là một vấn đề khó khăn  
khi không có một cơ quan nào của ASEAN có chức  
năng lập pháp (law-making powers). Tuy Tổng thư  
ký ASEAN có nhiệm vụ phải báo cáo về việc thi hành  
các cam kết quốc tế của ASEAN, việc xem xét đánh  
giá việc thi hành này đều được quyết định bởi Hội  
nghị thượng đỉnh ASEAN, nơi mà các nguyên thủ  
quốc gia thành viên chỉ nhóm họp hai lần trong một  
năm. Do vậy, Zatil Aqilah Metassan, Bộ trưởng Bộ  
Tư pháp Brunei, nhận xét rằng thủ tục thi hành các  
cam kết quốc tế của ASEAN là không thực tế và thậm  
[
19, p.3]. Ngoài ra, công việc giám sát quá trình thực  
hiện các cam kết trong hiệp định hoặc quyết định giải  
quyết tranh chấp cũng được giao phó cho Tổng thư ký  
ASEAN [2, p.16]. Tiếp đến, việc đề xuất và chỉ định  
các biện pháp giải quyết tranh chấp được giao cho hai  
cơ quan quyền lực nhất của ASEAN là Hội đồng điều  
phối ASEAN và Hội nghị ượng đỉnh ASEAN. Bên  
cạnh đó, Chủ tịch ASEAN và Tổng thư ký ASEAN có  
thể được yêu cầu làm trung gian, hòa giải trong các  
tranh chấp của các quốc gia thành viên29  
.
Mặc dù vậy, cho đến hiện nay khi các quốc gia thành  
viên ASEAN khi có xảy ra tranh chấp đều không sử  
dụng đến cơ chế của ASEAN. Campuchia và ái Lan  
khi có tranh chấp chủ quyền đối với đền Preah Vihear  
đã sử dụng Toà án quốc tế và hoàn toàn không đề cập  
đến TAC 1976 trước Toà30. Tương tự, khi Malaysia  
có tranh chấp với Indonesia31 và Singapore32 cũng  
đã đặt niềm tin vào Toà án công lý quốc tế (ICJ) hơn  
là các cơ chế do ASEAN thành lập. Hay gần đây nhất,  
Philippines đã sử dụng cơ chế trọng tài trong Công  
ước luật biển 1982 để giải quyết tranh chấp tại Biển  
Đông với Trung Quốc [2, p.15], mặc dù các tranh  
chấp này cũng liên quan đến nhiều quốc gia ASEAN  
và ASEAN cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề này.  
chí không thể thực hiện được27  
.
Các nhận định trên càng trở nên đúng đắn hơn dựa  
trên thực tế là các hiệp ước quốc tế được ký kết sau  
khi có Hiến chương của các nước ASEAN nhiều hơn  
rất nhiều so với các hiệp ước quốc tế được ký kết bởi  
ASEAN, như là 1 tổ chức quốc tế. Cụ thể, số lượng các  
cam kết quốc tế được ký kết bởi các quốc gia thành  
viên ASEAN chiếm 62% tổng số các hiệp ước quốc tế  
của ASEAN28  
.
Cơ chế giải quyết tranh chấp  
Khác với hai tổ chức quốc tế khu vực là Liên minh  
châu Âu (EU) và Liên minh châu Phi (AU), ASEAN  
không thành lập một toà án chuyên để giải quyết các  
tranh chấp liên quan đến khu vực của mình. Tuy vậy,  
trong Hiến chương ASEAN và Nghị định thư về cơ  
chế giải quyết tranh chấp trong hiến chương ASEAN  
(gọi tắt là Nghị định thư 2017), ASEAN đưa ra các  
biện pháp giải quyết tranh chấp của mình bao gồm :  
tham vấn, dàn xếp, trung gian, hoà giải và trọng tài.  
Mặt khác, ở các mối quan hệ trên các lĩnh vực khác  
nhau các quốc gia ASEAN có thể có các cơ chế riêng  
theo từng văn bản [2, p.15]. Ví dụ, các tranh chấp liên  
quan đến hợp tác kinh tế ASEAN có Nghị định thư  
về tăng cường giải quyết tranh chấp [2, p.15]. Còn  
đối với các tranh chấp khác ngoài các tranh chấp liên  
quan đến việc áp dụng và giải thích các văn bản pháp  
lý của ASEAN, các quốc gia thành viên phải giải quyết  
các bất đồng của mình bằng các biện pháp hoà bình  
đã được nêu ra trong Hiệp ước thân thiện và hợp tác  
ở Đông Nam Á 1976.  
KẾT LUẬN  
Các tổ chức quốc tế tại các khu vực có những lợi thế  
trong việc giữ gìn hoà bình và an ninh của khu vực  
mình. Cựu Tổng thư ký Liên hiệp quốc Ban Ki-moon  
đã nhận xét rằng các tổ chức quốc tế khu vực đóng vai  
trò quan trọng trong việc ngăn chặn và giải quyết hiệu  
quả các xung đột xảy ra trong khu vực của mình33  
.
Một ví dụ thành công điển là Liên minh châu Âu (EU).  
Vào năm 2012 EU đã được trao giải Nobel hoà bình  
cho những nỗ lực của mình về việc giữ gìn hoà bình  
cho lục địa châu Âu, nơi từng có lịch sử đẫm máu về  
chiến tranh và xung đột34  
.
ASEAN là tổ chức quốc tế lâu đời nhất và cũng là tổ  
chức quốc tế lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Từ khi  
có Hiến chương, ASEAN đã có tư cách pháp lý rõ ràng  
và trở thành một chủ thể độc lập trong hệ thống pháp  
lý quốc tế. Tổ chức này cũng đã được trang bị những  
quyền năng pháp lý quan trọng để giải quyết các tranh  
chấp trong khu vực mà mình chịu trách nhiệm. Do  
đó, ASEAN cần phải thực sự tận dụng những lợi thế  
của mình để thực hiện nghĩa vụ giữ gìn an ninh của  
Có thể nhận thấy ASEAN hay các cơ quan ASEAN có  
vai trò nhấtđịnh trong quá trình giải quyếttranh chấp.  
Vai trò đầu tiên đó là việc điều phối các hoạt động khu vực Đông Nam Á.  
1004  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):999-1007  
Tuy nhiên, từ các phân tích trên có thể thấy rằng UNESCO (United Nations Educational Scientific and  
ASEAN vẫn chưa sử dụng hiệu quả các quyền năng Cultural Organizations) Tổ chức giáo dục, khoa học  
pháp lý mà mình có được để có thể thực hện trách  
nhiệm bảo vệ an ninh và hoà bình khu vực. ật vậy,  
các văn bản ban hành trong ASEAN không có giá trị  
pháp lý ràng buộc đối với các thành viên. Số lượng  
hiệp ước quốc tế được ký kết bởi ASEAN, như một tổ  
chức quốc tế, không đáng kể so với các hiệp ước được  
ký kết bởi các thành viên của Hiệp hội. Đặc biệt, chưa  
có một quốc gia thành viên nào vận dụng cơ chế giải  
quyết tranh chấp của ASEAN để giải quyết các xung  
đột của mình. Do đó dẫn đến hiện tượng là gần như  
không thấy được vai trò quan trọng của ASEAN trong  
các vấn đề liên quan đến an ninh khu vực.  
Mặc dù vậy, sau khi đã xác định được rằng gìn giữ  
hoà bình và an ninh khu vực là một trách nhiệm của  
tổ chức, ngoài các quyền năng pháp lý mà ASEAN đã  
nêu, ASEAN cần cân nhắc việc sử dụng các công cụ  
pháp lý khác để thực hiện trách nhiệm này. Trong đó  
có cả việc yêu cầu các Toà án quốc tế cho ý kiến tư vấn  
đề các vấn đề pháp lý của các xung đột khu vực.  
và văn hoá Liên hiệp quốc  
WB (World Bank) Ngân hàng thế giới  
WEF (World Economic Forum) Diễn đàn kinh tế ế  
giới  
TUYÊN BỐ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH  
Bản thảo này không có xung đột về lợi ích.  
TUYÊN BỐ ĐÓNG GÓP CỦA TÁC GIẢ  
Tác giả thực hiện bài viết bằng các phương pháp  
nghiên cứu khoa học của ngành luật học (phân tích,  
giải thích và áp dụng các điều khoản trong các công  
ước quốc tế), và các phương pháp nghiên cứu cơ bản  
khác như tổng hợp và phân tích tài liệu, và so sánh các  
trường hợp điển hình.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Minh B. ASEAN đã phát triển như thế nào sau 50 năm?  
VNEconomy. [Online] [ngày 7/8/2017]. 2017;Available from:  
2. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Hiến chương  
ASEAN. [Online]. 2008;Available from: https://asean.org/  
3. Sukma R. Vai trò của ASEAN trong việc giải quyết tranh chấp  
Biển Đông. nghiencuubiendong. [Online][Ngày 2/8/2012].  
ong.  
LỜI CẢM ƠN  
Tác giả bài viết chân thành cảm ơn sự đóng góp của cô  
Nguyễn ị Hồng Vân, sinh viên Trần Nguyễn Quỳnh  
Như và Nguyễn ị anh Trúc, khoa Quan hệ quốc  
tế, Trường đại học KHXH&NV, TPHCM, vào bài viết.  
Bài viết nằm trong công trình nghiên cứu khoa học  
thuộc đề tài cấp cơ sở của tác giả tại trường Khoa học  
xã hội và Nhân văn, Tp. Hồ Chí Minh. Mã số đề tài:  
TC2020-06  
4. Collinson G, Roberts CB. The South China Sea and Australia’s  
Regional Security Environment. National Security College Oc-  
casional Paper. 2013;5(1):34–39.  
5. Thuỷ NTT. Thái độ và phản ứng quốc tế đối với phán quyêt  
của Toà trọng tài tranh chấp ở Biển Đông và tác động tới  
việc giải quyết tranh chấp ở vùng biển này. Nghiencuubien-  
dong.vn. [Online][Ngày 20/7/2018]. 2018;Available from: http:  
6. Chesterman S. ASEAN có tồn tại hay không? Hiệp hội các  
quốc gia Đông Nam Á với tư cách pháp lý quốc tế? Luật quốc  
tế và học thuyết pháp lý . 2008;1(1). Available from: http://lsr.  
7. Klabbers J. An Introduction to International Organizations  
Law. New York: Cambridge University Press. Chương 3. 2002;.  
8. Browlie I. Principles of Public International Law (Các Nguyên  
tắc của Công Pháp quốc tế). 5th Ed. Oxford: Clarendons Press.  
1998;.  
9. Shaw M. International law. New York: NXB Cambridge. 2017;.  
10. Klabbers J. An Introduction to International Organizations  
Law. New York: Cambridge University Press. 2002;p. 53.  
11. Klabbers J. Advanced Introduction to the Law of International  
Organizations. Massachusetts: Elgar Press. 2015;p. 21. Avail-  
12. Seyester F. Tư cách pháp lý khách quan của các quốc tế  
đa guốc gia: năng lực của chúng có thật sự phụ thuộc vào  
các hiệp ước thành lập nên chúng hay không? Copenhagen:  
Copenhagen University Press. 1963;p. 47.  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
ASEAN (Association of Southeast Asian Nations)  
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á  
AU (African Union) Liên minh châu Phi  
DARIO (Draꢀ Articles on the Responsibility of Inter-  
national Organizations) Dự thảo luật về trách nhiệm  
của các tổ chức quốc tế  
EU (European Union) Liên minh châu Âu  
ICJ (International Court of Justice) Toà án công lý  
quốc tế  
IMF(International Monatery) Fund Quỹ tiền tệ quốc  
tế  
ILO (International Labour Organization) Tổ chức lao  
động quốc tế  
ITLOS (International Tribunal for Law of the Sea) Toà  
án luật biển quốc tế  
SCO (Shanghai Cooperation Organization) Tổ chức  
hợp tác ượng Hải  
TAC (Treaty of Amity and Cooperation in Southeast  
Asia) Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á  
UN (United Nations) Liên hiệp quốc  
13. Vụ kiện Bồi thường cho những thiệt hại do hoạt động của  
Liên hiệp quốc, Reparation for Injuries suffered in the ser-  
vice of the United Nations, Advisory Opinion, [1949], ICJ Rep.  
1949;p. 9. Available from: https://www.icj-cij.org/files/case-  
1005  
                       
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):999-1007  
14. ASEAN. Vientian Action Program. [Online]. 2004;Available  
from:  
24. Stefano SI. Các hiệp ước đối ngoại của ASEAN: Hội nhập thông  
qua Luật pháp- Vai trò của Luật và các nguyên tắc pháp luật  
trong vấn đề hội nhập của ASEAN. New York: Cambridge Uni-  
versity Press. 2015;80.  
25. Ryngaert C, Dekker IF, Wessel RA, Wouters J. Các phán quyết  
về luật các tổ chức quốc tế. New York: Cambridge University  
Press. 2016;p. 67.  
26. Chương IV, Hiến chương Liên hiệp quốc;Available from:  
27. Metassan ZA. Thi hành các hiệp ước quốc tế căn cứ vào  
Hiến chương ASEAN. Hội nghị của Đại hội đồng của Hiệp hội  
Luật ASEAN lần thứ 11, ngày 15-17/2/2012;Available from:  
28. Cremona M, Kleimann D, et al. ASEAN’s external agreements:  
Law, Practice and the Quest for Collective Action, Cambridge:  
Cambridge University Press. 2015;p. 86. Available from: https:  
29. Beckman R. Promoting Compliance: The Role of Dispute Set-  
tlement and Monitoring Mechanism in ASEAN Instruments,  
Cambridge: Cambridge University Press. 2016;p. 62. Available  
30. Vụ kiện về chủ quyền đối với các đảo Pulau Ligitan và Pulau  
Sipadan, ICJ Report. 2001;Available from: https://www.icj-cij.  
15. ASEAN. Kuala Lumpur Declaration on the Establishment  
of the ASEAN Charter. [Online]. 2005;Available from:  
16. ASEAN. Terms of Reference of the Eminent persons groups  
on the ASEAN Charter. [Online]. 2012;Available from:  
17. ASEAN. Report of the Eminent persons groups on the ASEAN  
Charter. [Online]. 2007;Available from: https://www.asean.org/  
18. ASEAN. Chairperson’s statement of the 12th ASEAN Summit.  
[Online]. 2007;Available from: https://asean.org/?static_post=  
19. ASEAN. Rules of the Procedure for the Conclusion of Interna-  
tional Agreements by ASEAN. [Online]. 2010;Available from:  
20. ASEAN. Agreement on the Privileges and Immunities of the  
Association of Southeast Asian Nations. [Online]. 2009;Avail-  
able from:  
31. Vụ kiện về chủ quyền đối với các thực thể Pedra Branca/Pulau  
Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge, ICJ Report.  
21. ASEAN. Agreement between the Government of the Republic  
of Indonesia and the Association of Southeast Asian Nations  
(ASEAN) on Hosting and Granting Privileges and Immunities  
to the ASEAN Secretariat. [Online]. 2012;Available from: http:  
22. ASEAN. Joint Statement of the 3rd ASEAN-US leaders meet-  
ing. [Online]. 2011;Available from: http://asean.org/joint-  
2008;Available from: https://www.icj-cij.org/en/case/130.  
32. Vụ kiện Biển Đông, Toà trọng tài phụ lục VII Công ước Luật  
biển 1982, PCA Report,. 2016;Available from: https://pca-cpa.  
33. TuyênbốcủaBanKi-moontrướccuộctranhluậncủaHộiđồng  
bảo an Liên hiệp quốc (SC/9136), ngày 6 tháng 11 năm 2007;.  
34. Europa. Liên minh châu Âu nhận giải thưởng Nobel  
Hoà Bình năm 2012. [Online]. 2012;Available from:  
23. ASEAN. Memorandum of Understanding between ASEAN  
and the UN on ASEAN-UN Cooperation. [Online]. 2007;Avail-  
1006  
                                         
Science & Technology Development Journal – Social Sciences & Humanities, 5(2):999-1007  
Research Article  
Open Access Full Text Article  
ASEAN’s responsibilities towards regional peace and security  
under the light of international law  
Pham Ngoc Minh Trang*  
ABSTRACT  
After more than 50 years of existence and development, the Association of Southeast Asian Nations  
(ASEAN) has established itself as one of the significant players in the international community. This  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
oldest as well as biggest international organization was believed to be the 5th most substantial  
economy in the world in 2020. Apart from contributing to the economic development of the re-  
gion, ASEAN has also paid great attention to its political goals, one of which is to maintain and  
enhance peace, security and stability in the Southeast Asian region. With respect to this function,  
ASEAN has been excoriated for its ineffective performance and indolent reactions to regional pre-  
carious situations such as the Myanmar's Rohingya crisis and the chronic disputes in the East Sea.  
Hence, most criticisms called for a more compelling and active ASEAN in order to fulfill its role as  
a guardian of regional peace and security. Simon Chesterman, Dean of the Faculty of Law, Na-  
tional University of Singapore, posed a question: ``does ASEAN exist?'' In order to answer to such  
a broad question, this paper analyse the legal personality of ASEAN under the light of international  
law, which confirms the independence of ASEAN from member states as an actor of international  
system. Next, the paper examine the legal powers of ASEAN used to respond to regional security  
related issues. Finally, the paper establishes that ASEAN has legal obligation to settle any disputes  
that affect the peace and security of the region.  
Key words: ASEAN, regional peace and security, legal responsibilities  
University of Social Sciences &  
Humanities, VNU-HCM, Vietnam  
Correspondence  
Pham Ngoc Minh Trang, University of  
Social Sciences & Humanities,  
VNU-HCM, Vietnam  
Email: pnminhtrangfi[email protected].vn  
History  
• Received: 18/01/2021  
• Accepted: 11/5/2021  
• Published: 13/5/2021  
DOI : 10.32508/stdjssh.v5i2.625  
Copyright  
© VNU-HCM Press. This is an open-  
access article distributed under the  
terms of the Creative Commons  
Attribution 4.0 International license.  
Cite this article : Trang P N M. ASEAN’s responsibilities towards regional peace and security under  
the light of international law. Sci. Tech. Dev. J. - Soc. Sci. Hum.; 5(2):999-1007.  
1007  
pdf 9 trang yennguyen 14560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Trách nhiệm của ASEAN với các vấn đề an ninh khu vực: Góc nhìn của luật pháp quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftrach_nhiem_cua_asean_voi_cac_van_de_an_ninh_khu_vuc_goc_nhi.pdf