Pháp quyền và chủ nghĩa hiến pháp
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
PHÁP QUYỀN VÀ CHỦ NGHĨA HIẾN PHÁP
Nguyễn Đăng Dung*
Vũ Thành Cự**
* GS. TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
** Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Những năm gần đây, trên các diễn đàn khoa học, chủ nghĩa hiến pháp/
chủ nghĩa hợp hiến được bàn luận nhiều, nhưng thực ra chủ nghĩa này
có mối quan hệ mật thiết với pháp quyền. Trong bài viết này, các tác
giả phân tích mối quan hệ khăng khít giữa nhà nước pháp quyền và chủ
nghĩa hiến pháp/chủ nghĩa hợp hiến.
Từ khóa: Pháp quyền; pháp luật;
hiến pháp; chủ nghĩa hiến pháp.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 13/12/2020
: 27/12/2020
: 04/01/2021
Article Infomation:
Abstract:
In recent years, the constitutionalism has been received several urguments
on the scientific dialouges. In fact, this doctrine has a close relationship
with the rule of law. In this article, the authors provide analysis of the
association of these two ideas.
Keywords: Rule of law; law;
constitution; constitutionalism.
Article History:
Received
Edited
: 13 Dec. 2020
: 27 Dec. 2020
: 04 Jan. 2021
Approved
1. Pháp quyền là gì?
nhân xuất sắc nhất cai trị thì sẽ tốt hơn.
Câu hỏi còn xem xét tính chất của luật và
đặc tính của chính quyền ban hành và thực
thi luật. Điều này có điểm tương đồng với
học giả người Pháp Jacques Chevallier khi
nhận định “luật pháp không chỉ là công cụ
hoạt động của nhà nước mà còn là phương
tiện giới hạn sức mạnh của chính quyền”1.
Aristotle cũng đặt vấn đề về epieikeia
(thường được dịch là equity – lẽ công
bằng) – một trong những ý niệm có ảnh
hưởng lớn đến việc hình thành nhận thức
về pháp quyền sau này. Plato đến Aristotle
và sau đó là Thomas Aquinas đã tạo ra
trường phái pháp quyền truyền thống cho
Ở Việt Nam, thuật ngữ “pháp quyền”
thường được đồng nhất nhất với “nhà nước
pháp quyền” vốn là bản dịch từ tiếng Đức
(Rechtsstaat) hay tiếng Pháp (état de droit).
Xét về truyền thống văn hóa của thuật ngữ
“pháp quyền” được hình thành ở nước Anh
bắt đầu từ thế kỷ XII thì pháp quyền (rule
of law) được hiểu là tinh thần “thượng tôn
pháp luật”.
Pháp quyền (Rule of Law) được
Aristotle đề cập lần đầu trong tác phẩm
kinh điển Chính trị học (Politics) khi ông
đặt ra câu hỏi luật hoàn chỉnh nhất hay cá
1. Chevallier J. (2010), L’État de droit, 5e éd. Publishing House, Montchrestien, tr. 18.
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
2. Chủ nghĩa hiến pháp là gì?
rằng quyền công dân là gốc của mọi quyền
khác. Quyền tự nhiên chỉ là quyền phái
sinh của quyền công dân vì chỉ khi là công
dân, con người mới được hưởng các quyền
đó. Những quyền đó không tồn tại trong
trạng thái dã man, nơi con người không
được bảo vệ và vì vậy, các quyền đó không
tồn tại.
Chủ nghĩa hiến pháp trong tiếng Anh
là constitutionalism, có người dịch là chủ
nghĩa hợp hiến, có người dịch là “chủ nghĩa
hiến pháp”, có người dịch là “chủ nghiệp
lập hiến”. Theo tác giả bài viết nên dịch là
“chủ nghĩa hiến pháp” thì sự chuyển tải bao
quát và đầy đủ hơn. Các thuật ngữ hiến pháp
trị, hay chủ nghĩa hiến pháp hầu như cũng
có một nội hàm gần tương tự. Nội hàm của
khái niệm “chủ nghĩa” đang là một trong
những vấn đề rất lớn trong lý luận của khoa
học pháp lý hiện nay ở Việt Nam. Từ điển
tiếng Việt của Việt Nam định nghĩa: Chủ
nghĩa là hệ thống các quan niệm, đạo đức,
văn học, nghệ thuật, được coi là lý luận cơ
bản hướng dẫn mọi mặt hoạt động4.
John Locke trong tác phẩm Khảo luận
thứ hai về chính quyền khi nhấn mạnh “cho
dù là ai, khi có quyền lập pháp hay quyền
lực tối cao của một công quốc, cũng luôn bị
ràng buộc vào việc phải cai quản bằng các
luật đã được thiết lập một cách ổn định, đã
ban hành chính thức và được nhân dân biết
đến”2. Ông cho rằng các quyền tự nhiên là
nguồn gốc của mọi quyền. Con người tham
gia vào cộng đồng để bảo vệ các quyền đó.
Sau đó, Hugo Crotius đã hợp lý hóa pháp
quyền căn cứ vào các nguyên tắc của lý
trí, khế ước và trở thành người sáng lập ra
thuyết pháp quyền tự nhiên hiện đại3.
Từ điển chính quyền và chính trị Hoa
Kỳ của Jay M. Shafritz ghi nhận: Chủ nghĩa
hiến pháp là sự phát triển của những tư
tưởng hợp hiến qua nhiều thời đại. Trong
khi lý luận cổ điển về hiến pháp thường phải
quay về với những tư tưởng của Aristotle,
thì của lý luận hiến pháp hiện đại lại xuất
phát từ những tư tưởng khế ước xã hội thế
kỷ XVII. Những biểu hiện đặc trưng của
Hiến pháp là khái niệm về một chính phủ
hữu hạn mà thẩm quyền tối hậu của nó luôn
luôn phải tuân thủ sự đồng ý của người bị
cai trị.
Montesquieu đặt nền móng cho tư duy
phân chia quyền lực – đặc biệt nhánh tư
pháp phải độc lập với nhành hành pháp và
lập pháp. Những người làm ra luật không
thể tự mình thực thi pháp luật bởi như vậy
sẽ dễ dẫn đến tình trạng lạm quyền, xấu nhất
có thể là bạo chúa (tyranny). Tư tưởng về
tư pháp độc lập của Montesquieu đặc biệt
đúng đắn nếu đặt vào bối cảnh của nước
Mỹ. Trên thực tế, nhánh lập pháp và hành
pháp có những tác động qua lại khi có sự
xuất hiện của đảng phái. Tổng thống có thể
có những lợi thế nhất định khi đảng chiếm
đa số ở nghị viện là đảng của mình và pháp
quyền vẫn được duy trì nhờ vào tính độc lập
của nhánh tư pháp.
Giáo sư Hamilton của Đại học Yale
(Mỹ) cho rằng “chủ nghĩa hiến pháp là cách
gọi niềm tin của con người vào ngôn từ
được soạn trên giấy để ổn định nhà nước”5.
Với cách định nghĩa hẹp như vậy thì học
giả nhấn mạnh rằng “chủ nghĩa hiến pháp
phát triển rực rỡ từ năm 1776”6. Nhiều luật
gia cho rằng, năm 1776 (trước khi Hiến
2. John Locke, Khảo luận thứ hai về chính quyền, Nxb. Tri thức, 2019, tr. 178.
3. Adam B. Selligman, The Idea of Civil Society, Princeton University Press, p. 17.
4. Viện Ngôn ngữ học (2000), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, tr. 174.
5. Hamilton W.H., Constitutionalism, Encyclopedia of the Social Sciences, vol. 4 (London: Macmillan, 1930-
1935), p. 255.
6. đd.
6
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ra đời một
năm) là một mốc đánh dấu cho sự xuất hiện
của chủ nghĩa hiến pháp hiện đại (modern
constitutionalism). Điều này xuất phát từ
bối cảnh lịch sử thay đổi thời điểm bấy giờ
tại Hoa Kỳ khi chủ nghĩa hiến pháp xuất
hiện đồng thời với chủ nghĩa cộng hòa
(republicanism)7.
hội thị tộc nguyên thủy. Nhưng với tư cách
là công cụ duy nhất của việc gìn giữ trật tự
công cộng, việc vi phạm nằm ngay ở trách
nhiệm, khả năng phải thi hành nhiệm vụ giữ
gìn trật tự công cộng của nhà nước. Vì vậy,
bên cạnh việc có trách nhiệm làm cho người
dân hạnh phúc hơn, cũng có lúc nhà nước
làm cho người dân chưa hài lòng, thậm chí
là đau khổ hơn. Holmes là một trong những
Thẩm phán nổi tiếng của Hợp chủng quốc
Hoa Kỳ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX
có một cách đặt vấn đề sắc sảo làm nổi bật
lên bản chất của chủ nghĩa hiến pháp: Làm
sao thoát khỏi tình trạng vô chính phủ mà
lại không sa vào sự chuyên chế? Làm cách
nào ấn định đủ quyền lực cho người cầm
quyền, mà vẫn không sa vào việc lạm dụng
quyền lực nhà nước. Giải pháp cho vấn nạn
này là thuyết Hiến pháp trị tức chủ nghĩa
hiến pháp10.
Cách diễn giải có thể khác nhau nhưng
nội hàm của chủ nghĩa hiến pháp bản chất
là lý thuyết về giới hạn quyền lực nhà nước
mà có thể được thể hiện dưới dạng cân bằng
hoặc phân chia quyền lực8.
Chủ nghĩa hiến pháp bắt nguồn từ ý
tưởng chính trị tự do của Tây Âu và Hoa
Kỳ là hình thức bảo vệ quyền cá nhân đối
với sinh mạng và tài sản, tự do tôn giáo và
ngôn luận. Để đảm bảo những quyền này,
những người soạn thảo Hiến pháp đã nhấn
mạnh kiểm soát đối với quyền lực của mỗi
ngành trong chính phủ, bình đẳng trước
pháp luật, tòa án công bằng và tách biệt nhà
thời khỏi nhà nước. Những đại biểu điển
hình của truyền thống này là nhà thơ John
Milton, luật gia Edward Coke và William
Blackstone, các chính khách như Thomas
Jefferson và James Madison, và những
triết gia như Thomas Hobbes, John Locke,
Adam Smith, Baron de Montesquieu, John
Stuart Mill9.
Hayek, mặc dù là một nhà kinh thế học,
nhưng đã có công trong việc đặt nền móng
cho yếu tố “tự do” trong pháp quyền. Ông
là kiến trúc sư trưởng của chủ nghĩa tự do
trên bình diện tư tưởng và hành động. Tác
động của ông đối với kinh tế học và chính
trị học là suối nguồn của tân chủ nghĩa hiến
pháp (neo-constitutionalism). Khi kết thúc
Chiến tranh lạnh và cần có một trật tự thế
giới mới, tân chủ nghĩa hiến pháp xuất hiện
để thúc đẩy thị trường tự do (free market)
và hạn chế sự can thiệp của nhà nước đối
với nền kinh tế cũng như quyền tự chủ của
các doanh nghiệp cũng như tạo khuôn khổ
hiến định cho sự phát triển11.
Hiến pháp là bản văn quy định thể chế
nhà nước, có tác dụng làm cho mọi người
hạnh phúc hơn. Đó là vị trí, vai trò, chức
năng quan trọng hàng đầu của nhà nước. Sự
xuất hiện của nhà nước như là một cứu cánh
cho sự diệt chủng của loài người, nếu loài
người vẫn đi theo con đường của chế độ xã
Nói về tân chủ nghĩa hiến pháp, không
thể không nhắc đến triết gia, luật gia người
7. Dry Murray (1986), Constitutionalism and Republicanism in the American Founding: 1776-1787, Teaching
Political Science, 14(1), 5-10.
8. McIlwain, Charles H. 1947 (1940), Constitutionalism: Ancient and Modern, Cornell University Press.
9. Greg Russell: Chủ nghĩa hợp hiến/Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến, biên tập Nguyễn Đăng Dung,
Phạm Hồng Thái và Vũ Công Giao, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012, tr. 57.
10. Holmes: Tuyển tập, 1995, tr. 270-271.
11. Gill S., Cutler A.C. (2014), New Constitution and World Order, Cambridge University Press.
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Mỹ Lon Fuller khi ông bàn về pháp quyền.
Theo ông, tám yếu tố của pháp quyền - “nội
hàm đạo đức của luật” là: tính phổ biến, tính
công khai, tính tương lai, tính hiểu được,
tính thống nhất, tính thực tiễn, tính ổn định
và tính phù hợp.
đổi luật và tập quán của người dân12. Tương
tự, tộc Zulu ở Nam Phi cũng có nghi lễ khiêu
chiến mà vua phải trần truồng, không mặc
giáp hoặc mang theo vũ khí để nhắc nhở về
tính tạm thời của ngôi vua cũng như một
cuộc nổi loạn thực sự có thể giết chết ông ta
và đảo chính. Do đó, ông vua được cảnh báo
rằng luôn phải chú trọng đến sự ấm no của
quần chúng13. Như vậy, người nguyên thủy
cho rằng luật hoặc các quy định cũng phải
khống chế những người cai trị.
3. Mối quan hệ giữa pháp quyền và chủ
nghĩa hiến pháp
- Xã hội nguyên thủy
Pháp quyền trong chính quyền hiến
định là một giải pháp cũ đối với vấn đề
muôn thuở của xã hội loài người – vấn đề
kiểm soát những người cai trị và chủ nghĩa
hiến pháp chính là ngành khoa học để
kiềm chế quyền lực. Các nghiên cứu về hệ
thống chính trị nguyên thủy nhận thấy rằng,
các quy định của hiến pháp được thiết kế
để phòng ngừa sự xuất hiện của bạo chúa
(tyrant) dù dưới tư cách cá nhân hay một
nhóm, đồng thời trao quyền lực cần thiết
cho chính quyền để đưa ra những quyết
định có lợi cho quần chúng.
-Chủnghĩahiếnphápcổđiển(classical
constitutionalism)
Plato đã nhìn nhận được chức năng tối
hậu của nhà nước là bảo vệ và duy trì pháp
luật của người dân14. Ông đã bảo vệ ý niệm
về pháp quyền là một tư tưởng thích hợp
đối với xã h+ội loài người trong những bức
thư và hầu hết mọi cuộc đối thoại của mình.
Plato luận bàn về một vài cách thức thiết kế
bộ máy nhà nước để đạt được pháp quyền
như chế độ quân chủ, quý tộc và dân chủ.
Ông cho rằng nguồn gốc của tham nhũng
chính ra thất bại trong việc duy trì nền
pháp quyền vào tay của những kẻ bạo chúa
(tyranny). Luật gia Bentham đã tiếp nối tư
tưởng này vào thế kỷ XIX khi nhận định
rằng, chỉ có Hiến pháp Anh-Mỹ mới tạo ra
sự đáng tin để trường tồn15.
Việc kiểm soát chính quyền dựa trên
sự đồng thuận của các vị thần. Hội đồng
linh mục sẽ tham vấn các nhà tiên tri hoặc
giải thích các hiện tượng thiên nhiên hay xã
hội để hiểu được sự bất đồng thuận của các
vị thần và sẽ áp dụng những hình phạt khả
thi để bổ trợ cho sự trừng phạt thần học đối
với sự bất kính.
Học trò của Plato làAristotle đề xuất về
mô hình nhà nước hỗn hợp của chế độ dân
chủ, quý tộc và quân chủ để tạo ra sự cân
bằng quyền lực hiến định. Ý tưởng này là
nền tảng cho lý thuyết chủ nghĩa hiến pháp
cổ điển liên kết với sự cam kết thực hiện
nguyên tắc pháp quyền16. Tư tưởng này một
lần nữa được tái hiện ở nước Anh và là kim
chỉ nam của những vị cha đẻ nước Mỹ khi
Đối với hầu hết các xã hội nguyên thủy,
quyền lực chính trị được cân bằng và thẩm
quyền được chia cho các cộng đồng khác
nhau tùy thuộc vào quyết định cần đưa ra.
Các nghi lễ công phu được thực hiện trong
một số xã hội quân chủ để nhắc nhở vị vua về
sự phụ thuộc của mình vào dân chúng. Vua,
thủ lĩnh và hội đồng không được phép thay
12. Mair L. (1962), Primitive Government, Harmondsworth: Pelican.
13. Gluckman M. (1954), Rituals of Rebellion in South-East Africa, Manchester University Press.
14. Reynolds N.B., Plato’s Defense of Rule of Law.
15. Bentham J. (1823), Leading Principles of a Constitutional Code for any State, The Pamphleteer, No. 44.
16. Mansfield H.C.Jr. (1985), Constitutionalism and the Rule of Law, Havard Journal of Law and Public Pol-
icy, pp. 323-326.
8
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
phải đối mặt với vấn đề cân bằng quyền lực
của các cơ quan, dù nước này không theo
chế độ quý tộc hoặc quân chủ.
Anh Quốc là một ví dụ điển hình bởi
trước chế độ phong kiến được thiết lập,
nhiều khu vực rộng lớn đều được quy hoạch
mà không cần có nhà vua. Nhà vua không
đếm xỉa nhiều đến quyền thu thuế cho đến
thế kỷ XIX và các tòa án có trách nhiệm
thực thi pháp luật như một ban hòa giải tư
nhân. Như vậy, chức năng chính trị của nhà
vua rất hạn chế và mờ nhạt, luật của dân
chúng mới là nguồn chính yếu để trị an.
Nhà thơ cổ Pindar đã thể hiện tư tưởng
của Hy Lạp cổ về việc không thể thay đổi
luật khi viết “Luật là vua của tất cả”17.
Những cam kết trong hiến pháp của người
Hy Lạp có sự vay mượn nhất định từ luật
La Mã. Luật tư chính là nguồn của tất cả
các luật khác của người La Mã. Luật công
do đó là một dạng hợp đồng dân sự được
khái quát hóa ở cấp độ cao hơn. Hiến pháp
bản chất là bản khế ước xã hội mà công dân
ký kết và đồng thuận để được đảm bảo một
số quyền và lợi ích hiến định. Học thuyết
của người La Mã thời Trung cổ cho rằng
dân chúng là nguồn của mọi luật và bất cứ
luật công nào, đặc biệt về thuế cần phải dựa
trên sự ưng thuận. Học giả McIlwain khẳng
định “dù luật hiện đại của chúng ta là gì, La
Mã vẫn là cội nguồn của nền tài phán và
dù chúng ta theo hình thức chính thể nào,
Hy Lạp đã đặt nền móng cho nền khoa học
chính trị”18.
Sau khi những vị vua phong kiến cố
gắng để tái định nghĩa quan hệ chính trị liên
quan đến việc chia đất và hợp pháp tư cách
hoàng đế của mình, họ được coi là người
cai trị với tư cách cá nhân nhưng quyền lực
bị hạn chế. Tài sản vẫn giữ được sự tự chủ
vốn có nên việc đánh thuế chưa bao giờ trở
thành một đặc quyền hoàng gia nhưng bằng
hình thức tự nguyện cống nộp qua nghị viện
đến nhà vua. Với quyền lực của mình, nhà
vua ra vẻ có thể quản lý luật pháp nhưng
các vị thẩm phán chỉ có thể thực thi luật
hiện hành và loại suy luật đất đai chứ cũng
không thể thực hiện những yêu cầu xung
đột với pháp luật của nhà vua. Luật gia
người Anh, John Fortescue cho rằng đây là
sự kết hợp của “quy định hoàng gia và hiến
định” hay ngắn gọn hơn là nền quân chủ
mà nhà vua trị vì và ban hành luật chỉ khi
có sự phê chuẩn của nhân dân. Một học giả
hiện đại khác về học thuyết chính trị Trung
cổ thì nhận định đây là “nhà vua kép”20. Về
bản chất, việc luật và quyền cai trị xuất phát
từ nhân dân tương thích với các nguyên tắc
của luật La Mã.
- Chủ nghĩa hiến pháp thời Trung cổ
(Medieval Constitutionalism)
Ở góc độ quốc tế, giáo hoàng đấu tranh
với hoàng đế còn trong nước thì vua đấu
tranh với chính dân chúng. Thậm chí giáo
hoàng trong cuộc chiến với vua đã thắng và
giành được quyển bổ nhiệm cũng như cai trị
giám mục trong lãnh thổ của mình19. John
of Paris chỉ ra rằng, giáo hoàng chỉ là người
quản lý cộng đồng Cơ đốc và tài sản của
họ còn Aquinas nhận thức được việc phân
chia nhà nước và nhà thờ là một vấn đề hiến
định. Chính quyền tốt nhất trong cả nhà thờ
và nhà nước đều đại diện cho người dân,
chịu trách nhiệm trước họ và bảo hộ cho
quyền của họ.
Gót chân Achilles của chính quyền
bị giới hạn ở Anh quốc là sự thiếu vắng
các cơ quan để kiềm chế nhà vua. Học giả
McIlwain giải thích về sự tan rã của hiến
pháp Trung cổ là kết quả của cuộc đấu tranh
17. Tiếng Hy Lạp là “nomos ho panton basileus ».
18. McIlwain C.H (1932), The Growth of Political Thought in the West, Macmillan, pp. 3.
19. Tierney B. (1964), The Crisis of Church and State, Prentice-Hall, Englewood Cliffs.
20. Gierke O. (1990), Political Theories of the Middle Age, Cambridge University Press.
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
trường kỳ giữa nền quân chủ và nhân dân
trong việc mở rộng địa vị của mỗi bên trong
việc phân chia quyền lực.
Madison rằng, con người không phải thiên
thần đã trở nên nổi tiếng tại Mỹ. Madison
không khẳng định rằng mọi người đều lạm
dụng quyền lực khi có cơ hội nhưng nhìn từ
khía cạnh thống kê, ông nhận định bất cứ
cơ quan nào được cho phép hoặc có thể lạm
dụng quyền lực đều có thể bị biến chất, trở
thành bạo chúa.
- Chủ nghĩa hiến pháp hiện đại
(Modern constitutionalism)
Học giả Francis Wormuth đã phân tích
thấu đáo hai mươi năm nghiên cứu hiến
pháp đến từ những cuộc nội chiến của Anh
quốc21. Những năm tháng chinh phạt của
Cromwellian đã được khắc họa với việc
thử nghiệm và thảo luận về những ý tưởng
xoay quanh chủ quyền phổ biến, hiến pháp
thành văn, giới hạn hiến định, phân chia
quyền lực, kiềm chế đối trọng và cơ quan
lập pháp lưỡng viện. Trong thời kỳ này,
cuốn “The Commonwealth of Oceana” của
chính trị gia James Harrington đã là nguồn
cảm hứng chính cho những vị cha đẻ của
nước Mỹ, đặc biệt là John Adams. Những
ý niệm hiến định đó đã được áp dụng thành
công ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ dù chưa
hoàn thiện và toàn diện ở thời điểm đầu
khi được công bố.
- Học thuyết chính trị và chủ nghĩa
hiến pháp
Từ bản chất của con người, pháp luật
chính là hình thức tổ chức xã hội cao nhất
mà chúng ta cần phải đạt được. Do đó, sự
kiềm chế quyền lực của các cơ quan nhà
nước là rất quan trọng để phòng ngừa khả
năng làm ô uế nền pháp quyền. Hiến pháp
Mỹ đã thành công trong việc thiết kế sự
cân bằng nội bộ và tính phức tạp trong việc
ra quyết định để ngăn chặn sự tập trung
quyền lực vào tay của một cá nhân hay một
phe nhóm.
Francis Wormuth là một trong những
người giúp các học giả đương đại nhìn
được trọng tâm của chủ nghĩa hiến pháp
là “sự phòng ngừa bổ trợ” hay James
Madison gọi đó là “sự trù liệu không đủ để
miêu tả sự kiềm chế đối với chính quyền
nhưng ít nhất trong các hoạt động thường
nhật”23. Hayek nhà kinh tế học đã tiệm cận
được quan niệm này khi ông định nghĩa
luật hiến pháp là siêu cấu trúc được tạo ra
để bảo đảm thực thi pháp luật hơn là nguồn
của mọi luật khác24. Học giả Tom Paine thì
cho rằng, “hiến pháp là tiền đề của chính
quyền” và tin rằng “chính quyền chỉ là tay
sai của hiến pháp”25.
Hiến pháp Mỹ không hề đưa ra bất cứ
nguyên tắc nào của luật tự nhiên hay học
thuyết chính trị mà chỉ cụ thể hóa chức
năng, quyền hạn và giới hạn của một số cơ
quan nhà nước. Hiến pháp Mỹ không phải
là một bản khế ước theo quan niệm của
John Locke mà David Hume mới là người
tạo ra những lý luận nền tảng ẩn sâu trong
cách thiết kế hiến pháp Mỹ. Để đạt được
sự cân bằng quyền lực giữa các cơ quan và
thượng tôn pháp luật trong bối cảnh nước
Mỹ lúc bấy giờ, có lẽ những người cha đẻ
của bản hiến pháp đã lấy cảm hứng từ hai
cuốn sách của Hume mang tên “History of
England and Political Essays”22. Xuất phát
từ quan điểm của Hume, nhận định của
Hiến pháp thực chất được soạn ra để
bảo vệ người dân bị đe dọa bởi chính những
người cai trị họ. Nhớ lại về Hiến chương
21. Wormuth F.D. (1949), The Origins of Mordern Constitutionalism, Harper.
22. Whelan F.G. (1985), Order andArtifice in Hume’s Political Philosophy, Princeton University Press, pp. 348-373.
23. Wormuth, The Origins of Modern Constitutionalism, pp. 3.
24. Hayek F.A. (1976), Law, Legislation, and Liberty, University of Chicago Press.
25. McIlwain, Constitutionalism, pp. 21.
10
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
“Magna Carta” khi người dân khởi nghĩa
nhưng không phải để đảo chính, mà họ bắt
nhà vua phải cam kết duy trì và thượng tôn
pháp luật hoặc “tự do của dân chúng”. Cách
định nghĩa chủ nghĩa hiến pháp hẹp nhất là
thực hành học thuyết đạo đức chính trị trong
việc khám phá các nguyên tắc nền tảng để
điều hòa tự do và bình đẳng. Bản Tuyên
ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp
năm 1789 đã phân biệt “quyền con người”
và “quyền công dân” là hai khái niệm khác
nhau làm mất đi tính phổ quát (universality)
của quyền con người. Anh quốc không đề
cập đến chữ tự do nhiều như nước Pháp
láng giềng nhưng nguyên tắc “cắt bánh”
trên thực tế lại đạt hiệu quả tốt hơn. Nguyên
tắc đó đơn giản là “người cắt bánh phải lấy
phần của mình sau cùng”. Ở Mỹ, học giả
Ronald Dworkin đã có nhiều đóng góp lớn
khi ông công khai thúc giục Tối cao pháp
viện và các thẩm phán phải thấu rõ trách
nhiệm của mình trong việc đưa công lý đạt
được những nguyên tắc hiển nhiên của bình
đẳng trong những vụ án hóc búa26.
pháp quyền được xem là một nguyên tắc
hiến định, một nguyên tắc mang tính thực
định, trung tâm của luật công. Sau đó, quan
niệm này được du nhập sang Liên Xô và
Việt Nam. Ở Việt Nam, chúng ta luôn nhắc
đến khái niệm “nhà nước pháp quyền” chứ
ít bàn đến hai chữ “pháp quyền” khi chúng
đứng độc lập. Ngược lại, hai nước Anh và
Mỹ là biểu tượng của truyền thống pháp
luật Thông luật (common law) đều giữ lại
nguyên bản hai chữ “pháp quyền”. Hiến
pháp của các quốc gia thuộc hệ thống pháp
luật này cũng hiếm khi ghi nhận trực tiếp
“rule of law”, nhưng việc tổ chức, vận hành
của hệ thống chính trị và pháp luật các nước
này lại đáp ứng các tiêu chuẩn, đòi hỏi và
chuẩn mực của “nhà nước pháp quyền” theo
cách hiểu của các quốc gia châu Âu lục địa:
phân quyền; bảo đảm nhân quyền; tư pháp
độc lập; tài phán hiến pháp…
Theo cách hiểu của hệ thống pháp luật
châu Âu lục địa hay Dân luật thì địa vị của
hiến pháp, nhà nước và nền pháp quyền
được xếp lần lượt theo chiều dọc. Hiến pháp
là đạo luật tối cao của quốc gia, quy định
cách tổ chức bổ máy nhà nước và thông qua
nhà nước thì nền pháp quyền mới được đảm
bảo và thực thi. Ngược lại, các quốc gia theo
hệ thống pháp luật Anglo-saxon cho rằng
chủ nghĩa hiến pháp là hiện thân của pháp
quyền và chính là pháp quyền. Như vậy, có
thể hình dung nhà nước sẽ bị kiềm chế đối
trọng giữa hiến pháp và pháp quyền. Nhà
nước chỉ là “tay sai” của hiến pháp và phải
chịu sự phối hợp giám sát của cả hiến pháp
và pháp quyền.
Trong cách tiếp cận của người Mỹ, do
đặc điểm đặc thù của họ phải thành lập một
nhà nước liên bang với một văn bản Hiến
pháp có hiệu lực pháp luật tối cao, không ít
các học giả của họ đều có nhận định rằng,
chủ nghĩa hiến pháp tương đương với nhà
nước pháp quyền27.
- Kết luận
Pháp quyền khi du nhập vào các nước
theo truyền thống pháp luật dân luật (civil
law) như Pháp và Đức đều xuất hiện thêm
chữ “nhà nước” theo cách dịch của các
nước này. Đức dịch là “Rechtsstaat” trong
đó “Staat” là nhà nước, Pháp dịch là “état
de droit” trong đó “état” cũng là nhà nước.
Họ cho rằng nền pháp quyền chỉ được duy
trì khi gắn nó với nhà nước. Nhà nước chính
là thiết chế bảo đảm pháp quyền. Nhà nước
Pháp quyền đưa ra những nguyên tắc
của một nhà nước tốt và chủ nghĩa hiến
pháp cụ thể hóa việc đó bằng việc kiềm soát
quyền lực của nhà nước để bất cứ ai đều
thượng tôn pháp luật
26. Dworkin R. M. (1980), Political Judges and the Rule of Law, The British Academy, pp. 282.
27. Greg Russell, sdd.
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
11
Bạn đang xem tài liệu "Pháp quyền và chủ nghĩa hiến pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phap_quyen_va_chu_nghia_hien_phap.pdf

