Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành về truyền thông giáo dục sức khoẻ của cán bộ y tế xã, phường – tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011

KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ TRUYỀN THÔNG  
GIÁO DỤC SỨC KHOẺ CỦA CÁN BỘ Y TẾ XÃ, PHƯỜNG  
– TỈNH THỪA THIÊN HUẾ NĂM 2011  
Lê Trung Quân, Nguyễn Minh Dũng, Hầu Văn Nam, Tôn Thất Hiền,  
Thái Văn Khoa, Nguyễn Hoàng Anh, Nguyễn Phương Huy, Nguyễn Văn Cương  
Trung tâm Truyền thông GDSK tỉnh Thừa Thiên Huế  
Tóm tắt nghiên cứu  
Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về truyền thông giáo dục sức khoẻ  
(TT-GDSK) của cán bộ y tế xã phường đã phỏng vấn và quan sát 888 người tại Thừa  
Thiên Huế. Kết quả cho thấy tỷ lệ thái độ rất đúng chiếm 67,7% nhưng tỷ lệ thực hành  
tốt chỉ chiếm 14,3% và không có cán bộ y tế (CBYT) nào có kiến thức loại tốt. Vẫn còn  
thiếu hụt về kiến thức: chỉ 7,9% CBYT biết các dấu hiệu cơn sốt rét điển hình, 5,0% biết  
được đầy đủ các bước chế biến của một bữa ăn bổ sung. Trong thực hành kỹ năng truyền  
thông, chỉ có 22,1% thực hiện thảo luận để giải quyết khó khăn với đối tượng. Nghiên  
cứu chỉ ra mối liên quan giữa tìm hiểu thông tin y học, tham gia thực hiện và được đào  
tạo các các nội dung của chương trình mục tiêu quốc gia về y tế với kiến thức, mối liên  
quan giữa thời gian công tác, sự hài lòng về mức thu nhập với thái độ và mối liên quan  
giữa sự tham gia đóng vai trong tập huấn, có đầy đủ tài liệu truyền thông với thực hành  
về TT-GDSK.  
1. Đặt vấn đề  
Trong hệ thống chăm sóc sức khoẻ Việt Nam, trạm y tế xã, phường là nơi đầu  
tiên người dân tiếp cận khi ốm đau. Nhiệm vụ của trạm y tế xã, phường là tổ chức thực  
hiện các chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu. CBYT xã, phường có vai trò quan  
trọng trong vận động và thực hiện công tác xã hội hoá y tế nói chung và đặc biệt là công  
tác TT- GDSK, các lời khuyên của họ đều thiết thực hữu ích, dễ được người dân chấp  
nhận làm theo. Để thực hiện tốt nhiệm vụ TT-GDSK người truyền thông cần được trang  
bị kiến thức về y học, kiến thức về tâm lý, khoa học hành vi, đặc biệt là kỹ năng truyền  
thông, giao tiếp. Theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm TT-GDSK Trung ương năm  
2004, nguồn cung cấp thông tin sức khỏe đến với người dân thông qua cán bộ y tế là  
92,3%, và 65,1% người dân cho rằng nguồn thông tin này là dễ hiểu.  
Như vậy, để đáp ứng nhu cầu người dân tìm kiếm thông tin về sức khỏe và làm sao  
để nguồn thông tin này chính xác, dễ hiểu, dễ được người dân chấp nhận thì cần phải  
thường xuyên đào tạo về kiến thức và kỹ năng TT-GDSK cho đội ngũ CBYT.  
Trên cơ sở đó, việc đánh giá năng lực hoạt động TT-GDSK của CBYT tại trạm  
y tế xã, phường nhằm đưa ra các giải pháp, xây dựng một kế hoạch chương trình đào  
tạo kỹ năng TT-GDSK phù hợp cho cho đội ngũ cán bộ y tế xã, phường. Vì vậy, chúng  
tôi tiến hành đề tài Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành truyền thông giáo dục sức khoẻ  
của cán bộ y tế xã, phường - tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011.  
109  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
1. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành TT-GDSK của CBYT xã, phường tỉnh Thừa  
Thiên Huế.  
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành TT-GDSK  
của CBYT xã, phường tỉnh Thừa Thiên Huế.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Đối tượng nghiên cứu: CBYT xã, phường, thị trấn của tỉnh Thừa Thiên Huế  
3.2. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4/2011-3/2012  
3.3. Địa điểm nghiên cứu: tại 152 TYT xã, phường, thị trấn tỉnh Thừa Thiên Huế.  
3.4 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang  
3.4.1. Cỡ mẫu: toàn bộ 888 CBYT đang công tác tại các TYT xã phường, thị trấn.  
3.4.2. Chọn mẫu: chọn những CBYT thuộc biên chế của trạm, đây là những cán bộ  
đang và sẽ tiếp tục công tác ổn định lâu dài tại trạm, là đối tượng sẽ tiếp tục hưởng lợi  
sau khi có những kiến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu. Loại trừ các trường hợp  
CBYT thuộc đơn vị y tế tuyến tỉnh hoặc huyện đang công tác tăng cường tại các trạm y  
tế theo chương trình đưa bác sĩ về trạm y tế xã, CBYT thuộc biên chế trạm đang đi học  
dài hạn trên 3 tháng tại thời điểm nghiên cứu không thể sắp xếp được thời gian để tham  
gia phỏng vấn.  
3.4.3. Công cụ thu thập số liệu: Thiết kế bộ câu hỏi cho các đối tượng điều tra dựa vào  
giáo trình “ Một số khái niệm cơ bản về truyền thông- giáo dục sức khỏe” và nội dung  
“Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy  
hiểm và HIV/AIDS giai đoạn 2006 – 2010”. Thiết kế phần đánh giá thực hành dựa vào  
bảng kiểm kỹ năng truyền thông trực tiếp, chi tiết hóa các nội dung trong bảng kiểm thành  
các tiêu chí cụ thể.Thiết kế phần đánh giá trang thiết bị, tài liệu truyền thông dựa vào hướng  
dẫn đánh giá hoạt động TT-GDSK tuyến huyện, xã.  
3.4.4. Xử lý số liệu: Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS phiên bản 11.5.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu  
Trong 888 CBYT xã được điều tra, nhóm tuổi từ 36-45 tuổi chiếm 31,3%, tiếp  
theo là nhóm tuổi từ 26- 35 tuổi và 46-55 tuổi (28,0% và 25,5%). Tỷ lệ CBYT là nữ cao  
hơn nam (65,0% so với 35,0%). Dân tộc Kinh chiếm 88,7%. Số năm công tác của  
CBYT phổ biến ở mức trên 10 năm (chiếm tỷ lệ 53,2%), tiếp theo là dưới 5 năm  
(34,1%), từ 5-10 năm chiếm tỷ lệ thấp (12,7%). 14,1% CBYT có mức thu nhập trên 4  
triệu đồng/tháng. CBYT có trình độ cao đẳng, trung cấp Y Dược chiếm tỷ lệ 62,2%,  
CBYT có trình độ đại học Y Dược chiếm 15,9%. Có 12,0% cán bộ không có bằng cấp  
chuyên môn Y Dược (chủ yếu là cán bộ làm công tác dân số).  
110  
4.2. Kiến thức, thái độ, thực hành về TT-GDSK của CBYT xã, phường  
Các hình thức truyền thông trực tiếp (TT) là một hoạt động truyền thông thường  
xuyên của CBYT nhưng tỉ lệ không biết hoặc hiểu sai là 20,7%. Tỷ lệ biết được dấu hiệu  
cơn sốt rét điển hình thấp 7,9%. Tỷ lệ không biết, sai về dấu hiệu bệnh ung thư là 15,5%.  
Thực hành dinh dưỡng là một hoạt động truyền thông thường xuyên của Chương trình  
phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em (CTPCSDDTE) nhưng tỷ lệ CBYT biết đầy đủ các  
bước chế biến thức ăn cho trẻ chỉ là 5,0%. Vẫn còn một số thiếu hụt về kiến thức về bảo  
vệ sức khoẻ tâm thần cộng đồng (BVSKTTCĐ), 73,6% không biết hoặc bao gồm tâm  
thần phân liệt (TTPL), động kinh và trầm cảm và 23,3% không biết hoặc sai các biểu  
hiện của bệnh TTPL.  
Bảng 1: Thiếu hụt kiến thức về khái niệm cơ bản TT-GDSK và một số chương  
trình mục tiêu quốc gia y tế  
Nội dung  
Tần số  
184  
70  
Tỷ lệ %  
20,7  
7,9  
CBYT không biết hoặc kể sai tên các hình thức truyền thông TT  
CBYT biết được biểu hiện của cơn sốt rét điển hình  
CBYT không biết, sai các dấu hiệu cần cảnh giác với ung thư  
CBYT biết đầy đủ các bước chế biến bữa ăn bổ sung cho trẻ  
CBYT không biết hoặc biết không đầy đủ 3 RLTT thuộc chương  
trình BVSKTTCĐ (TTPL, động kinh, trầm cảm)  
138  
44  
15,5  
5,0  
654  
73,6  
CBYT không biết hoặc sai các biểu hiện của bệnh TTPL  
207  
23,3  
Kết quả kiến thức chung về TT-GDSK không có CBYT nào đạt loại tốt, loại khá  
chiếm tỷ lệ thấp (20,4%), loại trung bình chiếm 53,9%. Vẫn còn 25,7% CBYT có kiến  
thức xếp loại kém.  
100% CBYT đồng ý rằng hoạt động TT-GDSK là một nội dung quan trọng đối  
với các CTMTQGYT, trong đó ở mức độ rất đồng ý là 89,5%. 92,5% CBYT cho rằng  
trách nhiệm thực hiện công tác TT-GDSK là của tất cả CBYT, chỉ một số ít (7,5%) cho  
rằng trách nhiệm này thuộc về trưởng trạm y tế. Kết quả thái độ chung về TT-GDSK, mức  
độ rất đúng chiếm tỷ lệ 67,7%, mức độ đúng chiếm 32,3%. Không có CBYT nào có  
thái độ sai đối với TT-GDSK  
Trong việc đánh giá thực hành kỹ năng truyền thông TT, số CBYT đạt loại tốt và  
khá với tỷ lệ thấp (14,3 và 24,0%), phần lớn vẫn là loại trung bình (42,7%), CBYT bị  
loại kém là 19,0%.  
Bảng 2: Các thiếu hụt về thực hành kỹ năng TT-GDSK trực tiếp  
Nội dung  
Tần số  
196  
Tỷ lệ %  
22,1  
CBYT thảo luận để giải quyết khó khăn với đối tượng  
CBYT đặt câu hỏi để kiểm tra xem đối tượng có hiểu vấn đề  
255  
28,7  
111  
CBYT hứa hỗ trợ giúp đỡ thực hiện những điều sẽ làm  
CBYT đạt được cam kết với đối tượng những điều sẽ làm  
147  
215  
16,6  
24,2  
CBYT bỏ qua tiêu chí thảo luận và giải quyết khó khăn cho đối tượng truyền  
thông, chỉ có 22,1% số người thực hiện tiêu chí này. Các kỹ năng kiểm tra, khuyến  
khích và cuối cùng là cam kết, nhiều CBYT không thực hiện các tiêu chí này và kết quả  
đạt được là khá thấp dưới 30%.  
4.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về TT-GDSK của  
CBYT xã, phường  
Bảng 3: Yếu tố liên quan đến kiến thức về TT-GDSK của CBYT  
Đạt  
Không đạt  
Yếu tố  
P
Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ %  
Tham gia ≥ 3 CTMTQGYT  
Tham gia < 3 CTMTQGYT  
Tập huấn ≥ 3 lĩnh vực  
87  
94  
33,0  
15,1  
27,3  
9,1  
177  
530  
399  
308  
649  
58  
67,0  
84,9  
72,7  
90,9  
78,9  
89,2  
p<0,05  
p<0,05  
p<0,05  
150  
31  
Tập huấn < 3 lĩnh vực  
Quan tâm, tìm hiểu TTYH  
Không quan tâm, tìm hiểu TTYH  
174  
7
21,1  
10,8  
Kết quả bảng 3 cho thấy CBYT tham gia từ 3 CTTMTQGYT trở lên thì mức độ  
kiến thức đạt chiếm 33,0%; cao hơn nhóm CBYT tham gia dưới 3 chương trình (15,1%),  
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). CBYT có tham gia tập huấn, đào tạo từ 3 lĩnh  
vực trở lên thì mức độ kiến thức đạt chiếm 27,3%; cao hơn nhóm CBYT chỉ được tập  
huấn, đào tạo dưới 3 lĩnh vực (9,1%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Có  
mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm CBYT có quan tâm tìm hiểu thông tin y  
học (TTYH) với mức độ kiến thức chung về TT-GDSK.  
Bảng 4: Mối liên quan giữa một số yếu tố đến thái độ chung về TT-GDSK  
Rất đꢀng  
Đꢀng  
Tỷ lệ %  
Yếu tố  
P
Tần số  
Tỷ lệ %  
73,8  
Tần số  
37  
Trình độ  
ĐH Y dược  
Khác  
104  
497  
438  
163  
89  
26,2  
33,5  
25,1  
46,2  
16,8  
34,4  
p>0,05  
p<0,05  
P<0,05  
chuyên môn  
Thời gian  
công tác  
66,5  
250  
147  
140  
18  
≥5 năm  
<5 năm  
Đủ  
74,9  
53,8  
Hài lòng với  
83,2  
mức thu nhập  
Không đủ  
512  
65,6  
269  
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thời gian công tác, sự hài lòng về mức  
thu nhập với kết quả thái độ chung của CBYT về TT-GDSK.  
Bảng 5: Các yếu tố liên quan đến thực hành truyền thông trực tiếp  
112  
Đạt  
Không đạt  
Yếu tố  
P
Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ %  
Đầy đủ  
182  
158  
193  
147  
278  
34  
40,8  
35,7  
44,3  
32,5  
66,0  
22,8  
264  
284  
243  
305  
143  
115  
59,2  
64,3  
55,7  
67,5  
34,0  
77,2  
Trang thiết bị  
truyền thông  
Tài liệu  
p>0,05  
Không đầy đủ  
Đầy đủ  
p<0,05  
p<0,05  
truyền thông  
Không đầy đủ  
Có  
Thực hành đóng vai  
trong tập huấn  
Không  
Không có sự khác biệt mức độ thực hành giữa nhóm CBYT có đầy đủ trang thiết  
bị truyền thông với nhóm có không đầy đủ (p>0,05). Mức độ thực hành đạt chiếm tỷ lệ  
lớn hơn ở CBYT có đầy đủ tài liệu truyền thông (44,3%) so với CBYT có không đầy đủ  
(32,5%) (p<0,05). Trong số những cán bộ được tập huấn kỹ năng thực hành TT-GDSK  
(n=570), CBYT có tham gia thực hành đóng vai thì mức độ thực hành đạt (66,0%) cao  
hơn nhóm không tham gia đóng vai trong tập huấn (22,8%).  
5. Bàn luận  
5.1. Về đặc điểm của CBYT xã, phường  
Nghiên cứu cho thấy giữa các nhóm từ 26 đến 55 tuổi, nhóm từ 26-35 tuổi chiếm  
28,0%, nhóm từ 36-45 tuổi chiếm 31,3% và nhóm từ 46-55 tuổi chiếm 25,5%. Đây là một  
trong những điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý và phân công nguồn nhân lực một cách  
hợp lý, phục vụ cho công tác TT-GDSK tại tuyến xã. Bên cạnh đó, nữ chiếm tỷ lệ nhiều hơn  
nam (65,0% và 35,0%), đây cũng là một điểm mạnh, rất phù hợp cho truyền thông các  
chương trình y tế, phần lớn tập trung vào các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em.  
Trong công tác truyền thông, CBYT là nữ giới thường có tinh thần trách nhiệm, tận tình, chu  
đáo, tính tình nhẹ nhàng, nếu CBYT là nữ sẽ dễ tiếp cận với đối tượng cần được truyền thông,  
tư vấn là phụ nữ và trẻ em hơn là nam giới. CBYT dân tộc Kinh chiếm 88,7%. Các dân tộc  
khác chiếm 11,3% trong đó tập trung chủ yếu ở 2 huyện miền núi A Lưới (66,4%) và Nam  
Đông (26,3%). Số năm công tác của CBYT phổ biến ở mức trên 10 năm, chiếm tỷ lệ cao nhất  
(53,2%), với tỷ lệ cao CBYT có thâm niên công tác kết hợp với độ tuổi từ 36-55 là nguồn  
nhân lực quan trọng, có nhiều kinh nghiệm về công tác TT-GDSK cũng như tạo được uy tín  
trong cộng đồng.  
5.2. Kiến thức, thái độ, thực hành về TT-GDSK của CBYT xã, phường  
5.2.1. Kiến thức về TT-GDSK của CBYT xã, phường  
Một số thiếu hụt về kiến thức TT-GDSK của CBYT đã được xác định. Một câu  
hỏi rất đơn giản là kể tên các hình thức truyền thông trực tiếp, kết quả tỷ lệ cán bộ kể  
tên được 3 hình thức truyền thông trực tiếp trở lên chỉ có 37,6% và 20,7% không kể  
được hình thức nào. Điều này cũng cho thấy, có thể những CBYT không kể được tên  
hình thức truyền thông trực tiếp nào rằng chưa bao giờ hoặc rất ít khi thực hiện hoặc  
tham gia tổ chức thực hiện 3 hình thức truyền thông trực tiếp thường xuyên tiến hành tại  
113  
trạm y tế và cộng đồng đó là: tư vấn, thăm hộ gia đình, nói chuyện sức khỏe tại các buổi  
họp thôn, tổ.  
Tỷ lệ CBYT nhận biết được các triệu chứng của bệnh sốt rét không cao, biết đầy  
đủ 2 đặc điểm của triệu chứng sốt rét chỉ chiếm 7,9%, trong đó tỷ lệ biết sốt rét là bệnh  
diễn biến thành cơn có chu kỳ chỉ chiếm 24,5% và biết đặc điểm của cơn sốt diễn tiến 3  
giai đoạn: rét, nóng, vã mồ hôi chiếm 53,9%, kết quả này tương tự với nghiên cứu của  
Cục Y tế dự phòng (26,8% và 54,3%). Tuy sốt rét chỉ gặp nhiều ở miền núi và các vùng  
sâu vùng xa, nhưng do đặc điểm di cư tự do, người bệnh sốt rét có thể mang mầm bệnh  
từ vùng có dịch đến vùng không có dịch, và chỉ cần xuất hiện muỗi anopheles trên địa  
bàn là đủ điều kiện để dịch có thể xảy ra. Việc không nắm bắt được triệu chứng bệnh,  
không những gây khó khăn cho vấn đề chẩn đoán, bỏ sót nguồn lây mà còn giảm hiệu  
quả trong việc truyền thông để người dân tự phát hiện bệnh kịp thời, có thể hình thành  
tâm lý chủ quan với dịch của các cán bộ y tế ở các vùng không có dịch sốt rét lưu hành  
và có thể dẫn đến bùng phát dịch tại những vùng này.  
Chương trình ung thư bắt đầu được triển khai tại Thừa Thiên Huế từ 2008, so  
với các chương trình y tế khác thì đây là chương trình khá mới, có thể đây là nguyên  
nhân khiến cho 15,5% CBYT không biết dấu hiệu nào hoặc hiểu sai các dấu hiệu nghi  
ngờ.  
Việc tổ chức hướng dẫn thực hành nấu 1 bữa ăn dinh dưỡng cho các bà mẹ là  
một trong những hoạt động quan trọng của chương trình PCSDDTE và thường xuyên  
được tổ chức tiến hành, nhưng kết quả cho thấy số CBYT biết đầy đủ 5 bước chế biến  
một bữa ăn bổ sung cho trẻ rất thấp (5,0%). Điều này có thể lý giải là công tác này một  
số trạm y tế giao khoán cho nữ hộ sinh tiến hành, những CBYT khác không làm, không  
thực hành thì họ không biết, hoặc biết không đầy đủ các bước là điều dễ hiểu.  
Ba rối loạn tâm thần thuộc chương trình BVSKTTCĐ giai đoạn 2006-2010 gồm:  
bệnh tâm thần phân liệt, động kinh và trầm cảm đã được triển khai nhưng có 73,6%  
CBYT không biết hoặc biết không đầy đủ, có đến 23,3% CBYT không biết hoặc hiểu  
sai các biểu hiện của bệnh tâm thần phân liệt (TTPL). Các kiến thức về sức khỏe tâm  
thần là tương đối khó so với các chương trình khác, và vẫn còn tâm lý ỷ lại của một bộ  
phận CBYT, xem đây là nhiệm vụ chuyên môn đơn thuần của bác sỹ, y sĩ. Vì vậy, cần  
xây dựng và thiết kế các thông điệp truyền thông về sức khỏe tâm thần một cách khoa  
học và phù hợp hơn, cũng như ưu tiên đào tạo, tập huấn về chương trình này.  
Nhìn chung, kiến thức chung về TT-GDSK của CBYT tuyến xã phường vẫn còn  
nhiều hạn chế, chưa đầy đủ và thấp hơn so với mong đợi. Kết quả tổng hợp chung cho  
thấy không có CBYT nào đạt loại tốt, loại khá cũng chiếm tỷ lệ thấp (20,4%), phần lớn  
là loại trung bình, chiếm hơn phân nửa (53,9%) và vẫn còn một tỷ lệ đáng kể CBYT bị  
loại kém (25,7%).  
5.2.2. Thái độ về TT-GDSK của cán bộ y tế xã, phường  
114  
100% CBYT đồng ý rằng hoạt động TT-GDSK là một nội dung quan trọng đối  
với các CTMTQGYT, trong đó ở mức độ rất đồng ý là 89,5%. Hoạt động truyền thông  
giáo dục sức khoẻ tuy không thể thay thế được các hoạt động chuyên môn của  
CTMTQGYT, nhưng nó góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của các dịch  
vụ chăm sóc sức khoẻ của CTMTQGYT đó. Nhận thức được điều này, đa số CBYT đều  
cho rằng trách nhiệm thực hiện công tác TT-GDSK là nhiệm vụ của tất cả CBYT  
(92,5%), chỉ một số rất ít (7,5%) cho rằng trách nhiệm này thuộc về trưởng trạm y tế.  
Nhìn chung, tỷ lệ CBYT có mức độ thái độ chung đúng là khá tốt, 67,7% có thái  
độ mức rất đúng, mức độ đúng là 32,3% và không có CBYT nào có thái độ sai đối với  
TT-GDSK.  
5.2.3.Thực hành về TT-GDSK của cán bộ y tế xã, phường  
Kỹ năng truyền thông trực tiếp là một kỹ năng truyền thông quan trọng mà bất  
cứ truyền thông viên (TTV) nào cũng cần được trang bị qua các lớp đào tạo, tập huấn và  
thực hiện thường xuyên trong công tác TT-GDSK. Tuy nhiên qua nghiên cứu vẫn còn  
một số thiếu hụt trong kỹ năng này cần được tập trung công tác đào tạo, tập huấn trong  
thời gian đến. Kết quả thực hành kỹ năng truyền thông trực tiếp, số CBYT đạt loại tốt  
và khá rất ít (14,3% và 24,0%), phần lớn vẫn là loại trung bình (42,7%). Vẫn còn số  
CBYT bị loại kém (19,0%).  
Kỹ năng hỏi là một kỹ năng quan trọng trong truyền thông trực tiếp bằng cách sử  
dụng các câu hỏi mở. Nghiên cứu cho thấy phần lớn CBYT chỉ hỏi 1-2 câu (59,7%), hỏi  
3-4 câu chiếm 29,2% và 11,1% người không đặt câu hỏi nào. Về nội dung các câu hỏi thì  
tỷ lệ CBYT đặt câu hỏi để tìm ra được những điều đối tượng đã biết (77,4%), tìm ra được  
những điều đối tượng đã làm đúng (45,3%), tìm ra được những điều đối tượng đã làm  
chưa đúng (40,3%) và tìm ra được những khó khăn đối tượng (19,9%). Nhìn vào kết quả  
trên, phần lớn nội dung câu hỏi đều thiên về khai thác sự hiểu biết của đối tượng, còn đi  
sâu vào hành vi đúng và chưa đúng hoặc khó khăn khi thực hiện hành vi mới đều rất thấp.  
Điều này làm giảm hiệu quả của công tác truyền thông, khi khuyên nhủ đối tượng, CBYT  
sẽ chỉ cung cấp thông tin mang tính một chiều là chính.  
Kỹ năng khuyên nhủ là kỹ năng quan trọng nhất, chiếm nhiều thời gian nhất  
trong một cuộc truyền thông trực tiếp và là kỹ năng có liên quan mật thiết đến kỹ năng  
hỏi. Nếu không hỏi để khai thác tốt thông tin thì khi khuyên nhủ truyền thông viên sẽ  
cung cấp thông tin mang tính 1 chiều hoặc áp đặt một cách chủ quan đối với những điều  
đối tượng nên làm. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng đã phản ảnh vấn đề trên, nội  
dung khuyên nhủ của CBYT phần lớn là bổ sung, cung cấp thông tin (92,1%), kế đến là  
hướng dẫn điều cần làm (74,8%) và rất ít CBYT tiến hành thảo luận giải quyết khó khăn  
để giúp đỡ đối tượng (22,1%).  
Kỹ năng kiểm tra khá đơn giản, dễ làm nhưng đa số CBYT đều bỏ qua, có đến  
71,3% không thực hiện kỹ năng này. Cùng với tiêu chí đặt câu hỏi kiểm tra (trong kỹ  
năng kiểm tra) để đánh giá nhanh về kiến thức của đối tượng có hiểu vấn đề được trao  
115  
đổi, thì tiêu chí cam kết nhằm đánh giá sự thay đổi thái độ của đối tượng sau khi được  
truyền thông. Đây là kỹ năng không khó nhưng chỉ có 24,2% CBYT thực hiện.  
5.3. Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và TT-GDSK của CBYT  
Mức độ kiến thức chung đạt cao hơn ở những CBYT có tham gia vào hoạt động  
từ 3 CTMTQGYT trở lên so với CBYT tham gia ít hơn 3 chương trình (33,0% so với  
15,1%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Như vậy, với kết quả trên ta  
cũng có thể đưa ra các khuyến nghị đối với công tác quản lý CTMTQGYT tại TYT.  
Trưởng trạm nên luân phiên phân công CBYT tham gia vào các chương trình y tế khác  
nhau, ngoài việc phải chịu trách nhiệm thực hiện chương trình, trong công tác truyền  
thông, mỗi bản thân CBYT phải tự tìm hiểu bổ sung thêm kiến thức về các thông điệp  
truyền thông để đáp ứng nhu cầu công việc.  
Trong 10 lĩnh vực khảo sát (bao gồm kiến thức, kỹ năng cơ bản về TT-GDSK và  
9 CTTMTQGYT), nhóm CBYT có tham gia tập huấn từ 3 lĩnh vực trở lên mức độ kiến  
thức chung đạt cao hơn so với CBYT chỉ tham gia tập huấn ít hơn 3 lĩnh vực (27,3% so  
với 9,1%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Như vậy, công tác đào tạo tập  
huấn là quan trọng trong việc nâng cao kiến thức cho CBYT, công tác nên được tiến  
hành thường xuyên. Tuy nhiên với nguồn lực hạn chế như hiện nay, cũng cần xây dựng  
kế hoạch đào tạo hợp lý, ưu tiên tập trung cho những nhóm đối tượng và chương trình  
có kết quả thấp.  
Nhóm CBYT có quan tâm tìm hiểu thông tin y học thì mức độ kiến thức chung đạt  
cao hơn (21,1% so với 10,8%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Như vậy với  
kết quả này, chúng ta có thể đề xuất các hình thức và khuyến khích CBYT dành một ít thời  
gian của công việc hàng ngày vào việc tìm hiểu thông tin y học.  
Nghiên cứu không tìm thấy sự liên hệ nào trình độ chuyên môn và kết quả thái  
độ chung về TT-GDSK. Tỷ lệ mức độ thái độ rất đúng ở những CBYT có trình độ Đại  
học Y Dược là 73,8%, nhóm CBYT có trình độ khác là 66,5% (p>0,05). Điều này có  
thể giải thích được là ngoài kiến thức, thái độ có thể chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố  
khác như niềm tin, kinh nghiệm sống và ảnh hưởng của những người xung quanh.  
Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ thái độ chung mức độ rất đúng cao 74,9% ở nhóm  
CBYT có thời gian công tác từ 5 năm trở lên. Trái lại nhóm CBYT công tác dưới 5 năm thì  
mức độ thái độ rất đúng thấp hơn (53,8%) (p<0,05). Như vậy cũng có thể thấy rằng khi thời  
gian công tác lâu hơn, CBYT tích lũy kinh nghiệm thu được trong cuộc sống, trong công việc  
hàng ngày và họ càng có thái độ tốt hơn về công tác TT-GDSK.  
Tỷ lệ thái độ rất đúng ở những CBYT cho rằng mức thu nhập hàng tháng đủ  
đảm bảo nhu cầu cho sinh hoạt, chi tiêu là 83,2%, nhóm cho rằng không đủ là 65,6%  
(p<0,05). Như vậy, có thể thấy ràng, khi đời sống kinh tế của CBYT được đảm bảo, họ  
có thái độ đúng đối công tác TT-GDSK.  
116  
Nghiên cứu không cho thấy sự liên quan nào giữa việc CBYT có đầy đủ trang  
thiết bị hay không và mức độ thực hành đạt. Nhóm CBYT có đầy đủ trang thiết bị thì  
mức độ thực hành đạt là 40,8%, nhóm CBYT có không đầy đủ thì mức độ này là 35,7%,  
sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Trong khi đó, nhóm CBYT có  
đầy đủ tài liệu truyền thông thì mức độ thực hành đạt chiếm 44,3%, tỷ lệ này cao hơn  
nhóm không có đầy đủ tài liệu truyền thông (32,5%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống  
kê (p>0,05). Như vậy có thể thấy rằng tài liệu truyền thông có thể ảnh hưởng đến kỹ  
năng thực hành của CBYT, trong khi đó thiết bị truyền thông như: âm ly, loa đài…thì  
không. Điều này có thể giải thích là các trang thiết bị truyền thông chủ yếu là phương  
tiện để chuyển tải thông tin đến người dân, và đặc biệt hiện nay CBYT ít tham gia vào  
hoạt động viết bài phát thanh, soạn và đọc các tin tức, nội dung truyền thông chủ yếu  
phát từ các băng, đĩa hình tiếng đã được cung cấp sẵn. Trong khi đó tài liệu truyền  
thông luôn là phương tiện hỗ trợ đắc lực cho CBYT trong khi truyền thông trực tiếp. Có  
thể là khi có đầy đủ tài liệu truyền thông, CBYT có hứng thú và giúp cho họ tự tin hơn  
trong khi truyền thông, và họ thường xuyên thực hiện công tác truyền thông trực tiếp từ  
đó nâng cao kỹ năng thực hành của mình. Nghiên cứu cũng quy định tiêu chuẩn có trên  
3 loại tranh lật là tiêu chuẩn bắt buộc để đánh giá trạm y tế có đầy đủ tài liệu truyền  
thông hay không vì đây là tài liệu truyền thông quan trọng nhất, chứa đựng nhiều nội  
dung, thường được sử dụng nhiều trong truyền thông trực tiếp và bền hơn các loại tài  
liệu khác. Từ kết quả nghiên cứu này, cần có kế hoạch tăng cường sản xuất đầy đủ các  
chủng loại tài liệu truyền thông, đặc biệt là tranh lật.  
Trong số những CBYT có tham dự các lớp tập huấn, đào tạo có nội dung thực  
hành kỹ năng truyền thông (n=570), thì tỷ lệ mức độ thực hành đạt ở nhóm có tham gia  
đóng vai thực hành cao hơn nhóm không tham gia đóng vai (26,1% so với 7,4%),  
(p<0,05). Từ kết quả này, làm cơ sở để xây dựng kế hoạch các lớp tập huấn về kỹ năng  
truyền thông, trong đó chú trọng đến số lượng học viên vừa đủ, không nhiều quá và phải  
dành thời gian cho mọi học viên được đóng vai thực hành.  
6. Kiến nghị  
-
Cần tổ chức đào tạo nâng cao kiến thức và thực hành TT-GDSK cho đội ngũ  
CBYT xã phường, tập trung vào nhóm điều dưỡng, kỹ thuật viên, nữ hộ sinh…  
Tổ chức nhiều hình thức lồng ghép để CBYT có điều kiện tìm hiểu và cập nhật  
thêm thông tin y học.  
-
-
Xây dựng, biên soạn đầy đủ, cập nhật thông tin tài liệu tập huấn về TT-GDSK  
để cung cấp cho tuyến y tế cơ sở.  
Lãnh đạo ngành y tế cần có giải pháp để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống  
cho CBYT cơ sở.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
117  
1. Cục Y tế dự phòng (2007), Báo cáo nghiên cứu nhu cầu cơ sở vật chất, trang thiết  
bị và nhân lực phòng chống bệnh truyền nhiễm của 60 huyện trong địa bàn dự án  
khu vực tiểu vùng sông Mê Kông, Hà Nội, tr.26-39.  
2. Nguyễn Tiến Lân (2003), Nghiên cứu tình hình hoạt động của trạm y tế xã tỉnh Kon-  
tum năm 2002-2003, Luận án chuyên khoa II, Đại học Y Dược Huế, tr.67.  
3. Tạc Văn Nam (2010), “Thực trạng nguồn lực phục vụ công tác truyền thông giáo dục  
sức khoẻ của ngành y tế tỉnh Bắc Kạn năm 2007-2008 và đề xuất một số giải pháp  
đến 2015”, Kỷ yếu các đề tài nghiên cứu khoa học về TT-GDSK giai đoạn 2001-2010,  
Nhà xuất bản Khoa học Kỹ Thuật, Hà Nội, tr.122-130.  
4. Nguyễn Quang Thuận và Cs (2007), “ Một số khái niệm cơ bản về truyền thông-  
giáo dục sức khỏe’’, Khoá học về các kỹ năng truyền thông- giáo dục sức khoẻ,  
Trung tâm TT- GDSK Trung ương, Hà Nội, tr.8-12.  
5. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia  
phòng, chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS giai đoạn 2006  
- 2010, Hà Nội.  
6. Trung tâm truyền thông GDSK TW-Dự án Y tế Nông thôn (2010), “Thực trạng  
công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ tại 13 tỉnh dự án y tế nông thôn”, Kỷ yếu  
các đề tài nghiên cứu khoa học về TT-GDSK giai đoạn 2001-2010, Nhà xuất bản  
Khoa học Kỹ Thuật, Hà Nội, tr.294-300.  
7. Hashim D.S, Al Kubais W. and Al DulaymeA (2003), “Knowledge, attitudes and  
practices survey among health care workers and tuberculosis patients in Iraq”,  
Eastern Mediterranean Health Journal, Vol. 9, No.4, 2003, p.718-731.  
8. Malaria Research Lead Program of the South African Medical Research Council  
(2008), Brief report Evaluation of Malaria Health Education Interventions using  
Knownledge, Attitudes and Practices (KAP) in South Africa, pp.5.  
9. Nighat Nisar, Muddasir Mirza, Majid Hafeez Qadri (2010), “Knowledge, Attitude  
and Practices of mothers regarding immunization of one year old child at Mawatch  
Goth, Kemari Town, Karachi”, Pak J Med Sci, 26(1), pp.183-186.  
10. Nguyen Toan Tran, Richard Taylor, Song Il Choe, Hae Suk Pyo, Ok Suk Kim,  
Hyon Chol So (2011), “Knowledge, Attitude and Practice (KAP) Concerning  
Cervical Cancer and Screening among Rural and Urban Female Healthcare  
Practitioners in the Democratic People’s Republic of Korea” Asian Pacific Journal  
of Cancer Prevention, Vol 12, 2011, pp.3023-3028.  
118  
pdf 10 trang yennguyen 13540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành về truyền thông giáo dục sức khoẻ của cán bộ y tế xã, phường – tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_kien_thuc_thai_do_thuc_hanh_ve_truyen_thong_giao_du.pdf