Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ cho người dân tại tỉnh Quảng Nam

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO  
CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ  
CHO NGƯỜI DÂN TẠI TỈNH QUẢNG NAM  
ThS. Nguyễn Thị Liên  
Sở Y tế tỉnh Quảng Nam  
Tóm tắt nghiên cứu  
Với mục đích tăng cường và thực hiện hiệu quả hơn nữa công tác truyền thông  
giáo dục sức khỏe (GDSK) đáp ứng nhu cầu được thông tin-GDSK của cộng đồng  
nghiên cứu mô tả cắt ngang triển khai trên cán bộ làm công tác TTGDSK của 15 tổ  
TTGDSK tuyến tỉnh, 9 phòng TTGDSK tuyến huyện, 41 tổ TTGDSK tuyến xã. Kết quả  
cho thấy: 15/15 đơn vị tuyến tỉnh đều đã thành lập tổ truyền thông GDSK, trung bình  
mỗi tổ có từ 3 đến 7 người nhưng đều là cán bộ kiêm nhiệm, không có cán bộ chuyên  
trách làm công tác GDSK, tại 9 Trung tâm Y tế tuyến huyện đều đã thành lập phòng  
truyền thông GDSK, trung bình mỗi phòng có từ 3 đến 7 người, 100% trạm y tế xã đều  
có tổ truyền thông GDSK, trung bình mỗi trạm có có từ 3 đến 7 người. Tại tuyến tỉnh,  
huyện 100% cán bộ công tác tại các tổ truyền thông GDSK đều đã được đào tạo kỹ  
năng truyền thông, 29.3% truyền thông viên tại xã được đào tạo. Tỉ lệ các tổ TTGDSK  
xây dựng kế hoạch năm, quí, tháng, tuần lần lượt là 81.5%, 73.8%, 40%, 9.2%. Tại  
tuyến tỉnh, 80% các tổ truyền thông sử dụng hình thức tư vấn, tỷ lệ các hình thức thảo  
luận nhóm, nói chuyện, thăm hộ gia đình cũng được các tổ truyền thông của các đơn vị  
y tế tuyến tỉnh sử dụng với tỷ lệ lần lượt là 46.7%; 40% và 20%. Tại tuyến huyện:  
77.8% các tổ truyền thông thực hiện nói chuyện sức khỏe, 66.7% các tổ truyền thông  
thực hiện tư vấn, 33.3% tổ truyền thông thực hiện thăm hộ gia đình và thảo luận nhóm.  
100% y tế thôn bản đều hoạt động công tác truyền thông GDSK, trung bình số lần  
truyền thông của YTTB là 23.8 lần/năm  
1. Đặt vấn đề  
Đảng, Nhà nước và ngành Y tế luôn coi trọng và khẳng định công tác truyền  
thông GDSK là một bộ phận không thể thiếu được trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe  
(CSSK) nhân dân.  
TTGDSK trong những năm qua đã góp phần quan trọng vào công tác CSSK nhân  
dân tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, tình hình bệnh tật diễn biến phức tạp, mô hình bệnh tật  
cũng có những thay đổi, một số bệnh mới nổi… kéo theo nhu cầu TT GDSK ngày càng  
tăng trong khi đó khả năng đáp ứng chưa theo kịp do nguồn lực đầu tư cho công tác này  
còn nhiều bất cập.  
Quảng Nam là tỉnh còn nghèo, tình hình kinh tế, xã hội giữa các vùng, miền phát  
triển không đồng đều, nhiều xã miền núi giao thông cách trở, thông tin liên lạc còn rất  
hạn chế, trình độ dân trí còn chênh lệch, ý thức vệ sinh, phòng bệnh của nhân dân nhìn  
chung còn thấp. Đây là khó khăn, thách thức không nhỏ cho công tác TTGDSK. Làm  
72  
thế nào tiếp tục tăng cường và thực hiện hiệu quả hơn nữa công tác truyền thông GDSK  
đáp ứng nhu cầu được thông tin-GDSK của cộng đồng để mỗi người dân, mỗi gia đình  
có được kiến thức và kỹ năng thực hành phòng bệnh, chữa bệnh đúng đắn, xây dựng  
nếp sống vệ sinh, rèn luyện thân thể…..? Với mục đích như vậy, chúng tôi tiến hành đề  
tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao công tác truyền thông  
giáo dục sức khoẻ cho người dân tại tỉnh Quảng Nam”.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
1. Nghiên cứu thực trạng công tác công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ cho  
người dân tại tỉnh Quảng Nam.  
2. Đề xuất một số giải pháp can thiệp nhằm nâng cao công tác truyền thông  
giáo dục sức khoẻ cho người dân tại tỉnh Quảng Nam.  
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
3.1.Đối tượng nghiên cứu  
-
-
-
Cán bộ làm công tác truyền thông GDSK tại Trung tâm Truyền thông GDSK tỉnh  
Cán bộ các phòng/tổ truyền thông GDSK của các đơn vị y tế được chọn.  
Sổ sách, báo cáo liên quan đến công tác truyền thông GDSK tại các đơn vị y tế.  
3.2.Phương pháp nghiên cứu  
-
-
Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang.  
Chọn mẫu:  
+ Chọn 100% các phòng truyền thông GDSK của các đơn vị tuyến tỉnh. Chọn  
được 15 tổ truyền thông GDSK tuyến tỉnh  
+ Chọn huyện: Áp dụng phương pháp phân tầng ở nhiều giai đoạn. Chọn được  
9 phòng truyền thông GDSK tuyến huyện  
+ 41 tổ truyền thông GDSK tuyến xã  
3.3.Phương pháp xử lý số liệu  
Số liệu được thu thập và xử lý bằng phương pháp thống kê Y học, ứng dụng phần mềm  
SPSS 10.0 và MS Excel 2000.  
4. Kết quả nghiên cứu và bàn luận  
4.1. Tình hình nhân lực hoạt động truyền thông GDSK  
4.1.1.Tình hình nhân lực tại tuyến tỉnh  
Tất cả 15 đơn vị tuyến tỉnh đều đã thành lập tổ truyền thông GDSK, trung bình  
mỗi tổ có từ 3 đến 7 người nhưng đều là cán bộ kiêm nhiệm, không có cán bộ chuyên  
trách làm công tác truyền thông GDSK.  
73  
4.1.2. Tình hình nhân lực tại tuyến huyện  
Theo quyết định 3526 của Bộ Y tế qui định các Trung tâm Y tế huyện phải có  
phòng truyền thông GDSK và có cán bộ chuyên trách, kết quả nghiên cứu của chúng tôi  
tại 9 Trung tâm Y tế tuyến huyện đều đã thành lập phòng truyền thông GDSK, trung  
bình mỗi phòng có từ 3 đến 7 người nhưng cũng không có cán bộ chuyên trách làm  
công tác truyền thông GDSK nên có khó khăn trong việc xây dựng và triển khai các  
hoạt động truyền thông GDSK.  
4.1.3. Tình hình nhân lực tại tuyến xã  
100% trạm y tế xã đều có tổ truyền thông GDSK, trung bình mỗi trạm có có từ 3  
đến 7 người nhưng cũng không có cán bộ chuyên trách làm công tác truyền thông  
GDSK. Điều đáng mừng là các trạm y tế đều huy động được các ban, ngành, đoàn thể  
tham gia hoạt động truyền thông GDSK, nhất là phụ nữ.  
4.2. Tình hình trang thiết bị truyền thông GDSK  
Bảng 1: Trang thiết bị tại tổ truyền thông GDSK tại các tuyến  
Trang thiết bị có  
tại tổ truyền thông  
Tuyến tỉnh  
Tuyến huyện  
Tuyến xã  
Tần số  
Tỉ lệ  
Tần số  
Tỉ lệ  
Tần số  
Tỉ lệ  
(n=15)  
(%)  
(n =9)  
(%)  
(n =41)  
(%)  
Âm ly  
12  
4
44.4  
22.2  
22.2  
33.3  
77.8  
77.8  
17  
12  
23  
4
41.5  
29.3  
56.1  
9.8  
80.0  
66.7  
40.0  
60.0  
73.3  
Cassete  
Loa sắt  
Loa thùng  
Máy ảnh  
Ti vi  
10  
6
2
2
3
7
7
9
11  
14  
0
0.0  
28  
68.3  
93.3  
86.7  
80.0  
80.0  
53.3  
Micro  
13  
12  
12  
8
4
4
6
0
44.4  
44.4  
66.7  
0.0  
14  
13  
2
34.1  
31.7  
4.9  
Đầu đĩa  
Máy chiếu  
Vi tính  
0
0.0  
Tại các đơn vị trang thiết bị cơ bản còn thiếu, phần lớn là trang thiết bị chung của  
đơn vị hay của các chương trình y tế quốc gia. Đặc biệt tuyến xã, nhiều nơi không có  
tivi, cassete, đầu đĩa, loa ...  
4.3. Công tác đào tạo kỹ năng truyền thông GDSK  
Qua điều tra chúng tôi thấy tại tuyến tỉnh, huyện 100% truyền thông viên (TTV)  
công tác tại các tổ truyền thông GDSK đều đã được đào tạo, nhưng số TTV tại xã được  
đào tạo chỉ có 29.3%.  
74  
4.4. Công tác xây dựng kế hoạch hoạt động truyền thông GDSK  
Bảng 2: Xây dựng kế hoạch hoạt động truyền thông GDSK  
Xây dựng  
kế hoạch  
Tuyến tỉnh  
Tuyến xã  
Tuyến huyện  
Chung  
Tần số  
Tỉ lệ  
(%)  
6.7  
Tần số Tỉ lệ  
Tần số Tỉ lệ Tần số  
Tỉ lệ  
(%)  
9.2  
(n=15)  
(n =9)  
(%) (n = 41)  
%
(n =65)  
Tuần  
Tháng  
Qúy  
1
6
1
4
7
8
11.1  
44.4  
77.8  
88.9  
4
9.8  
6
40.0  
73.3  
66.7  
18  
34  
37  
43.9  
82.9  
90.2  
26  
48  
53  
40.0  
73.8  
81.5  
11  
10  
Năm  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ các tổ truyền thông GDSK xây dựng kế  
hoạch năm, quí, tháng, tuần lần lượt là 81.5%, 73.8%, 40%, 9.2%. Kết quả này cao hơn  
nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên khi điều tra thực trạng công tác truyền thông GDSK  
tại tỉnh có 8% trạm y tế xã có thực hiện xây dựng kế hoạch hoạt động [3]. Đây là 1 vấn  
đề nổi cộm cần giải quyết bởi tình trạng làm việc nhưng không xây dựng kế hoạch trước  
hoặc có xây dựng nhưng không lưu trữ bằng văn bản mà chỉ thông qua các cuộc họp.  
Điều này sẽ dẫn đến tình trạng khó giám sát, khó thực hiện và hiệu quả hoạt động không  
cao. Lý do của tình trạng trên cơ bản là do cán bộ quản lý tại các tổ truyền thông GDSK  
chưa được đào tạo về cách lập kế hoach đúng qui trình đạt chất lượng.  
4.5. Thực hiện công tác truyền thông GDSK  
4.5.1. Thực hiện truyền thông trực tiếp  
Bảng 3: Thực hiện truyền thông trực tiếp tại tổ truyền thông GDSK tuyến tỉnh  
Tuyến tỉnh  
Tần số Tỉ lệ Tần số Tỉ lệ Tần số Tỉ lệ Tần số Tỉ lệ  
(n=15) (%) (n =9) (%) (n=41) (%) (n=65) (%)  
Tuyến huyện  
Tuyến xã  
Chung  
Tuyến  
Hình thức  
Tư vấn  
12  
3
80.0  
20.0  
46.7  
40.0  
6
3
3
7
66.7  
33.3  
33.3  
77.8  
26  
40  
28  
30  
63.4  
97.6  
68.3  
73.2  
44  
46  
38  
49  
67.7  
70.8  
58.5  
66.2  
Thăm hộ gia đình  
Thảo luận nhóm  
7
Nói chuyện sức khỏe  
6
Để công tác truyền thông GDSK có hiệu quả người làm công tác này phải biết lựa  
chọn các hình thức truyền thông GDSK phù hợp nhất với nội dung, điều kiện và phương  
tiện của mình. Điều quan trọng là người làm công tác truyền thông phải lựa chọn sao  
cho phù hợp với phong tục tập quán và điều kiện của địa phương.  
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy:  
-
Tại các tổ truyền thông GDSK tuyến tỉnh hình thức truyền thông được sử dụng  
nhiều nhất là tư vấn, 80% các tổ truyền thông tuyến tỉnh sử dụng hình thức này, tỷ  
lệ các hình thức khác như thảo luận nhóm, nói chuyện, thăm hộ gia đình cũng  
75  
được các tổ truyền thông của các đơn vị y tế tuyến tỉnh sử dụng với tỷ lệ lần lượt  
là 46.7%; 40% và 20%. Kết quả trên cũng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của  
các đơn vị  
-
Tại các huyện: hình thức được dùng nhiều nhất là nói chuyện sức khỏe với tỷ lệ là  
77.8% các tổ truyền thông sử dụng hình thức này, sau đó đến tư vấn với tỷ lệ các tổ  
truyền thông dùng hình thức này là 66.7%, cuối cùng là thăm hộ gia đình và thảo  
luận nhóm,tỷ lệ các tổ truyền thông tuyến huyện sử dụng hình thức này là 33.3%.  
-
-
Tại tuyến xã truyền thông trực tiếp được sử dụng khá tốt, cả 4 hình thức đều được  
> 58.5% tổ truyền thông GDSK thực hiện  
Tỷ lệ số lần truyền thông trực tiếp có phối kết hợp với các ban ngành, đoàn thể,  
các tổ chức xã hội tham gia thực hiện chiếm 58.9%. Tỷ lệ người dân trong các  
làng, xã tham gia vào các phong trào, các sinh hoạt cộng đồng có lồng ghép với  
hoạt động truyền thông GDSK là 55.4%, chứng tỏ công tác truyền thông GDSK  
đã được sự hưởng ứng của cộng đồng.  
4.5.2. Thực hiện truyền thông gián tiếp  
Bảng 4: Sử dụng các kênh truyền thông  
Tuyến tỉnh Tuyến huyện Tuyến xã  
Tỉ lệ Tần số Tỉ lệ Tần số Tỉ lệ Tần số Tỉ lệ  
Tuyến  
Chung  
Tần số  
Hình  
(%)  
(n =9)  
(%)  
(n=41)  
(%)  
(n=65)  
(%)  
(n=15)  
thức  
Truyền hình  
Phát thanh  
Lưu động  
Mitting  
15  
15  
12  
2
100.0  
100.0  
80.0  
1
5
5
2
11.1  
55.6  
55.6  
22.2  
0
39  
2
0.0  
95.1  
4.9  
16  
59  
19  
4
24.6  
90.8  
29.2  
2
13.3  
0
0.0  
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấy các đơn vị tuyến tỉnh thực hiện cả 3 kênh  
là truyền hình, phát thanh và lưu động với tỷ lệ các tổ truyền thông sử dụng các kênh  
này lần lượt là 100%; 100% và 80%. Trong khi đó tuyến huyện, các tổ truyền thông lại  
sử dụng nhiều nhất là kênh phát thanh và lưu động với tỷ lệ các tổ có sử dụng là 2 kênh  
này đều là 55.6% và tuyến xã, các tổ truyền thông sử dụng nhiều nhất là kênh phát  
thanh với tỷ lệ các tổ có sử dụng kênh này là 90.8%. Kết quả này cũng phù hợp với điều  
kiện và chưc năng của từng tuyến.  
Tỷ lệ các lần truyền thông gián tiếp có phối kết hợp với các ban ngành đoàn thể  
các tổ chức xã hội tham gia thực hiện chiểm 66.6%.  
4.5.3. Nhân viên y tế thôn tham gia công tác truyền thông GDSK  
Trong năm nhiệm vụ của y tế thôn bản thì nhiệm vụ truyền thông GDSK cũng làm  
nhiệm vụ số một, điều này đã nói lên vai trò và trách nhiệm thực hiện công tác truyền  
thông GDSK của nhân viên y tế thôn, bản. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấy, tất cả  
76  
các cán bộ làm y tế thôn bản đều hoạt động công tác truyền thông GDSK, chiếm tỷ lệ  
100%, trung bình số lần truyền thông của YTTB là 23.8 lần/năm:  
Khi đánh giá hiệu quả hoạt động của mạng lưới nhân viên y tế bản tại huyện Tủa  
Chùa tỉnh Lai Châu, Tác giả Vũ Thị Minh Hạnh và cộng sự cho thấy: hiệu quả hoạt  
động của đội ngũ nhân viên y tế bản ở Tủa Chùa được thể hiện qua một số chỉ báo như:  
sự thay đổi về nhận thức, thái độ của dân cư đối với việc bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ;  
sự chuyển đổi trong các hành vi có liên quan mức độ cải thiện về các chỉ tiêu y tế, sức  
khoẻ; góp phần tạo dựng cho người dân niềm tin đối với chế độ, ổn định an ninh chính  
trị và trật tự xã hội, sự ghi nhận của các nhà lãnh đạo ở địa phương và đặc biệt là sự  
chấp nhận của dân cư trong bản...  
5. Kết luận  
5.1.Tình hình nhân lực tại các tuyến  
-
Tuyến tỉnh: Trung bình mỗi tổ có từ 3 đến 7 người nhưng đều là cán bộ kiêm  
nhiệm, không có cán bộ chuyên trách làm công tác truyền thông GDSK.  
-
Tuyến huyện: Tất cả Trung tâm Y tế đều đã thành lập phòng truyền thông GDSK,  
trung bình mỗi phòng có từ 3 đến 7 người nhưng cũng không có cán bộ chuyên  
trách làm công tác truyền thông GDSK.  
-
Tuyến xã: 100% trạm y tế xã đều có tổ truyền thông GDSK, trung bình mỗi trạm có  
có từ 3 đến 7 người nhưng cũng không có cán bộ chuyên trách làm công tác truyền  
thông GDSK. Mặc dù vậy, các trạm y tế đều huy động được các ban, ngành, đoàn  
thể tham gia vào các hoạt động truyền thông GDSK, tích cực nhất là phụ nữ.  
5.2.Trang thiết bị tại tổ truyền thông GDSK  
Tại các đơn vị trang thiết bị cơ bản còn thiếu, phần lớn là trang thiết bị chung của đơn vị  
hay của các chương trình y tế quốc gia. Đặc biệt tuyến xã có nhiều nơi không có tivi,  
cassette, đầu đĩa, loa ...  
5.3.Công tác đào tạo kỹ năng truyền thông GDSK  
Tại tuyến tỉnh, huyện 100% truyền thông viên công tác tại các tổ truyền thông GDSK  
đều đã được đào tạo, nhưng tại tuyến xã chỉ có 29.3% số TTV được đào tạo.  
5.4.Công tác xây dựng kế hoạch hoạt động truyền thông GDSK  
Tỉ lệ các tổ truyền thông GDSK xây dựng kế hoạch năm, quí, tháng, tuần lần lượt là  
81.5%, 73.8%, 40%, 9.2%.  
5.5.Thực hiện công tác truyền thông giáo dục sức khỏe  
5.5.1.Thực hiện truyền thông GDSK trực tiếp  
-
Tuyến tỉnh: Tại các tổ truyền thông GDSK đều tham gia truyền thông GDSK trực  
tiếp. 80% các tổ truyền thông của các đơn vị y tế tuyến tỉnh thực hiện tư vấn, tỷ lệ  
77  
các tổ truyền thông thực hiện thảo luận nhóm, nói chuyện sức khỏe, thăm hộ gia  
đình lần lượt là 46.7%; 40% và 20%. Kết quả trên cũng phù hợp với chức năng,  
nhiệm vụ của các đơn vị.  
-
-
Tuyến huyện: 77.8% các tổ truyền thông thực hiện nói chuyện sức khỏe, tỷ lệ các  
tổ truyền thông thực hiện tư vấn là 66.7%, 33.3% các tổ thực hiện thăm hộ gia  
đình và thảo luận nhóm.  
Tại tuyến xã truyền thông trực tiếp được sử dụng khá tốt, cả 4 hình thức đều được >  
58.5% tổ truyền thông GDSK thực hiện.Tỷ lệ các lần truyền thông trực tiếp có phối  
kết hợp với các ban ngành đoàn thể các tổ chức xã hội tham gia thực hiện chiếm  
58.9% và tỷ lệ người dân trong các làng, xã tham gia vào các phong trào, các sinh  
hoạt cộng đồng có lồng ghép với hoạt động truyền thông GDSK là 55.4%.  
5.5.2.Thực hiện truyền thông gián tiếp  
-
100% các tổ truyền thông tuyến tỉnh thực hiện truyền thông qua truyền hình và đài  
phát thanh; 80% các tổ truyền thông thực hiện truyền thông lưu động. 55.6% các  
tổ truyền thôngtuyến huyện sử dụng hình thức truyền thông phát thanh và lưu  
động. 90.8% tổ truyền thông tuyến hình thức phát thanh.  
-
Tỷ lệ các lần truyền thông gián tiếp có phối kết hợp với các ban ngành đoàn thể  
các tổ chức xã hội tham gia thực hiện chiểm 66.6%.  
5.5.3. Nhân viên y tế thôn tham gia công tác truyền thông GDSK  
-
Tất cả các cán bộ làm y tế thôn bản đều hoạt động công tác truyền thông GDSK  
chiếm 100%.  
-
Trung bình số lần truyền thông của YTTB là 23.8 lần/ năm.  
6. Đề xuất giải pháp can thiệp  
Qua kết quả nghiên cứu thực trạng hoạt động truyền thông GDSK tại các tuyến y tế cơ  
sở, chúng tôi đề xuất một số giải pháp sau để nâng cao năng lực cho công tác truyền  
thông GDSK:  
6.1.Đối với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể trong tỉnh  
Công tác truyền thông GDSK để bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của mỗi người  
dân, mỗi gia đình và cộng đồng, là trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận  
Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân... Trong đó, ngành y tế giữ vai trò nòng cốt về chuyên  
môn. Vì vậy, để tạo điều kiện cho công tác chăm sóc sức khỏe của cộng đồng, cần phải:  
-
-
Đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp với từng loại hình truyền thông.  
Cần có sự phối hợp chặt chẽ của các ban ngành đoàn thể trong công tác truyền  
thông GDSK.  
78  
-
Cần có chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với cán bộ y tế công tác tại các cơ sở ở  
các khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng cao, biên giới hải đảo; thực hiện sự công  
bằng trong cống hiến và phục vụ của mọi đối tượng cán bộ trong ngành y tế.  
6.2.Đối với ngành y tế  
Để công tác truyền thông GDSK tại các tuyến được tốt hơn, góp phần nâng cao sức  
khoẻ cho nhân dân ngành y tế cần phải:  
-
Lập kế hoạch xây dựng, củng cố và hoàn thiện mạng lưới, cơ cấu tổ chức, nhân  
lực, trang thiết bị, kinh phí dành cho công tác truyền thông GDSK từ tỉnh đến thôn  
bản.  
-
-
Hoạt động theo qui trình hoạt động truyền thông GDSK ban hành năm 2006.  
Đào tạo, đào tạo lại công tác xây dựng kế hoạch, báo cáo và kỹ năng truyền thông  
GDSK cho tuyến y tế cơ sở.  
-
Biên soạn tài liệu thống nhất, phù hợp với địa phương cho truyền thông viên khi đi  
tuyên truyền. Tổ chức lựa chọn các hình thức truyền thông phù hợp với điều kiện  
miền núi.  
TÀI LỆU THAM KHẢO  
1.  
Ban Chấp hành Trung ương (2005), Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02  
năm 2005 của Bộ Chính trị về Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ  
nhân dân trong tình hình mới.  
2.  
3.  
4.  
5.  
Vũ Thị Minh Hạnh và cộng sự, (2002) Hiệu quả hoạt động của mạng lưới nhân  
viên y tế tại huyện Tủa Chùa tỉnh Lai Châu.  
Nguyễn Thị Liên (2004), Thực trạng công tác truyền thông giáo dục sức khỏe tại  
tỉnh Quảng Nam.  
Sở Y tế Quảng Nam (2004), Đề án xây dựng chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn  
2004 – 2010, tỉnh Quảng Nam.  
Sở Y tế Quảng Nam (2004), Quyết định số 613/QĐ-SYT của Giám đốc Sở Y tế về  
việc phê duyệt và triển khai kế hoạch thực hiện Chương trình hành động truyền  
thông - Giáo dục sức khoẻ đến năm 2010 tại tỉnh Quảng Nam.  
79  
pdf 8 trang yennguyen 27180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ cho người dân tại tỉnh Quảng Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_thuc_trang_va_de_xuat_giai_phap_nang_cao_cong_tac.pdf