Khảo sát vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp trong công tác truyền thông giáo dục thường xuyên tại tỉnh Quảng Nam

KHẢO SÁT VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG, CHÍNH QUYỀN,  
ĐOÀN THỂ CÁC CẤP TRONG CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG GDSK  
TẠI TỈNH QUẢNG NAM  
BSCKI. Nguyễn Thị Kim Vân  
Trung tâm Truyền thông GDSK Quảng Nam  
Tóm tắt nghiên cứu  
Để khảo sát vai trò của cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể trong công tác truyền  
thông giáo dục sức khoẻ Nghiên cứu tiến hành trên 45 cán bộ của 9 huyện và 205 cán  
bộ của 41 xã là cán bộ lãnh đạo Đảng, nhà nước, mặt trận, hội, đoàn thể huyện, xã về  
vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp về công tác truyền thông giáo  
dục sức khỏe tại tỉnh Quảng Nam. Kết quả cho thấy, trong tổng số các đối tượng tham  
gia vào nghiên cứu có 71.6% là nam và 28.4 là nữ. 95.6% cán bộ tuyến huyện 99.0%  
cán bộ tuyến xã cho là có triển khai các văn bản liên quan đến công tác CSSKND. Có  
95.6% huyện và 99.0% xã có triển khai các văn bản liên quan đến công tác CSSKND.  
97.8% cán bộ tuyến huyện và 99.5% cán bộ tuyến xã có tham gia chỉ đạo xây dựng kế  
hoạch hoạt động y tế. Chỉ đạo công tác tuyên truyền phòng chống dịch bằng văn bản tại  
tuyến huyện là 84.4% và 68.9% bằng hình thức trực tiếp, tại tuyến xã là 81.0% bằng  
văn bản và 70.2% chỉ đạo trực tiếp. Các hội, đoàn thể tại địa phương tham gia vào công  
tác TT-GDSK như Hội Nông dân, hội Phụ nữ, Hội Chữ thập đỏ, Hội Cựu chiến binih,  
Đoàn thanh niên, Văn hóa thông tin, ngành Giáo dục, Mặt trận tổ quốc. Nghiên cứu  
cũng cho biết nguồn thông tin sức khỏe mà người dân nhận được: 80% người dân nhận  
thông tin từ cán bộ y tế, 71,1% nhận thông tin qua các phương tiện như ti vi, đài, báo,  
loa phát thanh, tờ rơi, poster.... 55,6% nhận thông tin sức khỏe qua người dân và thu  
nhận thông tin sức khỏe qua ban chăm sóc sức khỏe chiếm 51,1%.  
1.Đặt vấn đề  
Trong những năm qua, hoạt động truyền thông - giáo dục sức khỏe (TTGDSK) đã  
góp phần quan trọng vào kết quả đạt được của các chương trình y tế nói riêng và vào  
thành công của chiến lược chăm sóc sức khỏe nhân dân (CSSKND) nói chung. ảng, Nhà  
nước và ngành y tế luôn coi trọng và khẳng định công tác TTGDSK là một phần không  
thể thiếu được trong sự nghiệp CSSKND. Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị,  
ngày 23/2/2005 đã đưa ra 7 nhiệm vụ và giải pháp thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc  
và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới, trong đó chỉ rõ, phải: nâng cao hiệu  
quả Thông tin - Giáo dục - Truyền thông nhằm tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức,  
trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng  
cao sức khỏe nhân dân.  
Giữ vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền và sự tham gia của các hội  
đoàn thể trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, các chủ  
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân  
dân được triển khai thực hiện đã tạo ra bước chuyển biến mới về nhận thức và trách  
80  
nhiệm của cán bộ, đảng viên ở các cấp, các ngành. Hệ thống y tế ngày càng được củng  
cố, người dân đã được tiếp cận với các dịch vụ y tế ngày càng thuận lợi hơn, việc đầu tư  
từ ngân sách Nhà nước cho y tế ngày càng tăng...[4]. Tuy nhiên, công tác bảo vệ,  
CSSKND ở tỉnh ta vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế. Nhiệm vụ CSSKND, đặc biệt là  
công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ còn khoán trắng cho ngành y tế. Vì vậy, để  
khắc phục những tồn tại, hạn chế trên; đồng thời, một lần nữa xác định lại vai trò, trách  
nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận, hội, đoàn thể, ngành chức năng  
trong công tác bảo vệ và CSSKND nói chung và công tác truyền thông giáo dục sức  
khoẻ nói riêng, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu “Khảo sát vai trò của tổ chức Đảng,  
chính quyền, đoàn thể các cấp trong công tác truyền thông giáo dục sức khỏe tại tỉnh  
Quảng Nam”.  
2.Mục tiêu nghiên cứu  
1. Đánh giá vai trò của cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể trong công tác truyền  
thông giáo dục sức khoẻ tại tỉnh Quảng Nam.  
2. Đề xuất những giải pháp để nâng cao vai trò của cấp ủy Đảng, chính quyền,  
đoàn thể trong công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ.  
3.Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
3.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu gồm cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận, Hội, Đoàn  
thể huyện, xã.  
3.2. Phương pháp nghiên cứu  
-
-
Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang.  
Chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng nhiều giai đoạn. Chọn  
được 45 cán bộ của 9 huyện và 205 cán bộ của 41 xã.  
3.3. Xử lý số liệu nghiên cứu  
Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 10.0 và MS Excel 2000.  
4.Kết quả nghiên cứu  
4.1.Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu  
Nữ  
28.4%  
Nam  
71.6%  
Biểu đồ 1. Tỷ lệ nam và nữ tham gia nghiên cứu  
81  
Trong 250 cán bộ lãnh đạo của các Ban, Ngành, Đoàn thể tham gia nghiên cứu,  
nam giới chiếm tỷ lệ cao 71.6%, trong khi đó nữ chiếm 28.4%.  
4.2.Vai trò của các cấp lãnh đạo trong công tác truyền thông giáo dục sức khỏe  
4.2.1. Công tác chỉ đạo  
- Triển khai các văn bản liên quan đến công tác CSSKND  
Các văn bản của trung ương, tỉnh về CSSKND đều được triển khai thông qua Hội  
nghị huyện uỷ, các kỳ họp của UBND huyện. Tỷ lệ có triển khai các văn bản liên quan  
đến công tác CSSKND tại tuyến huyện là 95.6% và tuyến xã là 99.0%.  
- Có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn hoặc kế hoạch thực hiện về công tác TTGDSK  
Qua khảo sát cho thấy 95.6% huyện có các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn hoặc kế  
hoạch thực hiện các chính sách về CSSKND có nội dung chỉ đạo về công tác TTGDSK  
và tỷ lệ này ở tuyến xã là 98,5%.  
- Các cấp chính quyền địa phương tham gia chỉ đạo xây dựng kế hoạch hoạt động y tế  
97.8% cán bộ lãnh đạo tuyến huyện tham gia chỉ đạo xây dựng kế hoạch hoạt  
động y tế và 99.5% cán bộ lãnh đạo tuyến xã tham gia chỉ đạo xây dựng kế hoạch hoạt  
động y tế.  
- Các hình thức chỉ đạo công tác tuyên truyền phòng chống dịch  
Qua khảo sát cho thấy khi có dịch bệnh xảy ra, 84.4% các huyện huyện chỉ đạo  
công tác tuyên truyền phòng chống dịch bằng văn bản và 68.9 % trực tiếp chỉ đạo công  
tác tuyên truyền phòng chống dịch. Tương tự, tại tuyến xã, 81.0 % các xã chỉ đạo công  
tác tuyên truyền phòng chống dịch bằng văn bản và 70.2% trực tiếp chỉ đạo công tác  
tuyên truyền phòng chống dịch.  
- Các hội, đoàn thể tại địa phương tham gia vào công tác TTGDSK  
Bảng 1: Các hội, đoàn thể tại địa phương tham gia vào công tác TTGDSK  
Hội  
Hội PN  
Hội  
Đoàn  
VHTT Ngành Hội CCB Mặt  
ND  
CTĐ  
TN  
GD  
trận  
Huyện  
11,1  
66,8  
11,1  
98,1  
2,2  
6,7  
4,4  
86  
4,4  
2,2  
67  
13,3  
73,7  
Xã  
58,0  
89,3  
61,5  
Ở tuyến huyện, 13% tổ chức Mặt trận tham gia hoạt động TTGDSK cho người  
dân, ở tuyến xã thì tỷ lệ này là 73.7%  
Tỷ lệ Hội Nông dân và Hội Phụ nữ tuyến huyện tham gia hoạt động TTGDSK cho  
người dân là 11,1%. Trong khi đó Hội nông dân và Hội phụ nữ ở tuyến xã tham gia hoạt  
động TTGDSK cho người dân chiếm 66,8 % và 98,1%.  
82  
6,7% tổ chức Đoàn thanh niên ở huyện tham gia hoạt động TTGDSK cho người  
dân. Ở tuyến xã tỷ lệ này là 89,3%.  
Ở tuyến huyện, Ngành Văn hóa Thông tin và ngành Giáo dục ở huyện tham gia  
hoạt động TTGDSK cho người dân cùng là 4,4%. Ở tuyến xã, tỷ lệ này là 86% và  
61,5%.  
Tỷ lệ Hội Chữ thập đỏ và Hội Cựu chiến binh ở tuyến huyện tham gia hoạt động  
TTGDSK cho người dân chiếm 2,2%. Trong khi đó hai tỷ lệ này tại xã là 67% và  
58,0%.  
4.2.2. Các hình thức truyền thông được các cấp chính quyền tham gia  
Qua nghiên cứu cho thấy cán bộ lãnh đạo các Ban, Ngành tham gia TTGDSK  
dưới hình thức:  
- Vận động người dân:  
Tuyến huyện: 100% cán bộ của 5 huyện (Phước Sơn, Nam Trà My, Quế Sơn,  
Núi Thành, Tam Kỳ) tham gia vận động người dân, tỷ lệ này của huyện Điện Bàn là  
80%; huyện Duy Xuyên và Hiệp Đức là 60%. Tuy nhiên, huyện Thăng Bình cán bộ các  
Ban, Ngành không tham gia vào công tác truyền thông vân động người dân.  
Tuyến xã: đa số các cán bộ đều tham gia, đạt trên 80%. Cụ thể là cán bộ lãnh  
đạo ban ngành các xã của các huyện: Nam Trà My, Phước Sơn, Quế Sơn, Thăng Bình  
tham gia chiếm 82.9%, cán bộ lãnh đạo các ban ngành của các xã huyện Núi Thành  
chiếm 84%, Điện Bàn 88.6%; Duy Xuyên và Hiệp Đức chiếm 95.0%. 100% cán bộ các  
Ban, Ngành của các xã/phường, huyện Tam Kỳ tham gia vào công tác truyền thông vân  
động người dân.  
- Nói chuyện sức khỏe với người dân  
Tuyến huyện: chỉ có huyện Phước Sơn, Thăng Bình chiếm tỷ lệ 100% cán bộ  
các Ban, Ngành tham gia. Cán bộ các ban ngành huyện Nam Trà My tham gia nói  
chuyện sức khỏe chiếm 80%. Tỷ lệ này ở huyện Quế Sơn, Núi Thành, Duy Xuyên  
chiếm 60%, hai huyện còn lại là Tam Kỳ, Hiệp Đức chiếm 40%.  
Tuyến xã: Tỷ lệ cán bộ các Ban, Ngành ở xã của huyện Nam Trà My tham gia  
vào hình thức nói chuyện sức khỏe với người dân chiếm 86.7%. Tỷ lệ này ở huyện Tam  
Kỳ, Hiệp Đức chiếm 85%; huyện Núi Thành chiếm 80%; Quế Sơn chiếm 70%; Phước  
Sơn chiếm 60%; Thăng Bình, Duy Xuyên, Điện Bàn chiếm 52.1%, 51.4%, 50%.  
- Phát tờ rơi với người dân  
Tuyến huyện: Cán bộ các Ban, Ngành huyện Phước Sơn tham gia phát tờ rơi  
chiếm tỷ lệ 100%, 80% cán bộ huyện Nam Trà My tham gia phát tờ rơi. Tỷ lệ này tại  
các huyện: Điện Bàn, Tam Kỳ chiếm 60%.  
83  
Ở tuyến xã: Cán bộ các Ban, Ngành của xã, huyện Thăng Bình tham gia vào  
hình thức phát tờ rơi với người dân chiếm tỷ lệ 82.9%. Tỷ lệ này của cán bộ các xã  
thuộc huyện Phước Sơn là 80%, Nam Trà My là 73.3%; Tam Kỳ là 70%; các huyện  
còn lại Núi Thành, Hiệp Đức là 56% và 55%. Riêng rất ít cán bộ các ban, ngành của các  
xã thuộc một số huyện như Duy Xuyên, Quế Sơn, Điện Bàn tham gia vào hình thức  
này, tỷ lệ này tại các huyện trên là 35%, 15%, 14.3%.  
4.2.3.Nguồn hông tin về sức khỏe người dân thường nhận được.  
Các thông tin về sức khỏe người dân nhận được chủ yếu từ cán bộ y tế cung cấp  
chiếm 80%, qua các phương tiện thông tin như ti vi, đài, báo, loa phát thanh, tờ rơi,  
poster.... chiếm 71,1 %; qua người dân chiếm 55,6% và thu nhận thông tin sức khỏe qua  
ban chăm sóc sức khỏe chiếm 51,1%.  
5. Bàn luận và kết luận  
Trong nghiên cứu này tỷ lệ có triển khai các văn bản liên quan đến công tác  
CSSKND tại tuyến huyện là 95.6% và tuyến xã là 99.0%. Tỷ lệ huyện có các văn bản  
chỉ đạo, hướng dẫn hoặc kế hoạch thực hiện các chính sách về CSSKND có nội dung  
chỉ đạo về công tác TTGDSK là 95.6% và tỷ lệ này ở tuyến xã là 98,5%. So với nghiên  
cứu của Phạm Nguyễn Cẩm Thạch chỉ có 78.6% phiếu cho biết, các văn bản của trung  
ương, tỉnh về CSSKND đều được triển khai thông qua Hội nghị Huyện uỷ, các kỳ họp  
của UBND huyện. 71.5% đối tượng trả lời huyện đã có ban hành các Chỉ thị, Nghị  
quyết, Văn bản liên quan đến công tác CSSKND, các chương trình hành động và có  
hướng dẫn thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết, các văn bản khác của trung ương, của tỉnh  
về công tác CSSKND. Đồng thời, huyện đã có Nghị quyết HĐND và các Chương trình,  
mục tiêu cụ thể đối với việc CSSKND.  
Qua nghiên cứu cho thấy các Ban, Ngành, Đoàn thể của huyện chưa quan tâm đến  
sức khỏe người dân. Đặc biệt, chưa có mối quan hệ mật thiết trong việc truyền thông  
giáo dục sức khỏe cho người dân. Hầu hết Ban, Ngành rất ít tham gia và còn khoán  
trắng cho ngành y tế. Còn đối với tuyến xã thì các cấp ban, ngành, đoàn thể rất quan tâm  
đến sức khỏe của người dân và tất cả các ban ngành đoàn thể đều tham gia vào công tác  
truyền thông giaos dục sức khỏe cho người dân. Theo nghiên cứu “Tình hình thực hiện  
công tác truyền thông giáo dục sức khỏe tại tuyến xã” cho biết các hoạt động truyền  
thông giáo dục sức khỏe của TYT và nhân viên y tế thôn bản/ấp nhận được sự chỉ đạo  
chặt chẽ và kịp thời của Đảng ủy và UBND xã. Hầu hết các xã nhận được sự chỉ đạo  
này. Sự chỉ đạo của UBND và Đảng ủy xã thể hiện sự quan tâm và nhận thức về tầm  
quan trọng của hoạt động TTGDSK. Nhờ đó, nhiều hoạt động truyền thông sẽ có được  
sự hỗ trợ kịp thời và đạt hiệu quả cao. Ngoài sự chỉ đạo và hỗ trợ từ phía Đảng ủy và  
UBND xã, các hoạt động TTGDSK tuyến xã còn nhận được sự tham gia của các tổ chức  
đoàn thể (Mặt trận tổ quốc, hội Nông dân, hội Phụ nữ, đoàn Thanh niên, hội Chữ thập  
đỏ và hội Cựu chiến binh). Đây có thể nói là yếu tố quyết định đến hiệu quả của các  
hoạt động TTGDSK tại cộng đồng.  
84  
Theo nghiên cứu của Phạm Nguyễn Cẩm Thạch Khi được hỏi về các chương  
trình, mục tiêu y tế quốc gia đã được ngành y tế huyện triển khai như thế nào thì có  
85.7% ý kiến cho rằng, rất được các cấp uỷ, chính quyền quan tâm chỉ đạo và ngành  
chức năng thực hiện tốt. Ban, Ngành, Hội, Đoàn thể liên quan cũng đã cùng vận động  
nhân dân tham gia vì địa phương xem đây là quyền lợi chính đáng và hết sức cần thiết  
đối với nhân dân cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.  
Theo Mạnh Thắng, trong các hình thức truyền thông thì hình thức truyền thông  
trực tiếp đến hộ gia đình và nói chuyện theo chủ đề GDSK đạt hiệu quả cao nhất. Đây là  
cách thức tạo môi trường giao tiếp gần gũi với đối tượng, cán bộ truyền thông có thể  
quan sát những biểu hiện liên quan đến sức khỏe của người dân, các vấn đề liên quan  
đến nguyên nhân gây bệnh như: trẻ ngủ không nằm màn, nhà ẩm thấp hoặc nuôi nhốt  
gia súc, gia cầm dưới gầm sàn… Từ đó, tuyên truyền, tư vấn sức khỏe đến từng thành  
viên trong gia đình và chỉ dẫn cách phòng, chống dịch, bệnh. Đặc biệt là tư vấn cách  
chăm sóc sức khỏe cho người già, trẻ em và phụ nữ có thai.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy người dân nhận các thông tin về sức khỏe chủ yếu  
qua cán bộ y tế và qua các phương tiện thông tin đại chúng; còn qua Ban chăm sóc sức  
khỏe là ít nhất, qua đây cho thấy Ban chăm sóc sức khỏe chưa thật sự vào cuộc trong  
công tác truyền thông giáo dục sức khỏe.  
Theo nghiên cứu của Bạch Thị Chính, Lê Công Minh, Tạ Quốc Đạt thì người dân  
nhận thông tin chủ yếu qua các phương tiện truyền thông như đài phát thanh xã, huyện,  
tỉnh, trung ương và qua tivi chiếm 76,5%. Tỉ lệ người dân nhận thông tin từ người đến  
nhà vận động trước can thiệp là 17,5%, sau can thiệp là 62,5%. Tỉ lệ người dân nhận tài  
liệu truyền thông trước can thiệp là 3,0%, sau can thiệp là 57,5%. Tỉ lệ người dân có  
được thông tin về phòng bệnh SXH từ các cuộc họp tổ trước và sau can thiệp (2,5%;  
16,0%), xe cổ động trong chiến dịch 13,5%.  
6. Kiến nghị  
- Thành lập Ban chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có các Ban, Ngành, Đoàn thể tham  
gia; tổ chức họp triển khai chương trình kế hoạch; tổ chức tuyên truyền theo nhiều  
kênh.  
- Phải có sự chỉ đạo chặt chẽ của lãnh đạo huyện, xã sự phối hợp của các Ban, Ngành  
đoàn thể cùng tham gia thực hiện về TTGDSK.  
- Thường xuyên phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện tốt công tác tuyên  
truyền, huy động các nguồn lực, vận động các tổ chức cá nhân tham gia TTGDSK  
- Có sự đầu tư ngân sách về tài chính và nhân lực cho hoạt động truyền thông, hỗ trợ  
những trang thiết bị cho oạt động, phát triển hệ thống loa truyền thanh cơ sở; hỗ trợ  
kinh phí cho đội ngũ cộng tác viên, truyền thông viên.  
- Tăng cường sự quan tâm của ngành dọc; sự huy động của cộng đồng trong công tác  
XHH TTGDSK.  
85  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bạch Thị Chính, Lê Công Minh, Tạ Quốc Đạt (2009), Hiệu quả truyền thông GDSK  
nâng cao kiến thức thực hành đúng phòng chống SXH cho người dân tại xã Vĩnh  
Hựu huyện gò tây tỉnh Tiền Giang năm 2009.  
2. Ban Chấp hành Trung ương (2005), Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02  
năm 2005 của Bộ Chính trị về Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ  
nhân dân trong tình hình mới.  
3. Mạnh Thắng (2011), Nỗ lực Nâng cao chất lượng công tác truyền thông giáo dục  
sức khỏe.  
4. Phạm Nguyễn Cẩm Thạch và cs, Thực trạng và giải pháp tăng cường vai trò của hệ  
thống chính trị và sự tham gia của cộng đồng trong công tác chăm sóc sức khoẻ  
nhân dân miền núi tỉnh Quảng Nam.  
5. Trung tâm Truyền thông - Giáo dục Sức khoẻ (1993), Giáo trình cơ bản về Giáo  
dục sức khoẻ.  
86  
pdf 7 trang yennguyen 14980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp trong công tác truyền thông giáo dục thường xuyên tại tỉnh Quảng Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_vai_tro_cua_to_chuc_dang_chinh_quyen_doan_the_cac_c.pdf