Một số hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông đường bộ bằng xe máy điện, xe đạp điện của học sinh trường Trung học Phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, tỉnh Nam Định năm 2019

Dương Đức Mạnh và cộng sự  
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 04, Số 04-2020)  
Journal of Health and Development Studies (Vol.04, No.04-2020)  
BÀI BÁO NGHIÊN CỨU GỐC  
Một số hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông đường bộ bằng xe máy  
điện, xe đạp điện của học sinh trường Trung học Phổ thông chuyên Lê  
Hồng Phong, tỉnh Nam Định năm 2019  
Dương Đức Mạnh1*, Hoàng Thùy Dung2, Phạm Việt Cường2  
TÓM TẮT  
Mục tiêu: Mô tả một số hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông đường bộ bằng xe máy điện, xe đạp  
điện của học sinh trường trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, tỉnh Nam Định năm 2019  
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng.  
Nghiên cứu phát vấn được thực hiện trên 235 học sinh tại trường trung học phổ thông Lê Hồng Phong,  
Nam Định từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2019.  
Kết quả: Trên 235 học sinh sử dụng xe đạp điện, xe máy điện, với hành vi vi phạm điều khiển tốc độ  
có 37,9% đối tượng đã từng thực hiện hành vi này, vi phạm mũ bảo hiểm là 31,1% và 42,4% đã từng sử  
dụng điện thoại di động khi lái xe, các hành vi vượt đèn đỏ, đi sai làn đường và dàn hàng ngang cũng có  
tỉ lệ vi phạm trên 50%. Trên 90% học sinh biết rằng luật quy định cấm các hành vi này.  
Kết luận và khuyến nghị: Nghiên cứu cho thấy cần có các hình thức tuyên truyền hiệu quả hơn về việc  
tuân thủ Luật ATGT. Các cơ quan chức năng của tỉnh cần triển khai đồng bộ các biện pháp nhằm đảm  
bảo ATGT nhất là khu vực trường học thường xuyên và đầy đủ và có những hình phạt cụ thể.  
Từ khoá: hành vi nguy cơ, ATGT, xe đạp điện, xe máy điện, học sinh THPT, quá tốc độ, mũ bảo hiểm.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
tiện lợi so với các phương tiện công cộng,  
nhanh hơn so với xe đạp. Nghiên cứu TNGT  
của học sinh THPT năm 2016 tại Hà Nội  
cho thấy học sinh THPT là đối tượng tham  
gia giao thông (TGGT) có nguy cơ cao nhất,  
chiếm 90% số vụ TNGT vị thành niên trong  
hai năm trở lại đây. Ba nguyên nhân chiếm tỉ  
lệ lớn nhất gây ra TNGT ở trẻ em bao gồm: Đi  
sai phần đường, vi phạm tốc độ và thiếu quan  
sát. Ngoài ra các hành vi sử dụng điện thoại di  
động, thiết bị âm thanh, dàn hàng ngang, đội  
mũ bảo hiểm không đúng cách cũng là những  
hành vi phổ biến gây tai nạn thương tích ở tuổi  
Hằng năm trên toàn cầu ước tính có tới 1,35  
triệu người chết do TNGT (TNGT) đường bộ.  
Hàng năm, tại Việt Nam có khoảng 14,000  
người chết, là kết quả của các vụ va chạm  
giao thông. Tổ chức Y tế Thế giới ước tính  
rằng TNGT chính là nguyên nhân tử vong  
hàng đầu trong nhóm thanh niên từ 15 đến 29  
tuổi tại Việt Nam (1).  
Tại Việt Nam, xe máy điện, xe đạp điện  
(XĐĐ&XMĐ) ngày càng trở nên phổ biến  
với các em học sinh, đặc biệt là các em học  
sinh cấp Trung học phổ thông (THPT) bởi sự vị thành niên và thanh niên (2). Nghiên cứu  
*Địa chỉ liên hệ: Dương Đức Mạnh  
1 Trung tâm y tế thành phố Nam Định  
2 Trường Đại học Y tế công cộng  
Ngày nhận bài: 05/8/2020  
Ngày phản biện: 18/8/2020  
Ngày đăng bài: 29/12/2020  
130  
Dương Đức Mạnh và cộng sự  
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 04, Số 04-2020)  
Journal of Health and Development Studies (Vol.04, No.04-2020)  
của Fergusson, Swain – Campbell Horwood Trong đó:  
(2007) cũng cho thấy 90% thanh niên đã  
n là số đối tượng tham gia nghiên cứu.  
từng thực hiện hành động lái xe nguy hiểm  
và có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p  
<0,0001) giữa mức độ hành vi lái xe rủi ro và  
rủi ro tai nạn giao thông (3).  
p là tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có hành vi  
nguy cơ. Vì chưa có nghiên cứu tương tự trên  
đối tượng học sinh THPT nên chọn p=0,5  
Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong là  
trường THPT chuyên hệ công lập lớn nhất  
của tỉnh Nam Định. Học sinh của trường đến  
từ nhiều huyện xung quanh, quãng đường di  
chuyển xa và có nhiều học sinh ở lại kí túc xá  
của trường, vì thế tỉ lệ sử dụng XĐĐ&XMĐ  
của học sinh là rất lớn so với các trường trung  
học phổ thông khác của tỉnh Nam Định. Số  
liệu tổng hợp nhanh tại trường cho thấy có  
khoảng 80% học sinh của trường đi học hàng  
ngày bằng XĐĐ&XMĐ. Nghiên cứu nhằm  
tìm hiểu thực trạng những hành vi nguy cơ  
khi TGGT đường bộ cũng của học sinh THPT  
chuyên Lê Hồng Phong sử dụng XĐĐ&XMĐ.  
Z là hệ số tin cậy, ứng với độ tin cậy 95% thì  
Z = 1,96.  
d là sai số tuyệt đối. Trong nghiên cứu này,  
chúng tôi lựa chọn sai số tuyệt đối d = 0,07  
Dự trù 20% sai số à Mẫu nghiên cứu thu thập  
là: 235 học sinh  
Các đối tượng nghiên cứu được chọn thuận  
tiện, dựa trên sự thuận lợi, dễ tiếp cận của đối  
tượng và chỉ chọn những học sinh sử dụng  
XĐĐ&XMĐ. Nghiên cứu viên sẽ xin phép  
nhà trường và cô giáo chủ nhiệm, chọn các  
giờ tự học và sinh hoạt lớp để phát phiếu  
phỏng vấn theo từng lớp học, chia đều mỗi  
khối khoảng 75-85 học sinh.  
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Kỹ thuật, công cụ và quy trình thu thập  
số liệu  
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng  
thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang  
Nghiên cứu thu thập thông tin từ học sinh dựa  
trên bộ câu hỏi có cấu trúc được xây dựng sẵn  
về các nội dung: thông tin chung, thực trạng  
về các hành vi nguy cơ. Thời gian thu thập  
được ban giám hiệu bố trí hợp lý theo lịch học  
của học sinh. Số liệu thu thập vào cuối mỗi  
buổi học (có thể là tiết sinh hoạt cuối tuần).  
Địa điểm và thời gian nghiên cứu: Nghiên  
cứu được thực hiện từ tháng 5 năm 2019 đến  
tháng 10 năm 2019 tại trường THPT Lê Hồng  
Phong Nam Định.  
Đối tượng nghiên cứu: học sinh THPT chuyên  
Lê Hồng Phong từ lớp 10 - 12 sử dụng phương  
tiện xe máy điện, xe đạp điện.  
Trước khi thu thập số liệu bằng bộ phiếu tự  
điền được thiết kế sẵn, điều tra viên giới thiệu  
với học sinh về mục đích của nghiên cứu và  
hướng dẫn cách điền phiếu, giải thích cho học  
sinh cách tự điền.  
Cỡ mẫu nghiên cứu  
Đối với nghiên cứu định lượng  
Sử dụng công thức cỡ mẫu một tỉ lệ:  
Cỡ mẫu:  
Xử lý và phân tích số liệu  
Số liệu được làm sạch và phân tích trên phần  
mềm STATA, sử dụng các kỹ thuật thống kê  
mô tả phù hợp.  
p(1-p)  
d2  
Z2(1 - a/2)  
131  
Dương Đức Mạnh và cộng sự  
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 04, Số 04-2020)  
Journal of Health and Development Studies (Vol.04, No.04-2020)  
Đạo đức nghiên cứu  
nghiên cứu phù hợp, được Ban giám hiệu nhà  
trường đồng ý và ủng hộ.  
Đề cương nghiên cứu đã được thông qua Hội  
đồng Đạo đức – Trường Đại học Y tế Công  
cộng số 416/QĐ-ĐHYTC-HDD trước khi  
KẾT QUẢ  
tiến hành triển khai trên thực địa. Nội dung Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu  
Bảng 1. Đặc điểm chung về ĐTNC  
Đặc điểm  
Khối lớp  
Chi tiết  
Tần số (n)  
Tỉ lệ (%)  
32,8  
Lớp 10  
Lớp 11  
Lớp 12  
Nữ  
77  
84  
35,7  
74  
31,5  
Giới  
109  
126  
177  
20  
46,4  
Nam  
53,6  
Người sống cùng Bố mẹ  
75,3  
Người thân (bố hoặc mẹ đơn thân, ông/bà, cô  
8,5  
chú…)  
bác/chú…)  
Kí túc xá  
38  
138  
89  
16,2  
58,7  
37,9  
3,4  
Phương tiện  
Xe đạp điện  
Xe máy điện đã đăng ký  
Xe máy điện chưa đăng ký  
<16 tuổi  
8
Lần đầu tiên sử  
dụng XĐĐ &  
XMĐ  
184  
47  
79,6  
20,3  
>16 tuổi  
Tổng  
235  
100  
Trên tổng số 235 ĐTNC, trung bình có  
khoảng hơn 30% các đối tượng thuộc 3  
khối lớp khác nhau. Học sinh nam chiếm tỉ  
lệ cao hơn nữ, chiếm 53,6%. Có 75,3% đối  
tượng đang sống với bố mẹ, số còn lại đang  
sống với người thân, ông bà, chú bác và có  
16,2% đang sống tại kí túc xá nhà trường.  
sử dụng XMĐ đã đăng ký, tỉ lệ chưa đăng  
ký chỉ chiếm 3,4%. Đa số ĐTNC sử dụng  
XĐĐ & XMĐ lần đầu tiên từ lúc dưới 16  
tuổi, chiếm 79,6%.  
Thực trạng một số hành vi nguy cơ khi tham  
gia giao thông đường bộ sử dụng xe đạp và  
58,7% đối tượng sử dụng XĐĐ, và phần lớn xe máy điện của đối tượng nghiên cứu  
132  
Dương Đức Mạnh và cộng sự  
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 04, Số 04-2020)  
Journal of Health and Development Studies (Vol.04, No.04-2020)  
Bảng 2. Tần suất vi phạm các hành vi ATGT bị xử phạt hoặc nhắc nhở  
Chưa bao Hiếm khi  
Thỉnh  
Thường  
Rất thường  
xuyên (%)  
Đặc điểm  
giờ (%)  
(%)  
22,1  
23  
thoảng (%) xuyên (%)  
Vi phạm điều khiển tốc độ  
Vi phạm mũ bảo hiểm  
62,1  
14,9  
4,7  
0
0,9  
0
68,9  
3,4  
1,7  
Vi phạm sử dụng ĐTDD  
57,6  
30,7  
9,5  
0,5  
Vi phạm đi ngược chiều,  
sai làn  
48,4  
39,6  
10,4  
1,1  
0,5  
Vi phạm dàn hàng ngang  
Vi phạm vượt đèn đỏ  
47,2  
63,4  
36,2  
28,9  
13,6  
5,5  
1,7  
1,3  
1,3  
0,9  
Bảng 2 mô tả tần suất vi phạm các hành vi khi vi phạm, vi phạm đi ngược chiều, sai làn  
an toàn giao thông đường bộ của ĐTNC. Với chiếm 39,6%, dàn hàng ngang là 36,2% và vi  
hành vi vi phạm điều khiển tốc độ có 62,1% phạm vượt đèn đỏ là 28,9%. Có tới 13,6% đối  
đối tượng chưa bao giờ thực hiện hành vi tượng cho biết rằng họ thỉnh thoảng vi phạm  
này và 21,2% hiếm khi thực hiện. Hành vi vi hành vi dàn hàng ngang. Rất ít các trường hợp  
phạm MBH ( bao gồm không đội mũ, đội mũ thường xuyên và rất thường xuyên vi phạm,  
không cài quai…) có tới 23% đối tượng hiếm chỉ chiếm khoảng dưới 2% đối tượng.  
Biểu đồ 1. Hiểu biết của học sinh về quy định cấm các hành vi phạm luật  
Hầu hết các hành vi vượt đèn đỏ, dàn hàng rằng Luật ATGT đường bộ cấm các hành vi  
ngang, vi phạm đường ngược chiều, sai làn này. Tuy nhiên hành vi sử dụng ĐTDD có tới  
và mũ bảo hiểm đều trên 90% đối tượng cho 14,0% cho rằng Luật không cấm hành vi này.  
133  
Dương Đức Mạnh và cộng sự  
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 04, Số 04-2020)  
Journal of Health and Development Studies (Vol.04, No.04-2020)  
Bảng 3. Giới hạn vi phạm tốc độ và đặc điểm hành vi điều khiển xe quá tốc độ trong 1  
tháng vừa qua  
Đặc điểm  
Chi tiết  
Tần số (n)  
Tỉ lệ (%)  
31,1  
Giới hạn tốc độ  
XĐĐ  
Đúng (không quá 25km/h)  
Sai  
73  
162  
176  
59  
68,9  
Giới hạn tốc độ  
XMĐ  
Đúng (không quá 40km/h)  
Sai  
74,9  
25,1  
Đã từng vi phạm  
Vi phạm lỗi khi  
Chưa từng vi phạm  
Đã từng vi phạm  
Đi học  
146  
89  
62,1  
37,9  
38  
43,2  
Đi chơi  
28  
31,8  
Có việc đột xuất  
38  
16,2  
Trên tổng số các ĐTNC, có 31,1% học sinh trả điện không quá 40km/h. Có 89 đối tượng đã  
lời đúng rằng tốc độ tối đa cho xe đạp điện là từng vi phạm hành vi này, 43,2% đối tượng vi  
không quá 25km/h, với xe máy điện có 74,9% phạm khi đang đi học, 31,8% khi đang đi chơi,  
trả lời đúng rằng tốc độ cho phép của xe máy và 16,2% vi phạm lỗi khi có việc đột xuất.  
Biểu đồ 2. Tần suất vi phạm và truyền thông về đội MBH của học sinh trong 1 tháng  
vừa qua  
134  
Dương Đức Mạnh và cộng sự  
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 04, Số 04-2020)  
Journal of Health and Development Studies (Vol.04, No.04-2020)  
Xét về tần suất vi phạm của ĐTNC, tỉ lệ cũng ở mức thấp dưới 20%. Tỉ lệ hiếm khi  
hiếm khi không đội MBH chiếm tới 23%, tỉ nghe tuyên truyền về đội MBH cũng ở mức  
lệ thỉnh thoảng và thường xuyên ở mức thấp cao 35,7% hiếm khi nghe và 29,0% thường  
dưới 5%. Tỉ lệ đối tượng không cài quai mũ xuyên nghe tuyên truyền.  
Biểu đồ 3. Tần suất và mục đích sử dụng ĐTDD khi điều khiển XĐĐ & XMĐ trong  
vòng 1 tháng qua  
Trêntổngsố235ĐTNC, có57,6%chưasửdụng tuổi sử dụng XĐĐ mà chỉ giới hạn tuổi sử  
dụng XMĐ, vì thế hiện nay các em được tiếp  
cận và sử dụng XĐĐ từ khá sớm. Đây cũng  
là một vấn đề đáng quan tâm và cần có những  
văn bản quy định cụ thể hơn trong việc giới  
hạn độ tuổi sử dụng XĐĐ.  
ĐTDD khi điều khiển XĐĐ & XMĐ bao giờ,  
30,7% hiếm khi sử dụng và 9,5% thỉnh thoảng  
sử dụng. Xét về mục đích sử dụng điện thoại  
khi TGGT, có tới 62,9% là dùng để nghe gọi,  
12,4% dùng điện thoại để chơi game, 11,4%  
nghe nhạc và 5,7% sử dụng mạng xã hội.  
Xét về các lỗi vi phạm bị xử phạt, lỗi liên  
quan đến MBH chiếm tỉ lệ cao nhất, lỗi này  
có thể là không đội MBH, đội MBH không  
cài quai… Mặc dù theo Khoản 2, Điều 31,  
Luật Giao thông đường bộ, người điều khiển  
người ngồi trên XĐĐ & XMĐ phải đội MBH  
có cài quai đúng quy cách, tuy nhiên thực  
trạng tuân thủ đội MBH vẫn còn chưa cao (4).  
BÀN LUẬN  
Kết quả nghiên cứu được thực hiện trên 235  
đối tượng là học sinh đại diện cho 3 khối lớp  
của trường trung học phổ thông Lê Hồng  
Phong, Nam Định có sử dụng XĐĐ & XMĐ.  
Trường trung học Phổ thông Lê Phong là  
trường chuyên lớn với số lượng học sinh theo  
học đông đến từ nhiều huyện trong tỉnh, vì thế  
ngoài việc ở với gia đình, các em còn có thể  
ở ký túc xá để học nội trú, vì thế có tới 16,2%  
học sinh ở tại ký túc xá ở trong trường, ngoài  
việc ở cùng bố mẹ, người thân.  
Xét về ý kiến của các ĐNTC về Luật có quy  
định cấm các hành vi vi phạm luật giao thông  
đường bộ. Hầu hết các hành vi vượt đèn đỏ,  
dàn hàng ngang, vi phạm đường ngược chiều,  
sai làn và MBH đều trên 90% đối tượng cho  
rằng Luật ATGT đường bộ cấm các hành vi  
này. Tuy nhiên hành vi sử dụng ĐTDD có  
tới 14,0% cho rằng Luật không cấm hành vi  
này. Có thể thấy học sinh đã có nhận thức tốt  
Theo nghiên cứu, có tới 79,6% sử dụng XĐĐ  
& XMĐ khi các em dưới 16 tuổi. Có thể lý  
giải điều này do nhà nước chưa giới hạn độ về quy định của Luật ATGT đường bộ về các  
135  
Dương Đức Mạnh và cộng sự  
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 04, Số 04-2020)  
Journal of Health and Development Studies (Vol.04, No.04-2020)  
hành vi nói trên. Hầu hết với tất cả các hành quãng đường ngắn, nghiên cứu của chúng tôi  
vi, có khoảng hơn một nửa số học sinh chưa  
cũng cho kết quả rằng tỉ lệ luôn luôn đội MBH  
vi phạm bao giờ. Tỉ lệ này tương đương với khi đi XĐĐ cũng ở mức thấp chỉ 5,5%.  
với nghiên cứu của Nguyễn Văn Lượt khi  
Hành vi sử dụng ĐTDD, thiết bị âm thanh khi  
chỉ ra tần suất thực hiện hành vi ít hơn 3 lần  
điều khiển XĐĐ & XMĐ là hành vi có tỉ lệ  
cũng ở mức từ 60-80%, tương đương với tần  
vi phạm tương đối thấp trên tổng số các hành  
xuất chưa bao giờ và hiếm khi thực hiện trong  
vi trong nghiên cứu. Trên tổng số 235 ĐTNC,  
nghiên cứu của tôi. Tỉ lệ rất thường xuyên  
có 57,6% chưa sử dụng ĐTDD khi điều  
thực hiện hành vi cũng tương đối thấp hơn  
khiển XĐĐ & XMĐ bao giờ, 30,7% hiếm  
rất nhiều so với nghiên cứu của Nguyễn Văn  
khi sử dụng và 9,5% thỉnh thoảng sử dụng.  
Lượt là từ 9-14%. Thêm vào đó, tỉ lệ hiếm khi  
Theo nghiên cứu quan sát trực tiếp hành vi sử  
nghe tuyên truyền về đội MBH cũng ở mức  
dụng ĐTDĐ trong khi lái xe đối tượng điều  
cao 35,7% hiếm khi nghe và 29,0% thường  
khiển XĐĐ có tỷ lệ sử dụng ĐTDĐ đặc biệt  
xuyên nghe tuyên truyền, có thể thấy vấn đề  
cao (với tỷ lệ 192/1000), điều này có thể do  
truyền thông về các hành vi nguy cơ ATGT  
nghiên cứu của chúng tôi là tự báo cáo nên tỉ  
cho học sinh vẫn còn kém. (5)  
lệ thấp hơn so với nghiên cứu quan sát.  
Xét riêng với hành vi điều khiển xe quá tốc độ,  
Đây là một nghiên cứu mới có rất ít nghiên cứu  
có 31,1% học sinh trả lời đúng rằng tốc độ tối  
trên thế giới cũng như trong nước thực hiện.  
đa cho XĐĐ là không quá 25km/h, với XMĐ  
Do hạn chế về mặt thời gian cũng như nguồn  
có 74,9% trả lời đúng rằng tốc độ cho phép của  
lực nên cuộc khảo sát chỉ có thể tiến được tại  
XMĐ không quá 40km/h. Có thể thấy học sinh  
một trường THPT mà không thể mở rộng tất cả  
vẫn chưa nắm rõ được những quy định về giới  
địa bàn nên tính khái quát chưa cao. Bộ câu hỏi  
hạn tốc độ khi sử dụng XĐĐ & XMĐ.  
sử dụng là bộ câu hỏi phát vấn tự điền, không  
Đánh giá về hành vi vi phạm tốc độ gần nhất  
của học sinh, có tới 43,2% đối tượng vi phạm  
khi đang đi học, 31,8% khi đang đi chơi, chủ  
yếu hành vi xảy ra tại đường bằng phẳng dễ  
đi và chỉ có 8% xảy ra ở đường cao tốc. Có  
thể thấy thực trạng điều khiển xe quá tốc độ  
của học sinh sử dụng xe đạp và XMĐ rất đa  
dạng và phổ biến, tuy nhiên tỉ lệ bị phạt khi vi  
phạm hành vi này lại chưa cao.  
có sự kiểm tra đối chiếu thực tế nên độ chính  
xác chưa cao. Vì vậy kết quả nghiên cứu chỉ  
mang tính chất đại diện cho một trường THPT  
khả năng suy rộng kết quả là hạn chế.  
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ  
Nghiên cứu cho thấy thực trạng thực hiện các  
hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông của  
học sinh vẫn ở mức cao mặc dù trên 90% học  
sinh biết rằng luật quy định cấm những hành  
vi này. Học sinh vẫn còn chưa nắm rõ các quy  
định về việc không sử dụng ĐTDĐ, giới hạn  
Xét về tỉ lệ học sinh biết về Luật quy định bắt  
buộc phải đội MBH là 97,02%. Theo nghiên  
cứu thực trạng đội MBH của thanh thiếu niên  
cũng cho thấy thanh niên có tỉ lệ không đội  
MBH trên đoạn đường ngắn hay trong đường tốc độ cho khi điều khiển XĐĐ & XMĐ. Các  
làng chiếm tỉ lệ khá cao tới 65,5%. Nghiên cứu đối tượng thường vi phạm luật khi đi học (với  
của Vũ Trí Hoạt cũng chỉ ra có tới 42,3% đối điều khiển quá tốc độ là 43,2% và vi phạm đội  
tượng cho rằng chỉ có 6,4% học sinh cho rằng MBH là 9,4%. Tỉ lệ học sinh sử dụng ĐTDĐ  
chỉ cần thiết đội MBH khi đi đường dài, đường khi đi đường vẫn ở mức cao tới 42,4% trong  
cao tốc, không cần đội MBH khi đi những 1 tháng vừa qua. Vì thế, cần có các hình thức  
136  
Dương Đức Mạnh và cộng sự  
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 04, Số 04-2020)  
Journal of Health and Development Studies (Vol.04, No.04-2020)  
[Available  
from:  
tuyên truyền hiệu quả hơn tại nhà trường và  
cộng đồng về tầm quan trọng trong việc tuân  
thủ Luật ATGT, đặc biệt là sự nguy hiểm của  
các hành vi nguy cơ, các lực lượng chức năng  
của tỉnh cần quyết liệt triển khai, đồng bộ các  
biện pháp nhằm đảm bảo ATGT nhất là khu  
vực trường học thường xuyên và đầy đủ và có  
những hình phạt cụ thể như phạt tiền, thu giữ  
phương tiện…  
news-room/detail/16-05-2017-more-than-1-2-  
million-adolescents-die-every-year-nearly-all-  
preventable.  
2. Ủy ban ATGT quốc gia. nghiên cứu ATGT ở  
học sinh trung học phổ thông năm 2016. 2016.  
3. Fergusson D, Horwood L, Swain N. Ethnicity  
and Criminal Convictions: Results of a 21-  
year Longitudinal Study. Australian and New  
Zealand Journal of Criminology - AUST N Z J  
CRIMINOL. 2003;36:354-67.  
4. Bộ Công an. Thông tư 31/2019/TT-BGTVT tốc  
độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới khi  
tham gia giao thông. 2019.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
5. Nguyễn Văn Lượt*. Hành vi nguy cơ khi tham  
gia giao thông đường bộ của thanh thiếu niên  
2015;Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Tập 31, Số  
5 (2015) 26-33.  
1. WHO. More than 1.2 million adolescents  
die every year, nearly all preventable 2017  
137  
Dương Đức Mạnh và cộng sự  
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 04, Số 04-2020)  
Journal of Health and Development Studies (Vol.04, No.04-2020)  
Risky behavior of participating in road trafꢀc by electric motorbikes,  
electric bicycles by students of Le Hong phong high school, Nam Dinh  
province, 2019  
Duong Duc Manh1, Hoang Thuy Dung2, Pham Viet Cuong2  
1 Nam Dinh city healthcare center  
2 Hanoi University of Public Health  
Objective: describe some risky behaviors when participating in road trafꢀc by electric  
motorbikes, electric bicycles of pupils of Le Hong Phong High School, Nam Dinh province  
in 2019. Research Methodology: This was a cross-sectional study, using quantitative research  
methods with the participation of 235 pupils of Le Hong Phong High School, Nam Dinh  
province in the period of May to October, 2019. Results and recomendations: More than 235  
students using electric bicycles and electric motorbikes, with 37.9% speed control violations,  
31.1% of whom had committed a violation, a helmet violation was 31.1 % and 42.4% have ever  
used a mobile phone while driving, the act of passing a red light, going in the wrong lane and  
crossing a line also has a violation rate of over 50%. More than 90% of students know that it  
is prohibited by law. Conclusion: Research shows that there is a need for more effective forms  
of communication about compliance with the Law on Trafꢀc Safety. The provincial authorities  
should comprehensively implement measures to ensure trafꢀc safety, especially the regular and  
complete school area and speciꢀc penalties.  
Keywords: risk behavior, traꢀc safety, electric bicycles, electric motorbikes, high school  
students, speeding, helmets  
138  
pdf 9 trang yennguyen 14320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông đường bộ bằng xe máy điện, xe đạp điện của học sinh trường Trung học Phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, tỉnh Nam Định năm 2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_hanh_vi_nguy_co_khi_tham_gia_giao_thong_duong_bo_bang.pdf