Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ: Bằng chứng từ dữ liệu khảo sát người dân tại tỉnh Khánh Hòa

Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 4(4):1050-1058  
Bài nghiên cứu  
Open Access Full Text Article  
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ:  
bằng chứng từ dữ liệu khảo sát người dân tại tỉnh Khánh Hòa  
Phạm Thành Thái1,*, Võ Chí Nam2  
TÓM TẮT  
Biện pháp đơn giản và khoa học nhất để phát hiện sớm, hạn chế tối đa những thương tổn và ngăn  
ngừa biến chứng của bệnh lý là kiểm tra sức khỏe định kỳ thì cho đến nay vẫn rất ít người ý thức  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
được tầm quan trọng của nó. Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, cho thấy tỷ lệ người dân  
tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ chưa cao. Vì vậy, biết được những yếu tố nào ảnh hưởng đến  
việc tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân là rất quan trọng để tạo ra một hệ thống và  
môi trường làm cho người dân nhiều khả năng tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ hơn. Nghiên  
cứu dựa trên dữ liệu khảo sát với kích thước mẫu là 420 người dân ở Khánh Hòa nhằm xác định các  
yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ bằng việc áp dụng mô hình hồi  
quy Logit. Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ phụ thuộc vào  
nhiều yếu tố như trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, tuổi tác, tiểu sử bệnh mãn tính, thời  
gian chờ đợi và tác động của chi phí. Nghiên cứu cũng xác định rằng giới tính và tình trạng hôn  
nhân không có ảnh hưởng đến việc tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ. Kết quả nghiên cứu cho  
thấy sự cần thiết phải xem xét sự ưu tiên về thời gian, cũng như vấn đề chi phí khi xây dựng các  
chính sách khuyến khích kiểm tra sức khỏe định kỳ cho người dân.  
Từ khoá: yếu tố ảnh hưởng, kiểm tra sức khỏe định kỳ, hành vi sức khỏe, Khánh Hòa  
sức khỏe cho thấy không có vấn đề về sức khỏe, đơn  
giản chỉ cần họ biết được tình trạng sức khỏe của họ  
GIỚI THIỆU  
Sức khỏe là vốn quý của mỗi con người, là vấn đề cốt  
có thể sẽ rất hữu ích, giúp họ có thể yên tâm về tình  
lõi quyết định sự phát triển của một địa phương, một  
trạng sức khỏe của mình. Chính hành động quyết  
quốc gia vì nó quyết định chất lượng của nguồn vốn  
định có nên thực hiện kiểm tra sức khỏe định kỳ hay  
1Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha  
Trang  
2Viện Pasteur Nha Trang  
nhân lực. Trong khi đó, vốn nhân lực lại là một yếu  
tố đầu vào quan trọng quyết định đến tăng trưởng và  
phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Việc chăm sóc  
sức khỏe có thể được thực hiện bằng cách thay đổi lối  
sống và cách suy nghĩ, thực hiện kiểm tra sức khỏe  
định kỳ,... để đẩy lùi triệt để, hạn chế thấp nhất các  
nguy cơ gây nên bệnh tật. Trong đó, việc thực hiện  
kiểm tra sức khỏe định kỳ là một biện pháp hiệu quả  
nhất, với phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”.  
Kiểm tra sức khỏe định kỳ để ngăn ngừa bệnh tật, phát  
hiện bệnh ở giai đoạn sớm và duy trì sức khỏe tốt được  
xem là một trong những biện pháp dự phòng hiệu quả  
nhất. ông qua kiểm tra sức khỏe định kỳ, một cá  
nhân có thể đánh giá tình trạng sức khỏe của họ, nhận  
biết được các nguy cơ có thể gặp phải và thực hiện các  
biện pháp điều trị bệnh nếu cần thiết để tiết kiệm thời  
gian, chi phí và nâng cao chất lượng cuộc sống. Đối  
với những người có kết quả kiểm tra sức khỏe không  
tốt, điều đó có thể giúp họ thay đổi những hoạt động  
hàng ngày, lối sống theo hướng tích cực, lành mạnh  
hơn, chẳng hạn như thay đổi thói quen ăn uống, tập  
không sẽ liên quan đến nhận thức của một người về  
việc duy trì sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật. Xã hội  
càng phát triển thì kéo theo đó là hàng loạt các vấn đề  
về môi trường sống sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của  
con người, các yếu tố như ô nhiễm môi trường, áp lực  
công việc càng làm gia tăng nguy cơ các bệnh hiểm  
nghèo như ung thư, bệnh lý tim mạch, gan, thận, tăng  
huyết áp, cholesterol, đái tháo đường,… Trong khi đó,  
biện pháp đơn giản và khoa học nhất để phát hiện  
sớm, hạn chế tối đa những thương tổn và ngăn ngừa  
biến chứng của bệnh lý là kiểm tra sức khỏe định kỳ  
thì cho đến nay vẫn rất ít người ý thức được tầm quan  
trọng của nó.  
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ người dân  
tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ chưa cao. Nghiên  
cứu của Olayinka và cộng sự.1 tại Tây Nam Nigeria,  
cho thấy tỷ lệ thực hiện kiểm tra sức khỏe định kỳ của  
người dân trong mẫu khảo sát là 62,34%; Kết quả khảo  
sát của Trung tâm bảo vệ sức khỏe tại Hồng Kông2,  
cho thấy tỷ lệ người dân từ 15 tuổi trở lên thực hiện  
Liên hệ  
Phạm Thành Thái, Khoa Kinh tế - Trường  
Đại học Nha Trang  
Email: [email protected].vn  
Lịch sử  
• Ngày nhận: 29/07/2020  
• Ngày chấp nhận: 22/10/2020  
• Ngày đăng: 08/11/2020  
DOI : 10.32508/stdjelm.v4i4.676  
Bản quyền  
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố  
mở được phát hành theo các điều khoản của  
the Creative Commons Attribution 4.0  
International license.  
thể dục, ... Ngay cả đối với những người khi kiểm tra kiểm tra sức khỏe định kỳ là 16,7% trong tổng dân  
Trích dẫn bài báo này: Thái P T, Nam V C. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kiểm tra sức khỏe  
định kỳ: bằng chứng từ dữ liệu khảo sát người dân tại tỉnh Khánh Hòa. Sci. Tech. Dev. J. - Eco. Law  
Manag.; 4(4):1050-1058.  
1050  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 4(4):1050-1058  
số từ 15 tuổi trở lên; Cherrington và cộng sự.3, thực  
hiện một nghiên cứu tại Hoa Kỳ, kết quả cho thấy có  
42% những người dân trong mẫu khảo sát có xác nhận  
kiểm tra sức khỏe định kỳ. Tại Nhật Bản, nghiên cứu  
của Noguchi và Shen4 cho thấy có 77,81% người dân  
trong mẫu khảo sát tham gia kiểm tra sức khỏe định  
kỳ.  
KHUNG LÝ THUYẾT  
Hành vi sức khỏe của một người liên quan đến việc  
người đó có sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe  
hay không, chẳng hạn, cá nhân đó có tiến hành kiểm  
tra sức khỏe định kỳ hoặc có thực hiện việc tầm soát  
ung thư hay không. Lý thuyết kinh tế học sức khỏe chỉ  
ra rằng việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe  
chịu tác động của các yếu tố nhân khẩu, kinh tế, xã  
hội, lối sống, ... Một số nghiên cứu đã xác định các  
yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kiểm tra sức khỏe  
định kỳ. Mô hình hành vi sử dụng các dịch vụ chăm  
sóc sức khỏe của Andersen9, cho rằng ảnh hưởng đến  
quyết định sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của  
một cá nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm: (1)  
Khuynh hướng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe  
của cá nhân (giới tính, độ tuổi, thái độ đối với sức  
khỏe, yếu tố di truyền, yếu tố tâm lý cá nhân), (2)  
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tiếp cận và sử dụng dịch  
vụ của cá nhân (thu nhập, bảo hiểm, sự sẵn có của  
dịch vụ, các chi phí đi lại và thời gian chờ đợi) và (3)  
Nhu cầu được chăm sóc sức khỏe của từng cá nhân.  
Iwasaki và cộng sự.10 cho rằng các yếu tố nhân khẩu  
- xã hội, yếu tố lối sống và lịch sử y tế cá nhân là các  
yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định kiểm tra  
sức khỏe định kỳ. Funahashi và cộng sự.11 phát hiện  
ra rằng thu nhập hộ gia đình, nghề nghiệp, giới tính  
và sự hỗ trợ của những người thân có ảnh hưởng đến  
quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ của họ.  
Tuổi, học vấn cũng được xác định là có ảnh hưởng  
đến việc kiểm tra sức khỏe định kỳ12,13. ompson  
và Yarnold14, cho rằng quyết định kiểm tra sức khỏe  
định kỳ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó phải  
kể đến yếu tố thời gian chờ đợi. Evashwick và cộng  
sự.15, chỉ ra rằng nhóm các biến số liên quan tới khả  
năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế bao gồm  
thu nhập, nghề nghiệp, bảo hiểm, khó khăn đi lại và  
việc có sử dụng dịch vụ bác sĩ riêng có ảnh hưởng đến  
quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ. Nghiên cứu  
cũng cho thấy yếu tố nhu cầu có khả năng dự báo tốt  
cho việc sử dụng các dịch vụ khám bác sĩ, nằm viện,  
khám bệnh lưu động và khám bệnh tại nhà. Nghiên  
cứu cũng chỉ ra rằng giới tính, tuổi tác, chủng tộc, giáo  
dục, thành phần gia đình, hôn nhân và việc có tham  
gia các dịch vụ y tế phòng ngừa cũng là các yếu tố có  
ảnh hưởng đến việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức  
khỏe của cá nhân. Nghiên cứu của Noguchi và Shen4  
cũng chỉ ra rằng các yếu tố tác động đến sự tham gia  
kiểm tra sức khỏe định kỳ bao gồm: giới tính, tuổi, thu  
nhập, quy mô hộ gia đình, nghề nghiệp, quy mô dân  
số, học vấn, lịch sử bệnh tật của cá nhân,... Cherring-  
ton và cộng sự3, cũng cho thấy các yếu tố ảnh hưởng  
đến sự tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ bao gồm:  
Tại Việt Nam, việc tham gia khám sức khỏe định kỳ  
mới chỉ được thực hiện cho người lao động làm việc  
ở một số cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, còn  
phần lớn người dân chỉ đến cơ sở khám chữa bệnh khi  
có bệnh mà chưa có thói quen đi kiểm tra sức khỏe  
định kỳ vì tâm lý e ngại khi phải xếp hàng chờ đợi  
ở các bệnh viện, các trung tâm y tế, các cơ sở khám  
chữa bệnh cũng như chi phí phải bỏ ra. eo thống  
kê của Bộ Y tế5, tỷ lệ lượt khám chữa bệnh trên tổng  
số lượt khám, chữa bệnh chung: tuyến tỉnh 8,86%,  
tuyến huyện 8,96%, tuyến xã 28,49%, chỉ khoảng 6,7  
triệu người cao tuổi được khám sức khỏe định kỳ ít  
nhất 1 lần/năm. eo báo cáo tổng kết ngành Y tế  
khu vực miền Trung năm 2019, thì chỉ khoảng 2,8%  
số lao động, tương đương 28.000 người trong tổng số  
gần 1 triệu lao động trực tiếp trong các doanh nghiệp  
tham gia khám sức khỏe định kỳ. Với số dân khu vực  
miền trung (khu vực từ Bình uận đến Quảng Bình)  
là 26,46 triệu người (tỷ lệ 27,4% so với tổng dân số cả  
nước) nhưng số người được khám sức khỏe định kỳ  
ít nhất 1 lần/năm, chỉ khoảng 8,1 triệu người, tương  
đương 30,6%6. Nghiên cứu của Trương Công Hiếu  
và cộng sự.7 tại thành phố Huế cho thấy chỉ có 36,9%  
người dân trong mẫu khảo sát đã từng tham gia khám  
sức khỏe định kỳ. Trần Tịnh Minh Trí8 thực hiện một  
nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh, chỉ ra rằng  
có 68,75% người dân trong mẫu khảo sát có tham gia  
kiểm tra sức khỏe định kỳ.  
Từ những vấn đề trên, cho thấy vẫn còn khá ít các  
nghiên cứu liên quan được thực hiện tại Việt Nam,  
và cũng cho thấy tỷ lệ người dân ở Việt Nam tham  
gia kiểm tra sức khỏe định kỳ còn thấp. Vì vậy, việc  
nghiên cứu để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết  
định kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân là một  
yêu cầu cần thiết và hữu ích. Nghiên cứu này dựa trên  
dữ liệu từ một khảo sát người dân tại tỉnh Khánh Hòa  
nhằm xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết  
định tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ của người  
dân, trên cơ sở đó đề xuất một số hàm ý chính sách  
nhằm khuyến khích người dân thực hiện kiểm tra sức  
khỏe định kỳ nhiều hơn. Các kết quả chỉ ra rằng quyết  
định kiểm tra sức khỏe định kỳ phụ thuộc vào nhiều  
yếu tố như trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập,  
tuổi tác, tiểu sử bệnh mãn tính, thời gian chờ đợi và  
tác động của chi phí. Nghiên cứu cũng xác định rằng  
giới tính và tình trạng hôn nhân không có ảnh hưởng  
đến việc tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ.  
1051  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 4(4):1050-1058  
tuổi, giới tính, sắc tộc, bảo hiểm, trình độ học vấn, định kỳ. Gioitinh là giới tính, Tuoi là tuổi, Honnhan  
tình trạng sức khỏe.  
là tình trạng hôn nhân, Nghenghiep là nghề nghiệp,  
unhap là thu nhập, KTRA_CP là tác động của chi  
phí, KTRA_TG là tác động của thời gian, Mantinh là  
bệnh mãn tính, và U là sai số. Các biến trong mô hình  
(1) được mô tả trong Bảng 1.  
Lê ị Hạnh và Nguyễn ành Đức16, đã tiến hành  
một nghiên cứu về kiến thức, thái độ của người bệnh  
đối với sự giáo dục sức khỏe của điều dưỡng. Kết quả  
nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người bệnh có kiến thức  
đúng về sự giáo dục sức khỏe của điều dưỡng đạt 66%,  
tỷ lệ người bệnh có thái độ đúng là 84%. Nhóm người  
bệnh có kiến thức đúng về sự giáo dục sức khoẻ của  
điều dưỡng có tỷ lệ thái độ đúng cao hơn so với nhóm  
người bệnh có kiến thức chưa đúng. Nghiên cứu cũng  
xác định được các liên quan giữa yếu tố nghề nghiệp,  
trình độ và kiến thức, thái độ của người bệnh đối với  
sự giáo dục sức khỏe của điều dưỡng. Trương Công  
Hiếu và cộng sự.7, chỉ ra rằng 42,6% người dân có  
kiến thức chung tốt về kiểm tra sức khỏe định kỳ,  
92,4% người dân cho rằng tất cả mọi người cần thực  
hiện kiểm tra sức khỏe định kỳ nhưng chỉ có 41,8%  
người dân có thái độ chung tốt về kiểm tra sức khỏe  
định kỳ. Có 21,2% người dân có tiến hành kiểm tra  
sức khỏe định kỳ trong 12 tháng. Nghiên cứu cũng  
chỉ ra rằng kiến thức, thái độ tốt về kiểm tra sức khỏe  
định kỳ là khá cao, nhưng tỷ lệ thực hiện kiểm tra  
sức khỏe định kỳ còn thấp. Trình độ học vấn, nghề  
nghiệp, mức thu nhập và bảo hiểm y tế là các yếu  
tố liên quan đến thực hành kiểm tra sức khỏe định  
kỳ. Trần Tịnh Minh Trí8, chỉ ra rằng các yếu tố ảnh  
hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ kiểm tra sức  
khỏe định kỳ bao gồm: giới tính, trình độ học vấn,  
tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, thu nhập, lịch sử  
bệnh mãn tính, thời gian chờ đợi và giá dịch vụ.  
Dựa trên các cơ sở lý thuyết nền liên quan đến hành vi  
sức khỏe của cá nhân và các nghiên cứu thực nghiệm  
liên quan, nghiên cứu đề xuất 3 nhóm yếu tố chính tác  
động đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ, bao  
gồm: Nhóm các yếu tố thuộc về cá nhân (các yếu tố  
đặc điểm nhân khẩu – xã hội), nhóm các yếu tố thuộc  
về chất lượng dịch vụ, và nhóm các yếu tố thuộc về  
tình trạng sức khỏe của người dân. Khung phân tích  
cho nghiên cứu được thể hiện ở Hình 1.  
DỮ LIỆU  
Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này là dữ liệu  
chéo được thu thập từ một cuộc khảo sát người dân  
tỉnh Khánh Hòa trong năm 2019 do người nghiên  
cứu thực hiện. Một mẫu khảo sát với kích thước là  
420 người dân từ 18 tuổi trở lên được phân bổ cho  
8 huyện/thành phố dựa trên dân số tại tỉnh Khánh  
Hòa. Việc thu thập mẫu được thực hiện theo phương  
pháp thuận tiện tại các địa bàn ành phố Nha Trang,  
ành phố Cam Ranh, ị xã Ninh Hòa, huyện Cam  
Lâm, Khánh Sơn, Khánh Vĩnh, Diên Khánh, và Vạn  
Ninh, với thời gian phỏng vấn cho một bản câu hỏi là  
15 - 20 phút. Để có thể tiếp xúc với người dân và thực  
hiện phỏng vấn, người nghiên cứu đến các cơ sở khám  
chữa bệnh trên địa bàn các huyện/thành phố của tỉnh  
Khánh Hòa vào các ngày trong tuần (từ tháng 10 đến  
tháng 12 năm 2019).  
Khánh Hòa là một tỉnh thuộc Nam Trung bộ của  
Việt Nam, với dân số toàn tỉnh ước khoảng 1.297.000  
người. Phần lớn dân số sống tập trung ở các thành  
phố, huyện, thị đồng bằng, chiếm khoảng hơn 90%  
dân số toàn tỉnh. Tỉnh Khánh Hòa có hai huyện miền  
núi là Khánh Sơn và Khánh Vĩnh với dân số ước tính  
khoảng hơn 5% dân số toàn tỉnh. Dựa trên sự phân bố  
dân số của các huyện, thị, thành phố tại tỉnh Khánh  
Hòa và kích thước mẫu cho nghiên cứu là 420 quan  
sát như đã đề cập ở trên, số lượng mẫu khảo sát được  
phân bổ cho các địa bàn nghiên cứu được trình bày  
ở Bảng 2. Một tóm tắt thống kê mô tả cho tất cả các  
biến được trình bày ở Bảng 3.  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO  
LUẬN  
Kết quả ước lượng mô hình và các tác động biên thu  
được từ hồi quy Logit được trình bày trong Bảng 4.  
Nhìn chung, kết quả ước lượngcho thấy hầu hếtcác hệ  
số hồi quy đều có ý nghĩa thống kê cao ở mức ý nghĩa  
1% và 5%. Riêng hai biến giới tính và tình trạng hôn  
nhân thì không có ý nghĩa về mặt thống kê (p_value  
> 10%).  
Cụ thể, đối với việc tham gia kiểm tra sức khỏe định  
kỳ hàng năm, hệ số hồi quy của biến giới tính (gioit-  
inh) là dương và không có ý nghĩa thống kê, ngụ ý  
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Mô hình nghiên cứu  
Để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định  
kiểm tra sức khỏe định kỳ, mô hình hồi quy Binary  
Logistic sau được đề xuất:  
KTRA_DKi = β1 +β2Gioitinhi +β3Tuoii +β4Hocvani  
+β5Honnhani +β6Nghenghiepi +β7Thunhapi (1)  
+β8KTRA_CP +β9KTRA_TGi +β10Mantinhi +Ui  
i
Trong đó, KTRA_ĐK là biến phụ thuộc, cụ thể rằng nam giới và nữ giới không có sự khác biệt trong  
KTRA_ĐK là xác suất thực hiện kiểm tra sức khỏe quyết định tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ. Kết  
1052  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 4(4):1050-1058  
Hình 1: Khung phân tích của nghiên cứu  
Bảng 1: Mô tả các biến trong mô hình (1)  
STT  
1
Tên biến  
Mô tả các biến  
Mã hóa  
KTRA_ĐK  
ực hiện kiểm tra sức khỏe  
định kỳ hàng năm  
1 - Có; 0 - Không  
2
3
Gioitinh  
Tuoi  
Giới tính  
Tuổi  
1 - Nam; 0 - Nữ  
0 - Dưới 40 tuổi;  
1 - Từ 40 tuổi trở lên  
4
5
6
Hocvan  
Trình độ học vấn  
Tình trạng hôn nhân  
Nghề nghiệp  
0 - THPT trở xuống;  
1 - trên THPT  
Honnhan  
Nghenghiep  
0 - Độc thân;  
1 - Đã lập gia đình  
0 - Làm việc trong cơ quan nhà nước, doanh  
nghiệp;  
1 - Nông dân, ngư dân, học sinh, sinh viên, tự  
kinh doanh, buôn bán, khác.  
7
unhap  
u nhập  
0 - Dưới 10 triệu;  
1 - Từ 10 triệu trở lên  
8
KTRA_CP  
KTRA_TG  
Mantinh  
Tác động của chi phí  
Tác động của thời gian  
Bệnh mãn tính  
1 - Có; 0 – Không  
1 - Có; 0 – Không  
1 - Có; 0 – Không  
9
10  
1053  
   
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 4(4):1050-1058  
Bảng 2: Phân bổ mẫu cho các địa bàn nghiên cứu17  
STT  
ành phố/huyện  
Nha Trang  
Cam Ranh  
Ninh Hòa  
Dân số  
421.218  
142.266  
255.136  
148.633  
25.445  
Tỷ lệ (%)  
32,48  
10,97  
19,67  
11,46  
1,96  
Phân bổ mẫu  
1
136  
46  
83  
48  
8
2
3
4
Vạn Ninh  
5
Khánh Sơn  
Khánh Vĩnh  
Cam Lâm  
6
41.123  
3,17  
13  
38  
48  
420  
7
117.084  
146.095  
1.297.000  
9,03  
8
Diên Khánh  
11,26  
100  
Cộng  
Bảng 3: Thống kê mô tả cho tất cả các biến được sử dụng trong phân tích hồi quy  
Các biến  
Tần suất  
225  
Tỷ lệ (%)  
53,57  
46,43  
56,67  
43,33  
52,14  
47,86  
38,33  
ực hiện kiểm tra sức khỏe định kỳ  
hàng năm  
Có  
Không  
Nữ  
195  
Giới tính  
Tuổi1  
238  
Nam  
182  
Dưới 40  
Từ 40 trở lên  
219  
201  
Nghề nghiệp  
Làm việc trong cơ quan nhà nước,  
doanh nghiệp  
161  
Nông dân, ngư dân, học sinh, sinh  
viên, tự kinh doanh, buôn bán,  
khác.  
259  
61,67  
Học vấn  
THPT trở xuống  
THPT trở lên  
Độc thân  
Đã lập gia đình  
Dưới 10 triệu  
Từ 10 triệu trở lên  
Có  
202  
218  
86  
48,10  
51,90  
20,48  
79,52  
79,05  
20,95  
45,71  
54,29  
52,14  
47,86  
20,95  
79,05  
Hôn nhân  
u nhập  
334  
332  
88  
Tác động của thời gian đến việc kiểm  
tra sức khỏe định kỳ  
192  
228  
219  
201  
88  
Không  
Tác động của chi phí đến việc kiểm tra  
sức khỏe định kỳ  
Có  
Không  
Bệnh mãn tính  
Có  
Không  
332  
1 Dựa theo Trần Tịnh Minh Trí. Phân tích Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân Tp. Hồ Chí Minh.  
Kinh tế và sức khỏe. Một số nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam 2016;176-191.8  
1054  
   
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 4(4):1050-1058  
Bảng 4: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Logit  
Biến độc lập  
1.gioitinh  
Hệ số hồi quy  
Hệ số tác động biến  
0,162  
0,036  
(0,215)  
(0,048)  
1.honnhan  
1.nghenghiep  
1.hocvan  
1.thunhap  
1.ktra_cp  
1.ktra_tg  
1.mantinh  
1.tuoi  
0,285  
(0,280)  
0,064  
(0,063)  
-0,569**  
(0,254)  
-0,131**  
(0,058)  
0,620**  
(0,254)  
0,143**  
(0,059)  
0,716***  
(0,272)  
0,160***  
(0,059)  
-0,430*  
(0,237)  
-0,098*  
(0,054)  
-0,163***  
(0,061)  
-0,037***  
(0,014)  
0,335**  
(0,146)  
0,075**  
(0,033)  
0,114***  
(0,025)  
0,092***  
(0,021)  
Hằng số  
-0,020  
(0,420)  
Số quan sát  
LR_Chi2(9)  
Prob > Chi2  
420  
41,80  
0,000  
0,072  
Pseudo R2  
Chú thích: - Sai số chuẩn ở trong ngoặc đơn.  
- (***), (**), (*) lần lượt có ý nghĩa thống kê ở mức 1%; 5%; 10%  
quả này trái ngược với các nghiên trước, rằng khả Hệ số hồi quy của biến nghề nghiệp (nghenghiep)  
năng tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ của nam mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê cao, hàm ý  
thấp hơn so với nữ4,8,11,15. Tương tự, hệ số hồi quy rằng quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ của những  
của biến tình trạng hôn nhân (honnhan) là dương và người là nông dân, ngư dân, học sinh, sinh viên, tự  
cũng không có ý nghĩa thống kê, cho thấy giữa những kinh doanh, buôn bán, khác là thấp hơn những người  
người đã lập gia đình và còn độc thân không có sự đang công tác tại cơ quan nhà nước, doanh nghiệp.  
khác nhau trong việc tham gia kiểm tra sức khỏe định Cụ thể, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, đối  
kỳ. Kết quả này cũng trái ngược với nghiên cứu trước, với những người làm việc trong cơ quan nhà nước,  
cho rằng những người đã lập gia đình thì khả năng doanh nghiệp có xác suất sử dụng dịch vụ kiểm tra  
tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ cao hơn so với sức khỏe định kỳ cao hơn những người nông dân, học  
những người chưa lập gia đình8,15. Kết quả này có sinh, sinh viên là 13,1%. Kết quả này cũng tương tự  
thể được giải thích là hiện nay ở Việt Nam chưa có các nghiên cứu trước4,8. Phát hiện này có thể được  
quy định thực hiện kiểm tra sức khỏe trước hôn nhân. lý giải là do các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp  
Ý thức về việc thực hiện kiểm tra sức khỏe định kỳ thường có các chính sách phúc lợi cho người lao động  
của người dân nói chung và những người đã lập gia tốt hơn. Hàng năm, các doanh nghiệp, các cơ quan  
đình và chưa lập gia đình không cao. Do vậy, những nhà nước thường tổ chức cho cán bộ, công nhân, viên  
người chưa lập gia đình và những người đã lập gia chức và người lao động khám sức khỏe định kỳ. Biến  
đình không có sự khác nhau trong thực hiện kiểm tra trình độ học vấn (hocvan) cũng có ý nghĩa thống kê ở  
sức khỏe định kỳ.  
mức ý nghĩa 5%, hệ số hồi quy mang dấu dương, kết  
1055  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 4(4):1050-1058  
quả này cho thấy những người có trình độ học vấn tại mức ý nghĩa 10% và 1%, ngụ ý rằng những người  
cao thì khả năng thực hiện quyết định kiểm tra sức xem yếu tố thời gian chờ đợi và chi phí có tác động  
khỏe định kỳ cao hơn những người có trình độ học đến việc khám sức khỏe định kỳ thì khả năng sử dụng  
vấn thấp. Hệ số tác động biên của biến học vấn là dịch vụ kiểm tra sức khỏe định kỳ thấp hơn. Cụ thể,  
0,143, có nghĩa là xác suất sử dụng dịch vụ kiểm tra xác suất của nhóm người có quan tâm đến tác động  
sức khỏe định kỳ của những người có trình độ học của chi phí thấp hơn nhóm người không quan tâm tới  
vấn từ trung học phổ thông trở lên cao hơn những có tác động của chi phí là 9,8% và nhóm người có quan  
trình độ học vấn dưới trung học phổ thông là 14,3%, tâm tới tác động của thời gian thấp hơn nhóm người  
với điều kiện các yếu tố khác không đổi. Kết quả này là không quan tâm tới tác động của thời gian là 3,7%, với  
phù hợp với kết quả của các nghiên cứu trước đó4,13  
,
điều kiện các yếu tố khác không đổi. Kết quả này cho  
cũng như phù hợp với lý thuyết về hành vi sử dụng các thấy vấn đề thời gian chờ đợi, cũng như chi phí đối với  
dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Điều này có thể được giải việc sử dụng các dịch vụ khám bệnh hay kiểm tra sức  
thích là do những người có trình độ học vấn cao hơn khỏe định kỳ là những rào cản làm hạn chế sự tham  
thường có hiểu biết, nhận thức, và xu hướng thực hiện gia kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân. Các kết  
kiểm tra sức khỏe định kỳ tốt hơn. Hơn nữa, những quả này cũng tương đồng với các kết quả nghiên cứu  
người có học vấn cao thường có xu hướng tìm kiếm và trước đã chỉ ra8,14. Kết quả hồi quy cũng cho thấy  
khả năng tiếp cận thông tin y tế tốt hơn so với nhóm hệ số hồi quy của biến có bệnh mãn tính hay không  
còn lại.  
(mantinh) mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê  
Kết quả ước lượng mô hình cũng cho thấy hệ số hồi tại mức ý nghĩa 5%, cho thấy rằng trong điều kiện các  
quy của biến thu nhập (thunhap) mang dấu dương và yếu tố khác không đổi, khả năng tham gia kiểm tra  
có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%, ngụ ý rằng sức khỏe định kỳ của nhóm người có mắc bệnh mãn  
những người có thu nhập trên 10 triệu đồng/tháng tính sẽ cao hơn nhóm không mắc bệnh mãn tính là  
thì khả năng tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ 7,5%. Điều này được hiểu rằng một khi con người  
cao hơn những người có thu nhập dưới 10 triệu đã có bệnh thì luôn có ý thức tốt và thường xuyên  
đồng/tháng. Với mẫu quan sát, kết quả phân tích tác quan tâm vấn đề chăm sóc sức khỏe hơn những người  
động biên cho thấy nhóm người có thu nhập trên 10 không có bệnh mãn tính. Kết quả nghiên cứu này là  
triệu đồng/tháng có xác suất sử dụng dịch vụ khám phù hợp với các kết quả nghiên cứu trước đó4,8, cũng  
sức khỏe định kỳ cao hơn 16% so với nhóm người có như lý thuyết kinh tế học về hành vi sức khỏe.  
thu nhập dưới 10 triệu đồng/tháng. Kết quả nghiên KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
cứu này là hoàn toàn phù hợp với lý thuyết kinh tế Trong nghiên cứu này, dữ liệu khảo sát người dân tại  
học sức khỏe và kết quả của các nghiên trước đã chỉ tại Khánh Hòa được sử dụng để xác định về mặt thực  
ra4,8,11. Phát hiện này cho thấy thu nhập luôn là một nghiệm các yếu tố quyết định sự tham gia của một cá  
trong các yếu tố quyết định đến chi tiêu của mỗi cá nhân trong việc kiểm tra sức khỏe định kỳ. Phù hợp  
nhân nói chung, trong đó có chi tiêu cho việc chăm với các kết quả được chỉ ra trong các nghiên cứu trước  
sóc sức khỏe của họ. Nó là một yếu tố mang tính rào đây, nghiên cứu này đã phát hiện ra các thuộc tính cá  
cản trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm nhân ảnh hưởng đến hành vì kiểm tra sức khỏe định  
sóc sức khỏe. u nhập cao hơn giúp người dân nâng kỳ. Học vấn, thu nhập cá nhân cao hơn có nhiều khả  
cao khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc y tế bởi năng thực hiện kiểm tra sức khỏe định kỳ hơn. Hơn  
vì họ có thể chi trả được các chi phí y tế. Do vậy, thu nữa, khi tuổi càng cao, nguy cơ mắc bệnh càng cao,  
nhập cao thì người dân sẽ chú trọng hơn đến vấn đề những người lớn tuổi có xác suất kiểm tra sức khỏe  
chăm sóc sức khỏe gia đình và cá nhân. Tương tự, định kỳ càng cao. Những người mắc bệnh mãn tính  
hệ số hồi quy của biến tuổi (tuoi) mang dấu dương và có xác suất kiểm tra sức khỏe định kỳ cao hơn so với  
có ý nghĩa thống kê cao tại mức ý nghĩa 1%, cho thấy những người không mắc bệnh. êm vào đó, những  
những người có tuổi trên 40 thì xác suất tham gia kiểm người làm việc trong các doanh nghiệp, cơ quan nhà  
tra sức khỏe định kỳ cao hơn so với những người dưới nước có xác suất kiểm tra sức khỏe định kỳ cao hơn so  
40 tuổi. Những người trên 40 tuổi có xác suất kiểm tra với những người làm trong các ngành ngề khác. Mặt  
sức khỏe định kỳ cao hơn những người dưới 40 tuổi là khác, trái với kết quả của một số nghiên cứu trước,  
9,2%. Rõ ràng là khi tuổi càng lớn, nguy cơ mắc bệnh nghiên cứu này xác định rằng giới tính và tình trạng  
cao hơn, dẫn đến việc chấp nhận kiểm tra sức khỏe hôn nhân không có ảnh hưởng lên xác suất kiểm tra  
định kỳ cao hơn4.  
sức khỏe định kỳ của cá nhân.  
Hệ số hồi quy của biến tác động của thời gian Một khẳng định quan trọng trong nghiên cứu này là  
(ktra_tg) và chi phí (ktra_cp) đến việc kiểm tra sức nhóm những người có quan tâm đến tác động của chi  
khỏe định kỳ đều mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê phí và thời gian đến hành vi sức khỏe có xác suất tham  
1056  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 4(4):1050-1058  
gia kiểm tra sức khỏe định kỳ thấp hơn so với nhóm  
những người không quan tâm tới tác động của chi phí  
và thời gian. Điều này cho thấy sự cần thiết phải xem  
xét sự ưu tiên về thời gian, cũng như vấn đề chi phí  
khi xây dựng các chính sách khuyến khích kiểm tra  
sức khỏe định kỳ cho người dân.  
Biết được những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc tham  
gia kiểm tra sức khỏe định kỳ là rất quan trọng để  
tạo ra một hệ thống và môi trường làm cho người  
dân nhiều khả năng tham gia kiểm tra sức khỏe định  
kỳ hơn. iết lập một hệ thống hiệu quả giúp mọi  
người nhận thức được tình trạng sức khỏe của chính  
họ thông qua việc kiểm tra sức khỏe thường xuyên có  
khả năng đem lại các biện pháp hiệu quả về mặt chi  
phí như duy trì sức khỏe và ngăn ngừa bệnh tật sẽ giúp  
làm giảm bớt nhiều vấn đề liên quan đến sự phát triển  
kinh tế, xã hội ở Khánh Hòa trong thời gian tới.  
2. Hong Kong Census and Statistics Department. Knowledge,  
Attitude and Practice of Medical Checkup. Thematic House-  
hold Survey Report. 2009;(41).  
3. Cherrington A, Corbie-Smith G, Pathman DE. Do adults who  
believe in periodic health examinations receive more clini-  
cal preventive services? . Preventive Medicine. 2007;45:282–  
289. PMID: 17692368. Available from: https://doi.org/10.1016/  
4. Riko N, Junyi S. Factors affecting participation in health check-  
ups: Evidence from Japanese survey data. Health Policy.  
2009;123(4):360–366. PMID: 30691696. Available from: https:  
5. Bộ Y tế. Báo cáo tổng kết ngành Y tế năm 2019;.  
6. Viện Pasteur Nha Trang. Báo cáo tổng kết ngành Y tế khu vực  
miền Trung năm. 2019;.  
7. Hiếu TC, Anh LHTQ, Tâm NM. Kiến thức, thái độ, thực hành  
về kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân thành phố Huế  
năm 2016. Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế.  
2017;7(3):93–98.  
8. Trí TTM. Phân tích Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kiểm  
tra sức khỏe định kỳ của người dân Tp. Hồ Chí Minh. Kinh tế và  
sức khỏe Một số nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam. 2016;p.  
176–191.  
9. Andersen R. A behavioral model of families’ use of health ser-  
vices. Research Series No. 25. Center for Health Administration  
Studies, University of Chicago Chicago. 1968;.  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
10. Iwasaki M, Otani T, Yamamoto S, Inoue M, Hanaoka T, Sobue T,  
Tsugane S. Background characteristics of basic health exami-  
nation participants: the JPHC Study Baseline Survey. Journal  
of Epidemiology. 2003;13(4):216–225. PMID: 12934965. Avail-  
THPT: Trung học phổ thông  
LR_Chi2: ống kê Chi – bình phương  
Prob: Giá trị xác suất  
11. Funahashi H, Nishida T, Okamura Y, Sakakibara H. Attributes  
of non-participants aged 40-59 years in specific health check-  
ups. Japanese Journal of Public Health. 2013;60(3):119–127.  
12. Mitsuhashi Y, Kishi R, Eguchi T, Miyake H, Maeda N. Factors as-  
sociated with participation in medical checkups of the elderly  
at home comparison of 3 regions with different social back-  
grounds. Japanese Journal of Public Health. 2003;50(1):49–61.  
13. Yoshida Y, Iwasa H, Kwon J, Furuna T, Kim H, Yoshida H,  
Suzuki T. Characteristics of non-participants in comprehen-  
sive health examinations (”Otasya-kenshin”) among an urban  
community dwelling elderly: Basic research for prevention of  
the geriatric syndrome and a bed-ridden state. Japanese Jour-  
nal of Public Health. 2008;55(4):221–227.  
14. Thompson DA, Yarnold PR. Relating satisfaction to patients’  
waiting time perceptions and expectations: Testing the dis-  
confirmation paradigm. Acad Emerg Med. 1995;2:1057–1062.  
PMID: 8597916. Available from: https://doi.org/10.1111/j.  
15. Evashwick C, Rowe G, Diehr P, Branch L. Factors explaining the  
use of health care services by the elderly. Health services re-  
search. 1984;19(3):357–415.  
TUYÊN BỐ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH  
Nhóm tác giả xin cam đoan rằng không có bất kì xung  
đột lợi ích nào trong công bố bài báo.  
TUYÊN BỐ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC TÁC  
GIẢ  
Phạm ành ái và Võ Chí Nam là đồng tác giả của  
bài báo này. Võ Chí Nam thực hiện khảo sát dữ liệu.  
Phạm ành ái thực hiện xử lý, phân tích dữ liệu.  
Phạm ành ái và Võ Chí Nam cùng đóng góp vào  
việc thảo luận kết quả nghiên cứu. Phạm ành ái  
tiến hành chỉnh sửa, hiệu chỉnh bài báo. Cuối cùng,  
cả hai tác giả cùng tiến hành kiểm tra và chấp thuận  
bài báo.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Ilesanmi OS, Omotoso B, Alele F, Amenkhienan I. Periodic  
Medical Checkup: Knowledge and Practice in a Community  
in South West Nigeria. International Journal of Public Health  
Research. 2015;5(1):576–583.  
16. Hạnh LT, Đức NT. Kiến thức, thái dộ của người bệnh đối  
với sự giáo dục sức khỏe của điều dưỡng tại khoa Y học cổ  
truyền Bệnh viện Thống Nhất. Tạp chí Y học TpHồ Chí Minh.  
2015;5:383–387.  
17. Cục thống kê tỉnh Khánh Hòa năm 2019;.  
1057  
                                 
Science & Technology Development Journal – Economics - Law and Management, 4(4):1050-1058  
Research Article  
Open Access Full Text Article  
Factors affecting the decision for routine health checkup:  
evidence from survey data in Khanh Hoa province  
Pham Thanh Thai1,*, Vo Chi Nam2  
ABSTRACT  
Routine health checkup is the simplest and most scientific method for early detection, minimizing  
harm, and preventing complications of diseases. However, until now, only a fraction of the pop-  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
ulation is aware of its importance. Studies in the world and in Vietnam show that the proportion  
of the population having routine health checkups remains modest. Understanding which factors  
affect the decision to have routine health checkups is important in creating a system and environ-  
ment that encourage people to have regular health checkups. The study is based on the survey  
data of 420 people in Khanh Hoa province to identify the main factors affecting their decision of  
routine health checkups, using the Logit regression model. The results shows that factors affecting  
decisions on routine health checkups include: education level, occupation, income, age, chronic  
illness, waiting time, and the impact of cost. The study also determines that gender and marital  
status have no effect on regular health checkups. The results highlight the importance of taking  
into consideration the priorities of time and cost when developing policies to encourage regular  
health checkups in the population.  
Key words: associated factors, routine health checkup, health behavior, Khanh Hoa  
1Economic Faculty, Nha Trang  
University  
2Pasteur Institute of Nha Trang  
Correspondence  
Pham Thanh Thai, Economic Faculty,  
Nha Trang University  
Email: [email protected]u.vn  
History  
• Received: 29/07/2020  
• Accepted: 22/10/2020  
• Published: 08/11/2020  
DOI :10.32508/stdjelm.v4i4.676  
Copyright  
© VNU-HCM Press. This is an open-  
access article distributed under the  
terms of the Creative Commons  
Attribution 4.0 International license.  
Cite this article : Thai P T, Nam V C. Factors affecting the decision for routine health checkup: evi-  
dence from survey data in Khanh Hoa province. Sci. Tech. Dev. J. - Eco. Law Manag.; 4(4):1050-1058.  
1058  
pdf 9 trang yennguyen 17680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ: Bằng chứng từ dữ liệu khảo sát người dân tại tỉnh Khánh Hòa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_anh_huong_den_quyet_dinh_kiem_tra_suc_khoe_dinh_k.pdf