Nghiên cứu kiến thức, thái độ và hành vi phòng, chống tác hại của thuốc lá trong học sinh, sinh viên các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp tại thành phố Tuy Hòa năm 2011

NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI PHÒNG, CHỐNG  
TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ TRONG HỌC SINH, SINH VIÊN  
CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG VÀ TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP  
TẠI THÀNH PHỐ TUY HÒA NĂM 2011  
Bs. Nguyễn Vinh Quang, Bs. Châu Trọng Phát và cộng sự  
Trung tâm Truyền thông GDSK tỉnh Phú Yên.  
Tóm tắt nghiên cứu  
Hiện nay thuốc lá đã trở thành vấn đề toàn cầu, thu hút sự quan tâm của mọi  
người và mọi ngành trong xã hội. Mặc dù lời cảnh báo “Hút thuốc là có hại cho sức  
khỏe” đuợc in trên tất cả các bao thuốc lá; cấm quảng cáo thuốc lá, cấm hút thuốc lá nơi  
công cộng nhằm giảm nhẹ tác hại của thuốc lá đã được triển khai mạnh mẽ. Tuy nhiên  
trong thực tế các động thái trên chưa đủ giúp giải quyết tình hình, số người hút thuốc lá  
cũng như tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết do các bệnh mà thuốc lá gây nên vẫn không giảm. Nghiên  
cứu mô tả cắt ngang trên 406 học sinh, sinh viên các trường Cao đẳng và Trung học  
chuyên nghiệp tại Thành phố Tuy Hòa trong năm 2011 đánh giá kiến thức, thái độ, hành  
vi phòng chống tác hại thuốc lá. Kết quả: Tỷ lệ đã từng hút thuốc lá trong nhóm nghiên  
cứu là 33,7%, trong đó ở nam giới đã từng hút thuốc lá khá cao với 46,1%, nữ giới  
1,8%. Tỷ lệ hiện hút ở nhóm nghiên cứu là 20%, trong đó tỷ lệ hiện đang hút thuốc ở  
nam giới là (27,3%) nữ giới (0,9%). Tỷ lệ bỏ thuốc lá ở những người hút thuốc lá là  
40,9% (trong đó nam giới là 40,7%, nữ 50%). Các kênh nhóm nghiên cứu tiếp nhận  
thông tin về tác hại thuốc lá cao nhất là truyền hình 72,9%; tiếp đến là sách báo, tạp  
chí 39,7%; kênh phát thanh 36,9%; người thân trong gia đình 26,1%.  
1. Đặt vấn đề  
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ hút thuốc lá toàn thế giới khoảng 47% ở  
nam giới và 12% nữ giới. Theo dự đoán của WHO nếu chiều hướng hút thuốc lá vẫn  
diễn ra như hiện nay thì việc hút thuốc lá sẻ trở thành đại dịch đe dọa sức khỏe con  
người trong thế kỷ XXI.  
Theo kết quả của cuộc Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt  
Nam (SAVY) năm 2003, tỷ lệ nam thanh niên Việt Nam đã từng hút thuốc lá là 43,6%,  
ở nữ giới là 1,2% và trong số nam thanh niên đã từng hút thì 71,7% vẫn còn hút. Mới  
đây tại hội thảo công bố kết quả điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở người trưởng  
thành (GATS) tại Việt Nam, do Bộ Y tế tổ chức ngày 27/10/2010, với 47,4% nam giới  
trưởng thành hút thuốc. Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nam giới hút thuốc  
lá cao trên Thế giới.  
Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của tỉnh  
Phú Yên. Hiện tại trên địa bàn thành phố có 4 trường Cao đẳng và Trung học chuyên  
nghiệp, với số lượng sinh viên, học sinh (HSSV) chuyên nghiệp hằng năm dao động từ  
10.000 đến 12.000 người. Mỗi năm tuyển sinh vào khoảng 4.000 - 5.000 HSSV mới.  
87  
Mặt dù trên Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có nhiều nghiên cứu về tác hại  
thuốc lá đối với sức khỏe. Tuy nhiên vẫn còn ít nghiên cứu để tìm hiểu về kiến thức,  
thái độ, hành vi trong HSSV về tác hại thuốc lá.  
Xuất phát từ vấn đề nêu trên, chúng tôi thực hiện “Nghiên cứu kiến thức, thái độ  
và hành vi phòng, chống tác hại thuốc lá trong học sinh, sinh viên các trường Cao  
đẳng và Trung học chuyên nghiệp tại thành phố Tuy Hòa năm 2011”.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
1.  
2.  
Xác định tỷ lệ hút thuốc lá trong nhóm đối tượng nghiên cứu.  
Khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi của học sinh, sinh viên tại các trường  
Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp tại thành phố Tuy Hòa về phòng,  
chống tác hại thuốc lá.  
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
1. Đối tượng nghiên cứu  
Là học sinh, sinh viên các trường Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp tại thành phố  
Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Gồm 4 trường: Trung cấp Y tế, Trường Cao đẳng Xây dựng số  
3, Trường Cao đẳng Nghề, Trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
3.2.1. Thiết kế nghiên cứu  
-
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang kết hợp định tính và  
định lượng.  
-
Cỡ mẫu phỏng vấn: tính theo công thức  
p ( 1 – p)  
n = 2  
C2  
n: cỡ mẫu nhỏ nhất hợp lý  
Ước đoán P = 0,5 (p: tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có hút thuốc lá, chọn p = 50%)  
Ứng với độ tin cậy 95% có = 1,96  
Chấp nhận C = 0,05 (sai số mong muốn 5%).  
Tính được cỡ mẫu: n = 384.  
3.2.2. Chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên: vào một lớp bất kỳ đang học, điều tra viên  
dùng phiếu phỏng vấn để thu thập số liệu đến khi đủ số lượng mẫu đã định  
trước. Thực tế đã phỏng vấn 406 HSSV.  
3.3. Xử lý và phân tích số liệu  
Xử lý số liệu trên phần mềm tin học ứng dụng SPSS 11.5.  
88  
4. Kết quả nghiên cứu và bàn luận  
1. Tình hình sử dụng thuốc lá ở nhóm nghiên cứu  
4.1.1. Tỷ lệ hút thuốc lá trong nhóm nghiên cứu theo giới  
Bảng 1: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu hꢀt thuốc lá theo giới  
Đã tꢁng hꢀt thuốc lá Chưa tꢁng hút  
Giới  
Tần số  
135  
2
Tỷ lệ (%)  
46,1  
Tần số  
Tỷ lệ (%)  
53,9  
Nam (N=293)  
Nữ (N=113)  
158  
111  
269  
1,8  
98,2  
Chung (N=406)  
137  
33,7  
66,3  
Tỷ lệ chung cả hai giới từng hút thuốc lá trong nhóm nghiên cứu là 33,7%, tỷ lệ  
riêng ở nam giới là 46,1%, nữ giới là 1,8%. Theo kết quả điều tra SAVY năm 2003 thỉ tỷ  
lệ đã từng hút thuốc là 22% (trong đó Nam 43,6%, nữ 1,2%).  
Bảng 2: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu hiện đang hꢀt thuốc lá theo giới  
Đang hꢀt thuốc lá  
Tần số Tỷ lệ (%)  
Hút rồi bỏ  
Giới  
Tần số  
Tỷ lệ (%)  
18,8  
Nam (N= 293)  
Nữ (N=113)  
80  
1
27,3  
0.9  
20  
55  
1
0,9  
Chung (N=406)  
81  
56  
13,7  
Qua kết quả bảng 2 tỷ lệ hiện hút ở nhóm nghiên cứu là 20%, trong đó tỷ lệ hiện  
đang hút thuốc ở nam giới là (27,3%) cao hơn nữ giới (0,9%) có ý nghĩa thống kê p < 0,01.  
Có sự khác biệt tỷ lệ đang hút thuốc chung trong nghiên cứu của chúng tôi (20%) với  
nghiên cứu của Nguyễn Minh Dũng - Trung tâm Truyền thông GDSK Thừa Thiên Huế  
trong sinh viên Đại học Huế năm 2008 (21,8%) có ý nghĩa thống kê p<0,01.  
Tỷ lệ bỏ thuốc lá ở những người hút thuốc lá là 40,9%, trong đó nam giới là 40,7%,  
nữ 50%. Theo kết quả điều tra SAVY năm 2003 tỷ lệ bỏ hút thuốc lá ở nam giới từng hút  
thuốc là 28,3%. Do tỷ lệ nữ hút thuốc lá rất thấp 2/113 đối tượng nghiên cứu nên trong  
nghiên cứu này không tìm hiểu mối liên quan giữa hút thuốc lá ở nữ giới và các yếu tố liên  
quan.  
20,0%  
Đang hút  
Hút rồi bỏ  
13,7%  
Chưa bao  
66,3%  
Biểu đồ 1. Tỷ lệ hút thuốc lá trong nhóm nghiên cứu  
89  
4.1.2. Tỷ lệ hút thuốc lá theo trường và giới  
Bảng 3: Tỷ lệ hꢀt thuốc lá theo trường và giới  
Trường  
Hiện đang hꢀt thuốc  
Nam  
Tần  
số  
Nữ  
Chung  
Tần  
số  
N
Tỷ lệ  
%
N
Tần  
số  
1
Tỷ lệ  
%
1,9  
0
N
Tỷ lệ  
%
TCYT  
CĐXD  
CĐN  
23  
86  
10  
43,5  
15,1  
37,2  
25,5  
53  
17  
15  
28  
76  
11  
14,5  
12,6  
31,7  
19,8  
13  
0
103  
101  
126  
13  
86  
32  
0
0
32  
CĐCN  
198  
25  
0
0
25  
Tỷ lệ hút thuốc lá ỏ nam giới cao nhất ở trường TCYT (43,5%) và thấp nhất ở  
trường CĐCN (25,5); ở nữ giới chỉ có 1 trường hợp đang hút thuốc ở trường TCYT.  
Kiểm định sự khác biệt tỷ lệ hút thuốc chung giữa các trường, ta thấy giá trị Chi bình  
phương bằng 13,598 và p < 0,05 nên ta kết luận có sự khác biệt về tỷ lệ hút thuốc lá  
chung giữa các trường nghiên cứu.  
4.1.3 Số lượng thuốc hút mỗi ngày và loại thuốc thường hút  
Bảng 4: Số điếu thuốc hút mỗi ngày ở nam giới  
Số điếu thuốc hꢀt/ngày  
Tần số  
Tỷ lệ %  
32,5  
36,3  
16,3  
11,3  
3,8  
<5  
26  
29  
13  
9
6-10  
11-15  
16-20  
>20  
3
Tổng  
80  
100  
Số lượng thuốc hút/ngày từ 6-10 điếu chiếm tỷ lệ cao nhất (36,3%), từ 1-5 điếu  
(32,5%), từ 11-15 điếu (16,3%), từ 16-20 điếu (11,3%), trên 20 điếu (3,8%).  
Tất cả người hút đều sử dụng thuốc lá điếu, một số ít sử dụng tẩu hút, thuốc lào,  
thuốc rơ.  
4.1.4 Lý do chính hút thuốc lá  
90  
55.56  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
39.51  
3.7  
1.23  
Bạn bè Giảm căng Mạnh mẽ,  
mời thẳng sành điệu  
Lý do  
khác  
Biều đồ 2. Lý do chính hút thuốc lá  
Lý do chính hút thuốc lá ở những người hiện đang hút thuốc lá do bạn bè mời là  
cao nhất (55,5%), hút để giảm căng thẳng (39,5), lý do thấy mạnh mẽ, sành điệu chiếm  
tỷ lệ thấp (1,2%), lý do khác (3,7%) như: thấy thích thích thì hút, sau khi ăn hoặc khi  
uống coffee hút thấy hay hay. Qua kết quả có thể thấy thói quen trong giao tiếp mời  
thuốc lá, hoặc người đang hút rồi mời bạn hút làm gia tăng tỷ lệ hút thuốc lá HSSV học  
tập trung, thường xuyên tiếp xúc với bạn bè cùng học hàng ngày, nếu trong nhóm bạn  
có người hút thuốc rất dễ mời mọi người hút theo. Do tác dụng kích thích các nơ ron  
thần kinh của Nicotin làm cho người hút có cảm giác hưng phấn, giảm căng thẳng nên  
thường hút khi có vấn đề trong sinh hoạt và học tập như: áp lực thi cử, áp lực trong cuộc  
sống hàng ngày.  
4.1.5. Nơi hút thuốc lá  
Trong số những người đang hút thuốc lá tại nhà thì mức độ thỉnh thoảng hút chiếm  
tỷ lệ cao nhất (72,8%). Tại trường học tỷ lệ không hút tại trường là (55,6%). Ở nơi khác  
thì mức độ thỉnh thoảng chiếm tỷ lệ cao nhất (69,1%).  
4.2 Mức độ hiểu biết về tác hại của thuốc lá  
4.2.1. Kiến thức về tác hại của thuốc lá  
68.5  
80  
29.6  
60  
40  
20  
0
1.5  
0.2  
0.2  
Rất có  
hại  
Có hại Ít có hại Không  
Không  
biết  
có hại  
Biểu đồ 3. Hiểu biết về tác hại thuốc lá  
91  
Kiến thức hiểu biết về tác hại của việc hút thuốc lá, có 68,5% cho rằng hút  
thuốc lá rất có hại, có hại (29,6%), ít có hại (1,5%), không có hại (0,2%), không biết  
(0,2%). Nam giới cho rằng hút thuốc lá rất có hại 63,8%, có hại 33,8%, ít có hại 1,7%,  
không có hại 0,3%; trong khi đó tỷ lệ này ở nữ giới: hút thuốc lá rất có hại 80,5%, có  
hại 18,6%, ít có hại 0,9%. Có sự khác biệt về hiểu biết về tác hại của việc hút thuốc lá  
giữa nam và nữ trong nhóm nghiên cứu với p<0,01. Tỷ lệ cho rằng hút thuốc lá rất có  
hại cao nhưng có sự khác biệt giữa hai giới. Sự khác biệt này có thể do tỷ lệ nam giới  
hút thuốc lá nhiều hơn nên khi nói đến tác hại có thể những người nam hút thuốc sẽ cho  
rằng mức độ nguy hại của thuốc lá thấp hơn.  
4.2.2. Hiểu biết về tác hại hút thuốc lá thụ động  
Tỷ lệ chung của hai giới về mức độ nguy hại do hút thuốc lá thụ động: rất có hại  
63,1% (trong đó, nam 64,2%, nữ 60,2%), có hại 32,5% (nam 32,8%, nữ 31,9%), ít có  
hại 2,7% (trong đó nam 2%, nữ 4,4%), không có hại 0,2% (trong đó nam 0,3%, nữ 0%),  
không biết 1,5% (trong đó nam 0,7, nữ 3,5%). Vẫn có số ít đối tượng nghiên cứu không  
biết tác hại hút thuốc lá thụ động.  
4.2.3. Hiểu biết về các bệnh do thuốc lá gây ra  
Bảng 5: Hiểu biết các bệnh do thuốc lá gây ra (N=406)  
Hút thuốc lá  
Hút thuốc lá thụ động  
Các bệnh do thuốc lá gây ra  
Tần  
Tỷ lệ (%)  
Tần số  
Tỷ lệ (%)  
số  
Viên phế quản/phổi  
Ung thư phổi  
305  
372  
155  
207  
269  
261  
6
75,1  
91,6  
38,2  
51,0  
66,3  
64,3  
1,5  
291  
322  
149  
197  
285  
227  
5
71,7  
79,3  
36,7  
48,5  
70,2  
55,9  
1,2  
Ung thư bộ phận khác  
Bệnh tim mạch  
ảnh hưởng thai nhi/trẻ em  
Giảm tuổi thọ  
Khác  
Trong số 406 đối tượng được phỏng vấn thì bệnh gây ra do hút thuốc lá và hút  
thuốc lá thụ động: ung thư phổi chiếm tỷ lệ cao nhất (người hút thuốc 91,6%, hút thuốc  
thụ động 79,3%), viêm phế quản/ phổi (người hút thuốc 75,1%, hút thuốc thụ động  
77,7%), ảnh hưởng thai nhi/trẻ em (người hút thuốc 66,3%, hút thuốc thụ động 70,2%),  
hút thuốc lá ung thư các bộ phận khác chiếm tỷ lệ thấp (người hút thuốc 38,2%, hút thuốc  
thụ động 36,7%).  
4.3.Thái độ đối với người hút thuốc  
4.3.1. Thái độ đối với người hút thuốc  
Trong số đối tượng được hỏi đã trả lời nếu có người hút thuốc thì sẽ yêu cầu đi  
nơi khác hút chiếm 50,5% (trong đó nam 46,4%, nữ 50,5%), yêu cầu tắt thuốc 27,1%  
(trong đó nam 24,2%, nữ 34,5%), bỏ đi nơi khác 30% (trong đó nam 33,4%, nữ  
92  
21,25%), không có ý kiến gì 5,9% (trong đó nam 8,2%, nữ 0%). Qua kết quả có thể thấy  
rằng mọi người thái độ tích cực hơn trong việc phòng, chống tác hại thuốc lá, trong đó  
thái độ của nữ giới tỏ vẻ kiên quyết hơn.  
4.3.2. Thái độ đối với học sinh vi phạm quy định cấm hút thuốc  
Thái độ của đối tượng được phỏng vấn về việc học sinh quy phạm quy định cấm  
hút thuốc: nhắc nhở không hút thuốc chiếm 54,4%, xét hạnh kiểm 39,9%, trừ thi đua lớp  
5,2% và khác 0,7%.  
4.3.3. Đối với những người vi phạm lệnh cấm hút thuốc  
Phạt tiền  
Nhắc nhở  
1,2%  
4,2%  
Không có ý kiến gì  
27,1%  
Khác  
67,5%  
Biểu đồ 4. Hình thức xử phạt đối với người vi phạm cấm hút thuốc lá  
Đối với hình thức xử phạt người vi phạm lệnh cấm hút thuốc có 67,5% đối tượng  
nghiên cứu cho rằng cần phạt tiền, 27,1% nhắc nhở, 4,2% không có ý kiến gì, 1,2%  
khác (cần có hình thức xử phạt nặng hơn).  
4.3.4. Mức xử phạt đối với người vi phạm  
Mức phạt tiền đối với người vi phạm quy định cấm hút thuốc có 41,4 % cho rằng  
phạt từ 50.000 đến dưới 100.000đ, 33,5% phạt trên 100.000, và 25,1% dưới 50.000đ.  
4.4. Kiến thức về tác hại thuốc lá qua các nguồn thông tin  
Có 72,9% trả lời nhận thông tin về tác hại của thuốc lá qua Tivi, Đài phát thanh  
36,9%, Sách báo tạp chí (39,7%); tranh ảnh, áp phích (21,7%)..  
Điều này cũng phù hợp với nhận xét trong nghiên cứu của Nguyễn Minh Dũng ở  
Trung tâm Truyền thông GDSK Thừa Thiên Huế, Tivi là kênh truyền thông hấp dẫn nên  
thu hút nhiều người xem.  
5. Kết luận  
Qua nghiên cứu 406 học sinh, sinh viên tại 4 trường Cao đẳng và Trung học  
chuyên nghiệp tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, chúng tôi kết luận:  
5.1. Tỷ lệ hút thuốc lá trong nhóm nghiên cứu  
Tỷ lệ đã từng hút thuốc lá trong nhóm nghiên cứu là 33,7%, trong đó ở nam giới  
đã từng hút thuốc lá khá cao với 46,1%, nữ giới 1,8%.  
Tỷ lệ hiện hút ở nhóm nghiên cứu là 20%, trong đó tỷ lệ hiện đang hút thuốc ở  
93  
nam giới là (27,3%) cao hơn nữ giới (0,9%). Tỷ lệ bỏ thuốc lá ở những người hút thuốc  
lá là 40,9% (trong đó nam giới là 40,7%, nữ 50%).  
5.2. Kiến thức, thái độ về phòng chống tác hại thuốc lá  
Kiến thức tác hại hút thuốc lá: 63,8% nam giới cho rằng hút thuốc lá rất có hại, nữ  
giới là 80,5%.  
Kiến thức tác hại hút thuốc lá thụ động: 64,2% nam giới cho rằng hút thuốc lá rất  
có hại, nữ giới là 60,2%.  
Thái độ đối với người hút thuốc: 46,4% nam giới yêu cầu người hút đi nơi khác  
hút, nữ giới là 50,5%; Yêu cầu tắt thuốc (nam 24,2%, nữ 34,5%); không ý kiến gì (nam  
8,2%, nữ 0%). Hình thức phạt người vi phạm quy định cấm hút thuốc: phạt tiền người  
vi phạm (nam 63,5%, nữ 77,9%). Mức phạt tiền từ 50.000 - dưới 100.000đ (41,4%),  
mức trên 100.000đ (33,5%), mức dưới 50.000đ (25,1%).  
6. Kiến nghị  
Để nâng cao kiến thức, thay đổi thái độ và hành vi theo chiều hướng tích cực để  
phòng chống tác hại thuốc lá trong học sinh, sinh viên tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú  
Yên nói riêng. Trong thời gian tới chúng tôi đề nghị các cơ quan có thẩm quyền tập  
trung vào một số vấn đề cụ thể sau đây:  
1. Đẩy mạnh các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông trên các phương tiên  
truyền thông đại chúng với sự đa dạng về hình thức.  
2. Trong các trường học cần thường xuyên tổ chức các buổi học ngoại khóa, sinh hoạt  
chuyên đề về phòng chống tác hại thuốc lá, phát động các phong trào “trường học  
không khói thuốc”, “giảng đường không khói thuốc”... Phòng y tế trường học cần  
có nơi tư vấn sức khỏe, góc tuyên truyền sức khỏe...Xây dựng các câu lạc bộ không  
khói thuốc lá để tạo sân chơi bổ ích và lành mạnh cho học sinh, sinh viên.  
3. Thực hiện Quyết định 1315/QĐ-TTg ngày 21-8-2009 của Thủ tướng chính phủ “về  
việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước khung về kiểm soát thuốc lá”, trong đó  
có các quy định cấm hút thuốc lá  
4. Các cơ quan, ban ngành đoàn thể, Ban giám hiệu các trường cần quan tâm nhiều hơn  
nữa để tạo môi trường sống khỏe mạnh cho các em. Xây dựng môi trường không  
thuốc lá trong trường học và tại cộng đồng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Y tế - Tổng cục Thống kê (2003) Điều tra Quốc gia về Thanh niên, Vị Thành  
niên Việt Nam.  
2. Cục thống kê Phú Yên (2010), Niên giám thống kê 2010.  
94  
3. Quyết định số 1315/QĐ-TTg ngày 21 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính  
phủ Về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước khung về kiểm soát thuốc  
lá.  
4. Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Yên, Báo cáo số lượng sinh viên, học sinh chuyên  
nghiệp năm học 2009 -2010, trang phụ lục 1 - 2.  
5. Lê Khắc Bảo, Nguyễn Trung Thành, Khảo sát thực trạng hút thuốc lá của nhân  
viên y tế tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Thành phố Hồ Chí Minh. Tập chí Y học  
- Thành phố Hồ Chí Minh, tập 13, 2009.  
6. Nguyễn Minh Dũng, Hầu Văn Nam, Nghiên cứu tình hinh hút thuốc lá của sinh  
viên đại học Huế năm 2008. Bộ Y tế, Trung tâm Truyền thông GDSK TW, Nhà  
xuất bản khoa học và kỹ thuật năm 2010, Trang 136, 142, 143.  
7. Lương Ngọc Khuê, Phan Thị Hải, Điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở người  
trưởng thành (GATS) tại Việt Nam, Vinachssh 2011.  
8. Nguyễn Thị Nguyên Hoa, Nghiên cứu lượng giá chương trình vận động khu vực  
dịch vụ công cộng không khói thuốc lá tại thành phố Hồ Chí Minh sau 2 năm thực  
hiện, Bộ Y tế, Trung tâm Truyền thông GDSK trung ương, Nhà xuất bản khoa học  
và kỹ thuật năm 2010, trang 231 - 234.  
9. Trịnh Văn Hiệp, Trương Trọng Hoàng, Khảo sát đánh giá hoạt động xây dựng mô  
hình cộng đồng không thuốc lá tại phường 28, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí  
Minh, Bộ Y tế, Trung tâm Truyền thông GDSK TW, Nhà xuất bản khoa học và kỹ  
thuật năm 2010, trang 220 - 223.  
10. Châu Liễu Trinh, Các yếu tố liên quan đến hành vi hút thuốc lá ở học sinh trung  
học phổ thông thành phố Cần Thơ, Bộ Y tế, Trung tâm Truyền thông GDSK TW,  
NXB khoa học và kỹ thuật năm 2010.  
95  
pdf 9 trang yennguyen 21920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu kiến thức, thái độ và hành vi phòng, chống tác hại của thuốc lá trong học sinh, sinh viên các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp tại thành phố Tuy Hòa năm 2011", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_kien_thuc_thai_do_va_hanh_vi_phong_chong_tac_hai.pdf