Sự thay đổi hình thái tuổi dậy thì - Cơ sở đề xuất một số hình thức giáo dục giới tính phù hợp cho học sinh Trung học Cơ sở ở Hà Nội

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE  
DOI: 10.18173/2354-1059.2015-00020  
Natural Sci. 2015, Vol. 60, No. 4, pp. 138-143  
SỰ THAY ĐỔI HÌNH THÁI TUỔI DẬY THÌ  
- CƠ SỞ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ HÌNH THỨC GIÁO DỤC GIỚI TÍNH  
PHÙ HỢP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HÀ NỘI  
Mai Văn Hưng1 và Hà Thị Hương2  
1Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội  
2Khoa Sinh học, Trường Đại học Hồng Đức, Thanh Hóa  
Tóm tắt. Nghiên cứu được thực hiện trên nhóm đối tượng gồm 1926 học sinh (942 nam và 984 nữ)  
có độ tuổi từ 12 đến 15 thuộc 3 trường trung học cơ sở (THCS) tại Hà Nội. Kết quả nghiên cứu  
cho thấy, trình tự xuất hiện các đặc điểm sinh dục phụ của học sinh THCS tuân theo các quy luật  
sinh trưởng và phát triển bình thường của lứa tuổi. Tuy nhiên thời gian xuất hiện các đặc tính này  
của học sinh THCS Hà Nội sớm hơn những người cùng lứa tuổi ở một số địa phương khác. Có sự  
khác biệt về độ tuổi và tỉ lệ phần trăm số học sinh xuất hiện các dấu hiệu sinh dục thứ cấp ở nam  
và nữ, trong đó học sinh nữ xuất hiện các dấu hiệu này sớm hơn so với nam. Từ các kết quả  
nghiên cứu kể trên chính là cơ sở đề xuất một số hình thức giáo dục giới tinh phù hợp với tuổi dậy  
thì cho học sinh THCS tại Hà Nội.  
Từ khóa: Dấu hiệu dậy thì, giáo dục giới tính, học sinh THCS.  
1. Mở đầu  
Lứa tuổi trung học cơ sở được xếp vào lứa tuổi dậy thì, là mốc đánh dấu sự trưởng thành về mặt  
sinh học của cơ thể. Dậy thì là một quá trình thường kéo dài khoảng 3 ÷ 4 năm và được chia làm 2 giai  
đoạn, giai đoạn tiền dậy thì và giai đoạn dậy thì hoàn toàn. Đối với trẻ ở lứa tuổi dậy thì, dưới tác động  
của tuyến yên và tuyến sinh dục, cơ thể trải qua giai đoạn biệt hóa giới tính lớn nhất, thay đổi kích  
thước cơ quan sinh dục, phát triển đặc tính sinh dục phụ, thay đổi kích thước cũng như hình thái cơ thể [1].  
Nghiên cứu tuổi dậy thì của trẻ em trong giai đoạn hiện nay là cơ sở khoa học cho việc chăm sóc  
sức khỏe, giáo dục thể chất và trí tuệ cho trẻ em. Nghiên cứu này được thực hiện trên đối tượng là học  
sinh THCS Hà Nội với mục đích xác định thực trạng sự phát triển các đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp  
của học sinh nhằm góp phần cung cấp cơ sở dữ liệu về sinh học hình thể và dậy thì của học sinh lứa  
tuổi THCS trong giai đoạn hiện nay.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2. 1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu: Bao gồm 1926 học sinh (942 nam và 984 nữ) có độ tuổi từ 12 đến 15  
đang học tại các trường THCS Dịch Vọng (quận Cầu Giấy), THCS Tây Sơn (quận Hai Bà Trưng),  
THCS Vân Hoà (huyện Ba Vì) của thành phố Hà Nội. Đối tượng nghiên cứu không có dị tật hình thể  
Ngày nhận bài: 12/12/2014. Ngày nhận đăng: 11/5/2015.  
Tác giả liên lạc: Mai Văn Hưng, địa chỉ e-mail: [email protected]  
138  
Sự thay đổi hình thái tuổi dậy thì - Cơ sở đề xuất một số hình thức giáo dục giới tính phù hợp…  
ngoài, không có biểu hiện rối loạn về tâm sinh lí và phải có thái độ hợp tác với điều tra viên. Mẫu  
nghiên cứu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên.  
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp điều tra bằng các bảng hỏi về những yếu tố liên quan  
đến các đặc điểm sinh học tuổi dậy thì của học sinh trung học cơ sở. Sử dụng phần mềm SPSS 13.0 để  
xử lí các số liệu thô thu được từ đó bàn luận và phân tích các kết quả.  
2.2. Kết quả và bàn luận  
2.2.1. Thời điểm xuất hiện mụn trứng cá trên mặt của học sinh  
Kết quả nghiên cứu thời điểm xuất hiện trứng cá trên mặt ở học sinh nam và học sinh nữ được  
trình bày trên Bảng 1 và 2.  
Bảng 1. Thời điểm xuất hiện mụn trứng cá trên mặt của học sinh  
Giới  
tính  
Nam  
Nữ  
Số học sinh xuất  
hiện trứng cá  
565  
Tuổi xuất hiện trứng cá trên mặt của  
học sinh đã xuất hiện mụn trứng cá  
13 tuổi 2 tháng ± 1 năm 3 tháng  
n
Tỉ lệ (%)  
942  
984  
54,88  
76,73  
739  
12 tuổi 0 tháng ± 1 năm 1 tháng  
Các số liệu trong Bảng 1 cho thấy, có đến 54,88% số học sinh nam và 76,73% số học sinh nữ đã  
xuất hiện dấu hiệu dậy thì với biểu hiện thường thấy là sự xuất hiện mụn trứng cá trên mặt. Như vậy,  
nếu căn cứ vào dấu hiệu này thì một số lượng lớn học sinh (54,88% ở nam và 76,73% ở nữ) đã dậy thì  
ở thời điểm sớm hơn từ 1 đến 2 năm so với nhiều nghiên cứu trước đây [1-5]. Do trong giai đoạn dậy  
thì có sự tăng lên đột ngột nồng độ các hocmon sinh dục trong máu làm cho sự trao đổi chất tăng lên  
nhanh chóng khi đó các sản phẩm thải cũng tăng lên, nên các cơ quan xử lí chất thải không tăng  
trưởng kịp, vì vậy chất thải đã bài tiết ra ngoài qua da tạo nên những mụn trứng cá (nam: lần xuất tinh  
đầu tiên, nữ: lần có kinh nguyệt đầu tiên). Từ đó, có thể dựa vào dấu hiệu này để dự đoán thời điểm  
dậy thì chính thức của học sinh. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với cha mẹ học sinh và giáo viên  
trong việc tư vấn, giúp đỡ trẻ trước những thay đổi lớn về sinh lí cơ thể sắp xảy ra với các em, giúp  
các em tránh được những lo lắng, bối rối của tuổi dậy thì.  
Bảng 1 cho thấy thời điểm xuất hiện mụn trứng cá trên mặt của học sinh nữ sớm hơn so với ở học  
sinh nam, điều này hoàn toàn phù hợp với tuổi dậythì chính thức của nữ đến sớm hơn so với ở nam.  
Bảng 2. Tỉ lệ (%) học sinh xuất hiện mụn trứng cá trên mặt  
Nam (1)  
nAc  
48  
92  
175  
Nữ (2)  
nAc  
P
Tuổi  
(2 - 1)  
< 0,05  
< 0,05  
< 0,05  
< 0,05  
< 0,05  
n
Tỉ lệ (%)  
20,87  
38,66  
72,92  
86,32  
n
Tỉ lệ (%)  
46,18  
75,83  
88,98  
96,00  
76,73  
12  
13  
14  
15  
Chung  
230  
238  
240  
234  
942  
249  
240  
245  
250  
984  
115  
182  
218  
240  
755  
202  
517  
54,88  
Ac: Acne – mụn trứng cá  
Các số liệu trong Bảng 2 cho thấy, tỉ lệ học sinh xuất hiện mụn trứng cá trên mặt ở nữ luôn lớn  
hơn nam ở cả 4 nhóm tuổi trong nghiên cứu (p < 0,05). Ở nữ, lúc 12 tuổi đã có 46,18% số học sinh  
xuất hiện mụn trứng cá trên mặt, đến 15 tuổi, tỉ lệ này là 96%. Ở nam, lúc 12 tuổi, tỉ lệ xuất hiện mụn  
trứng cá trên mặt là 20,87% tăng lên 86,32% lúc 15 tuổi. Như vậy, tỉ lệ học sinh xuất hiện mụn trứng  
cá tăng theo tuổi, ở nữ có giá trị lớn hơn so với ở nam là hoàn toàn phù hợp với quy luật dậy thì ở trẻ em.  
Hình thức giáo dục giới tính: Trên cơ sở dấu hiệu xuất hiện mụn trứng cá, có thể xây dựng hình  
thức giáo dục giới tính tích hợp vào bài học chính khóa thuộc chương hệ sinh sản với việc nhấn mạnh  
cho học sinh hiểu “da mặt bạn có thể có nhiều mụn trứng cá, nhưng bạn nên nhớ mụn trứng cá sẽ chỉ  
139  
Mai Văn Hưng và Hà Thị Hương  
xuất hiện nhất thời ở giai đoạn dậy thì sau đó sẽ biến mất, vì vậy bạn không nên nặn bỏ dễ gây viêm  
nhiễm da.  
2.2.2. Sự phát triển lông mu của học sinh  
Ở trẻ nam, lông mu bắt đầu xuất hiện sau khi phát triển dương vật và bìu; còn ở nữ lông mu  
thường xuất hiện sau khi phát phiển tuyến vú, thường xuất hiện đồng thời ở mu và các môi lớn. Lông  
mu thường phát triển đầy đủ trong vòng 2 đến 3 năm. Sự xuất hiện lông mu là dấu hiệu quan trọng để  
nhận biết khoảng thời gian dậy thì ở trẻ em [2].  
Kết quả nghiên cứu sự phát triển lông mu của học sinh được trình bày trên Bảng 3 và 4.  
Bảng 3. Thời điểm xuất hiện lông mu ở học sinh  
Giới tính  
n
nP  
Tỉ lệ (%)  
Tuổi trung bình xuất hiện lông mu  
Nam  
942  
984  
14 tuổi 3 tháng ± 1 năm 3 tháng  
13 tuổi 2 tháng ± 1 năm 1 tháng  
P: Pubic hair - lông mu  
457  
635  
48,51  
69,11  
Nữ  
Các số liệu trong Bảng 3 cho thấy, có 48,51% số học sinh nam và 69,11% số học sinh nữ đã có  
dấu hiệu dậy thì với biểu hiện là sự xuất hiện lông mu. Tuổi trung bình xuất hiện lông mu ở nam muộn  
hơn ở nữ khoảng nửa năm (14 tuổi 3 tháng ± 1 năm 3 tháng ở nam so với 13 tuổi 2 tháng ± 1 năm 1  
tháng ở nữ). Như vậy, thời điểm xuất hiện lông mu ở học sinh nam và nữ trùng với thời điểm dậy thì  
chính thức của các em. Đây là dấu hiệu rất quan trọng để xác định tương đối chính xác thời điểm dậy  
thì chính thức của trẻ em.  
Bảng 4. Tỉ lệ (%) học sinh phát triển lông mu theo tuổi  
Nam (1)  
nP  
25  
Nữ (2)  
nP  
56  
163  
214  
247  
680  
P
Tuổi  
n
Tỉ lệ (%)  
10,87  
27,31  
65,83  
89,32  
48,51  
n
Tỉ lệ (%)  
22,49  
67,92  
87,35  
98,80  
69,11  
(2 - 1)  
< 0,05  
< 0,05  
< 0,05  
< 0,05  
< 0,05  
12  
13  
14  
15  
Chung  
230  
238  
240  
234  
942  
249  
240  
245  
250  
984  
65  
158  
209  
457  
P: Pubic hair - lông mu  
Kết quả Bảng 4 cho thấy, tỉ lệ học sinh nam và nữ đã phát triển lông mu tăng dần qua các lớp  
tuổi, trong đó ở học sinh 15 tuổi có tỉ lệ cao nhất, kết quả này hoàn toàn phù hợp với sự phát triển sinh  
lí sinh dục tuổi vị thành niên. Tốc độ xuất hiện lông mu nhanh nhất ở nam sinh là lúc 13 tuổi (35%)  
lên 14 tuổi (64,90%), ở nữ sinh lúc 12 tuổi (18,70%) lên 13 tuổi (55,04%) đồng nghĩa với tuổi dậy thì  
của nam phổ biến trong giai đoạn từ 13 lên 14 tuổi, dậy thì của nữ phổ biến ở giai đoạn 12 lên 13 tuổi.  
Một thực tế nữa cho thấy mặc dù chưa dậy thì hoàn toàn nhưng tỉ lệ trẻ có dấu hiệu mọc lông mu là  
khá sớm, một dấu hiệu cho thấy tuổi dậy thì của học sinh THCS Hà Nội có xu hướng trẻ hóa. Biểu  
hiện dậy thì sớm này có nhiều nguyên nhân như dinh dưỡng ngày nay tốt hơn, thông tin tình dục nhạy  
cảm phổ biến hơn hay sự cởi mở trong các quan niệm sống hiện đại có thể đã làm cho học sinh bị đậy  
thì sớm hơn so với hơn 10 năm trước. Ở cùng một lứa tuổi, tỉ lệ xuất hiện lông mu ở học sinh nữ luôn  
cao hơn so với ở học sinh nam, đặc biệt ở giai đoạn 13 tuổi (27,31% ở nam và 59,58% ở nữ), chứng tỏ  
trong giai đoạn này nhiều học sinh nữ đã dậy thì sớm hơn so với học sinh nam.  
So sánh với nghiên cứu của các tác giả khác [3, 6] cho thấy, tỉ lệ học sinh nam và nữ đã phát triển  
lông mu trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn. Nó cũng chứng tỏ theo thời gian sự phát triển các  
dấu hiệu sinh dục phụ của học sinh cao hơn, phù hợp với dấu hiệu dậy thì chính thức sớm hơn và theo  
140  
Sự thay đổi hình thái tuổi dậy thì - Cơ sở đề xuất một số hình thức giáo dục giới tính phù hợp…  
thời gian sự dậy thì của trẻ cũng sớm hơn. Nguyên nhân của hiện tượng các dấu hiệu sinh dục phụ  
xuất hiện sớm ngoài ảnh hưởng của các yếu tố gen, nội tiết, chủng tộc thì các điều kiện tự nhiên và xã  
hội trong các môi trường sống khác nhau đã có những ảnh hưởng quan trọng đến sự xuất hiện các dấu  
hiệu này.  
Hình thức giáo dục giới tính: Trên cơ sở các dấu hiệu xuất hiện lông mu, có thể xây dựng các  
hình thức giáo dục giới tính như giáo dục đáp ứng như cầu hiểu biết về giới và giới tính của học sinh -  
nhu cầu hiểu biết về chính mình và bạn khác giới lứa tuổi dậy thì là thực sự cần thiết, các em cần được  
biết những biến đổi về mặt hình thái cơ quan sinh dục (tăng kích thước cơ quan sinh dục ngoài, mọc  
lông mu, lông nách,..) ở lứa tuổi này là điều sớm muộn cũng xảy ra để tránh những bối rối, lo lắng khi  
các em không giải thích được; giáo dục theo giới - nam và nữ thường không dậy thì cùng thời điểm do  
đó không nên dạy chung cho 2 giới về các dấu hiệu sinh dục phụ trong cùng một thời điểm; giáo dục  
giới tính tích hợp vào bài học chính khóa - giáo viên có thể khéo léo và tế nhị khi hướng dẫn học sinh  
trong việc vệ sinh vùng kín đúng cách để chống lại một số bệnh truyền nhiễm nhất định; giáo dục giới  
tính tích hợp vào kĩ năng sống - giáo viên có thể tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh  
thông qua tìm hiểu về những biến đổi của hình thái cơ thể và những dấu hiệu đặc trưng của cơ thể tuổi  
dậy thì.  
2.2.3. Sự phát triển lông nách của học sinh  
Sự xuất hiện lông nách cũng là dấu hiệu quan trọng chứng tỏ sự đã dậy thì của trẻ em.  
Kết quả nghiên cứu sự phát triển lông nách của học sinh được trình bày trên Bảng 5.  
Bảng 5. Thời điểm xuất hiện lông nách ở học sinh  
Giới tính  
n
nA  
Tỉ lệ (%)  
Tuổi trung bình xuất hiện lông mu  
Nam  
Nữ  
942  
984  
160  
326  
16,99  
33,13  
15 tuổi 4 tháng ± 1 năm 3 tháng  
14 tuổi 4 tháng ± 1 năm 1 tháng  
A: Armpit hair - lông nách  
Các số liệu trong Bảng 5 cho thấy, thời điểm xuất hiện lông nách ở học sinh nam là 15 tuổi 4  
tháng ± 1 năm 3 tháng, ở nữ là 14 tuổi 4 tháng ± 1 năm 1 tháng. Như vậy, thời điểm xuất hiện lông  
nách ở nữ diễn ra sớm hơn so với ở nam khoảng 1 năm. Nếu so sánh với thời điểm xuất hiện lông mu  
thì thời điểm xuất hiện lông nách diễn ra muộn hơn khoảng 1 năm ở cả nam và nữ. Đây là một kết quả  
có ý nghĩa trong việc đánh giá sự dậy thì của học sinh thông qua việc tìm kiếm tương quan giữa các  
đặc tính sinh dục phụ thứ cấp.  
Kết quả Bảng 6 cho thấy, tỉ lệ học sinh nam và nữ đã phát triển lông nách cũng tăng dần qua các  
lớp tuổi, trong đó ở học sinh tuổi 15 có tỉ lệ cao nhất. Tốc độ xuất hiện lông nách nhanh nhất ở học  
sinh nam và nữ đều diễn ra ở tuổi 14 lên 15. Ở 15 tuổi, chỉ có 43,16% học sinh nam và 71,60% học  
sinh nữ đã xuất hiện lông nách. Như vậy, sẽ có khoảng hơn 50% học sinh nam và gần 30% học sinh  
nữ sẽ mọc lông nách sau 15 tuổi, điều này cũng hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển dậy thì của  
học sinh với một tỉ lệ gần tương đương số học sinh nam và nữ sẽ dậy thì sau 15 tuổi.  
Bảng 6. Tỉ lệ % học sinh phát triển lông nách theo tuổi  
Nam (1)  
nA  
5
19  
35  
Nữ (2)  
nA  
11  
39  
97  
P
Tuổi  
(2 - 1)  
< 0,05  
< 0,05  
< 0,05  
n
Tỉ lệ (%)  
2,17  
7,98  
n
Tỉ lệ (%)  
4,42  
16,25  
39,59  
12  
13  
14  
230  
238  
240  
249  
240  
245  
14,58  
15  
234  
942  
101  
160  
43,16  
16,99  
250  
984  
179  
326  
71,60  
33,13  
< 0,05  
< 0,05  
Chung  
A: Armpit hair - lông nách  
141  
Mai Văn Hưng và Hà Thị Hương  
So sánh với nghiên cứu khác [3, 6] thì kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn. Điều này  
cũng được giải thích tương tự như với dấu hiệu phát triển lông mu.  
Hình thức giáo dục giới tính: Khi cơ thể các em xuất hiện lông nách là lúc các em đã dậy thì hoàn  
toàn, đã xuất hiện đầy đủ các dấu hiệu sinh dục phụ như mọc mụn trứng cá, lông mu, tuyến vú (ở nữ).  
Vì vậy, ngoài các hình thức giáo dục giới tính giáo viên đã sử dụng để trang bị kiến thức cho học sinh  
khi các em bắt đầu xuất hiện dấu hiệu sinh dục phụ (mọc trứng cá, có lông mu), giáo viên nên sử dụng  
thêm hình thức giáo dục ngoài giờ học chính khóa để chia sẻ và định hướng cho các em về tình yêu  
tuổi học trò, về mối quan hệ với những người khác giới, trang bị cho các em kiến thức về các biện  
pháp tránh thai, về quan hệ tình dục an toàn,…  
2.2.4. Sự phát triển tuyến vú của học sinh nữ  
Sự phát triển tuyến vú của nữ giới được coi là dấu hiệu dậy thì quan trọng về hình thái so với các  
giai đoạn trước đó, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ có loài người mới có sự lớn lên về tuyến vú đột  
ngột khi dậy thì [3, 4]. Kết quả nghiên cứu thời điểm phát triển tuyến vú của học sinh nữ được trình  
bày trong Bảng 7.  
Bảng 7. Tỉ lệ phần trăm % học sinh nữ đã phát triển tuyến vú  
Tuổi  
Tỉ lệ (%)  
12  
70,28  
13  
87,92  
14  
95,10  
15  
100  
Chung  
88,31  
Như vậy, đến năm 15 tuổi 100% học sinh nữ THCS Hà Nội đã có sự phát triển tuyến vú. Kết quả  
này chứng tỏ trong số các học sinh tham gia nghiên cứu không có em nào thuộc nhóm dậy thì muộn.  
Kết quả nghiên cứu trong Bảng 7 cho thấy có sự khác biệt về sự phát triển tuyến vú qua các độ tuổi,  
trong đó phát triển nhanh nhất là từ tuổi 12 (70,28%) lên tuổi 13 (87,92%), sau đó chậm dần ở tuổi 13  
lên 14 và đặc biệt chậm ở tuổi 14 lên 15. Kết quả này phù hợp với tuổi dậy thì chính thức, chứng tỏ sự  
phát triển tuyến vú khởi động cho sự phát triển các dấu hiệu khác, hoàn toàn trùng hợp với giai đoạn  
dậy thì chính thức của nữ.  
So sánh với nghiên cứu của Đào Huy Khuê và cộng sự trên học sinh nữ ở Hà Sơn Bình [4] cho  
thấy tỉ lệ nữ sinh đã phát triển tuyến vú trong nghiên cứu của chúng tôi là tương đương, sự khác nhau  
không lớn.  
Hình thức giáo dục giới tính: Khi cơ thể học sinh nữ bắt đầu phát triển tuyến vú là lúc các em dễ  
bị quấy rối hoặc xâm hại tình dục. Vì vậy trong giai đoạn này, giáo viên cần giáo dục trẻ dậy thì tự vệ  
khi bị xâm hại tình dục thông qua hướng dẫn các bé gái nhận diện các hành vi quấy rối tình dục, xâm  
hại tình dục, nhận diện thủ đoạn của những kẻ xâm hại tình dục, giáo dục trẻ đối phó với các nguy cơ  
bị quấy rối và xâm hại tình dục, giáo dục kĩ năng từ chối nói “không” một cách rõ ràng và dứt khoát,  
giáo dục kĩ năng phản ứng trong tình huống nguy hiểm, giáo dục thích ứng tâm lí sau khi bị xâm hại  
tình dục.  
3. Kết luận  
Các dấu hiệu sinh dục phụ xuất hiện ở học sinh theo trình tự tuyến vú (ở nữ), mụn trứng cá, lông  
mu, lông nách. Trong đó, sự phát triển tuyến vú (ở nữ) và sự xuất hiện mụn trứng cá trên mặt diễn ra  
trước thời điểm dậy thì chính thức, sự xuất hiện lông mu diễn ra cùng thời điểm và sự xuất hiện lông  
nách diễn ra sau khi học sinh đã dậy thì chính thức.  
Tỉ lệ phần trăm số học sinh xuất hiện các dấu hiệu sinh dục thứ cấp ở học sinh nữ xuất hiện sớm  
hơn so với nam.  
142  
Sự thay đổi hình thái tuổi dậy thì - Cơ sở đề xuất một số hình thức giáo dục giới tính phù hợp…  
Trình tự xuất hiện các đặc điểm sinh dục phụ của học sinh THCS tuân theo các quy luật sinh  
trưởng và phát triển bình thường của cơ thể, tuy nhiên thời gian xuất hiện các đặc tính này của học  
sinh THCS Hà Nội sớm hơn những người cùng lứa tuổi ở một số địa phương khác.  
Giáo viên nên sử dụng một số hình thức giáo dục giới tính để trang bị kiến thức giới tính cho học  
sinh tuổi dậy thì như: Giáo dục đáp ứng nhu cầu hiểu biết về giới và giới tính của học sinh; Giáo dục  
giới tính độc lập cho mỗi giới; Giáo dục giới tính tích hợp vào bài học chính khóa; Giáo dục giới tính  
ngoài giờ học chính khóa; Giáo dục trẻ dậy thì tự vệ khi bị xâm hại tình dục; Giáo dục giới tính tích  
hợp vào kĩ năng sống.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Đinh Kỷ, Cao Quốc Việt, 1986. Bàn về tuổi dậy thì ở trẻ em nước ta 1978-1980. Kỉ yếu công  
trình nghiên cứu khoa học Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em, tr. 47, Nxb Y học.  
[2] Bộ Y tế, 2003. Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỉ 90 - thế kỉ 20. Nxb  
Y học.  
[3] Trần Long Giang, Mai Văn Hưng, 2012. Đặc điểm các dấu hiệu dậy thì của học sinh theo  
vùng sinh thái. Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, tập 28, số 1S, tr. 71-78.  
[4] Đào Huy Khuê, 1991. Đặc điểm về kích thước hình thái, về sự tăng trưởng và phát triển cơ  
thể của học sinh phổ thông 6 -17 tuổi thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Sơn Bình. Luận án PTS Sinh  
học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.  
[5] Cao Quốc Việt và Cs., 1997. Tuổi dậy thì của trẻ em ở một số vùng sinh thái và một số yếu  
tố ảnh hưởng, Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam. Chương trình khoa học cấp nhà  
nước, Đề tài KX 07-07.  
[6] Mai Văn Hưng, 2012. Nghiên cứu một số chỉ số sinh học tuổi dậy thì của học sinh Trung  
học cơ sở Hà Nội và những định hướng giáo dục giới tính trong nhà trường. Đề tài  
01X-12/03-2012-1.  
ABSTRACT  
Morphological changes at the age of puberty as it relates to sex education  
for secondary school students in Hanoi  
This study looked at 1926 students (942 boys and 984 girls) aged between 12 and 15 in three  
secondary schools of three districs in Hanoi. It was found that the appearance of secondary sexual  
characteristics of the secondary students followed the rules of growth and normal development for that  
age. However, the time at which secondary sexual characteristics of secondary school students in  
Hanoi appeared was earlier in some localities. It was seen that a greater percentage of secondary high  
school girls showed signs of sexual maturity earlier than boys. These results can be used create a  
sexual education program for secondary school students in Hanoi.  
Keywords: Signs of puberty, student, sex education.  
143  
pdf 6 trang yennguyen 12040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự thay đổi hình thái tuổi dậy thì - Cơ sở đề xuất một số hình thức giáo dục giới tính phù hợp cho học sinh Trung học Cơ sở ở Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_thay_doi_hinh_thai_tuoi_day_thi_co_so_de_xuat_mot_so_hinh.pdf