Kỷ yếu Các đề tài nghiên cứu khoa học của hệ truyền thông giáo dục sức khỏe năm 2011

BỘ Y TẾ  
TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE TRUNG ƯƠNG  
KỶ YẾU  
CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
CỦA HỆ TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE  
NĂM 2011  
HÀ NỘI - 2012  
1
BAN BIÊN SOẠN  
CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN  
TTƯT. BSCKI. Đặng Quốc Việt  
Giám đốc Trung tâm Truyền thông GDSK Trung ương  
CHỦ BIÊN  
TS. Nguyễn Thị Kim Liên  
Phó giám đốc Trung tâm Truyền thông GDSK Trung ương  
BIÊN TẬP  
ThS.BS. Trịnh Ngọc Quang – Trưởng phòng Khoa học & Đào tạo  
ThS.BS. Lý Thu Hiền – Phó trưởng phòng Khoa học & Đào tạo  
2
LỜI NÓI ĐẦU  
Sau Hội nghị khoa học lần thứ nhất vào năm 2010 của Hệ Truyền thông GDSK,  
công tác nghiên cứu khoa học đã được xác định là một nhiệm vụ cần được tăng cường tại  
cả cấp Trung ương và địa phương. Trung tâm Truyền thông GDSK Trung ương và các  
Trung tâm tuyến tỉnh đã thực hiện nhiều hơn các đề tài nghiên cứu với các nội dung khá  
đa dạng, phong phú góp phần không nhỏ nâng cao hiệu quả của các hoạt động truyền  
thông GDSK của toàn Hệ. Cuốn kỷ yếu “Các đề tài nghiên cứu khoa học về truyền thông  
giáo dục sức khỏe giai đoạn 2000 – 2010” đã được phát hành lần đầu tiên vào dịp Hội  
nghị đó và đã được cán bộ và các Trung tâm Truyền thông GDSK tỉnh/thành phố trên cả  
nước đánh giá cao.  
Để tăng cường phổ biến các kết quả nghiên cứu, chia sẻ kinh nghiệm và thúc đẩy  
hoạt động nghiên cứu của các cá nhân, đơn vị thuộc hệ Truyền thông GDSK, Trung tâm  
Truyền thông GDSK Trung ương đã thu thập, biên soạn các đề tài nghiên cứu của cán bộ  
và đơn vị thuộc hệ truyền thông thực hiện và hoàn thành năm 2011 để xây dựng cuốn  
“Kỷ yếu các đề tài nghiên cứu khoa học của Hệ truyền thông Giáo dục sức khỏe năm  
2011”. Cuốn kỷ yếu cũng là một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các cá nhân, đơn  
vị khi làm nghiên cứu khoa học.  
Trong quá trình biên soạn cuốn kỷ yếu khó tránh khỏi những sai sót, Trung tâm  
Truyền thông GDSK Trung ương mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của  
bạn đọc để Trung tâm bổ sung, chỉnh lý để có những tài liệu với chất lượng tốt hơn cho  
các năm sau.  
Xin trân trọng cảm ơn!  
T/M BAN BIÊN SOẠN  
Giám đốc, Chủ tịch Hội đồng Khoa học công nghệ  
Trung tâm Truyền thông GDSK Trung ương  
BSCKI. Đặng Quốc Việt  
3
MỤC LỤC  
Lời nói đầu  
1
Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến công tác nghiên cứu khoa học  
của Trung tâm Truyền thông GDSK các tỉnh miền Bắc năm 2011  
2
Đánh giá hiệu quả truyền thông thay đổi hành vi rửa tay bằng xà phòng  
trong phòng chống cúm A tại xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, Ninh Bình,  
năm 2010  
3
Đánh giá hiệu quả hoạt động truyền thông thay đổi hành vi trong phòng  
chống HIV/AIDS tại xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, Ninh Bình, năm  
2009-2010  
4
5
6
7
Sự cần thiết của truyền thông GDSK trong công tác chăm sóc sức khỏe  
nhân dân  
Đánh giá thực trạng nguồn lực truyền thông GDSK tuyến tỉnh, huyện tại  
tỉnh Hà Tĩnh năm 2010  
Kiến thức, thực hành của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi tại thành phố Hồ  
Chí Minh về bệnh tay chân miệng.  
Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp truyền thông cải thiện  
hành vi dự phòng tai biến mạch máu não cho người cao tuổi tại thị xã Bắc  
Kạn, năm 2011  
8
Đánh giá thực trạng và một số yếu tố liên quan đến hoạt động phòng  
truyền thông GDSK các trạm y tế tỉnh Bắc Ninh năm 2011  
9
Nghiên cứu thực trạng hút thuốc lá và thực hiện chính sách phòng chống  
tác hại thuốc lá trên địa bàn thành phố Đà Nẵng  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
Tình hình nhiễm HIV và đặc điểm nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới  
tại tỉnh Khánh Hòa năm 2010  
Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống nhiễm HIV của nhóm nam  
quan hệ tình dục đồng giới tại tỉnh Khánh Hòa năm 2010  
Khảo sát hoạt động từ thiện của các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Cần  
Thơ năm 2011  
Hiện trạng trang thiết bị và phương tiện làm việc của hệ truyền thông  
GDSK thành phố Cần Thơ năm 2010  
Đánh giá tính phù hợp của tài liệu truyền thông chăm sóc mắt tại tỉnh  
Quảng Nam  
Sáng kiến cải tiến kỹ thuật “Xây dựng chuyên mục Thầy thuốc gia đình  
trên truyền hình”  
4
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG GDSK  
CÁC TỈNH MIỀN BẮC NĂM 2011  
TS.Nguyễn Thị Kim Liên, ThS.Lý Thu Hiền, CN.Nguyễn Thị Lý,  
CN.Nguyễn Thanh Hồng, CN.Nguyễn Thị Hồng Lụa,CN.Nguyễn Thị Nhã Đan  
Trung tâm Truyền thông GDSK Trung ương  
Tóm tắt nghiên cứu:  
Nghiên cứu khoa học (NCKH) là một trong các nhiệm vụ của trung tâm TTGDSK.  
Với mục tiêu mô tả thực trạng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến hoạt động NCKH của  
các trung tâm TTGDSK (T4G) miền Bắc, nghiên cứu đã tiến hành từ tháng 6-11/2011, trên  
274 đối tượng là lãnh đạo và cán bộ chuyên môn của T4G 25 tỉnh/thành miền Bắc, đồng thời  
thu thập các đề tài nghiên cứu do các đơn vị này thực hiện trong 3 năm 2008-2010. Kết quả  
nghiên cứu cho thấy trong 3 năm từ 2008 -2010, trung bình mỗi T4G thực hiện 1,44 đề tài.  
Các nghiên cứu tập trung vào đánh giá hoạt động truyền thông của địa phương, nghiên cứu  
KAP về các vấn đề sức khỏe đang được quan tâm. Bên cạnh các nghiên cứu có chất lượng,  
nhiều báo cáo nghiên cứu còn sơ sài; thiếu tóm tắt, tổng quan, bàn luận; trình bày tài liệu  
tham khảo chưa đúng; phương pháp nghiên cứu chưa chặt chẽ. Kết quả nghiên cứu cũng cho  
biết chỉ có 27,4% cán bộ đã từng được tập huấn về NCKH; 95,6% có nhu cầu đào tạo thêm.  
19,3% đã từng đề xuất đề tài nghiên cứu và 31% đã từng tham gia NCKH. 96,4% gặp khó  
khăn khi làm NCKH, với các khó khăn chủ yếu là thiếu kinh phí (81%), năng lực cán bộ yếu  
(67,9%). Việc không được đào tạo và không tham gia NCKH đã khiến cán bộ không đánh  
giá cao khả năng làm NCKH của mình và đơn vị. Nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan có ý  
nghĩa thống kê giữa giới, trình độ học vấn, chuyên ngành đào tạo và việc được tập huấn về  
NCKH với việc tham gia làm NCKH của cán bộ.  
1. Đặt vấn đề  
Nghiên cứu khoa học (NCKH) là một nhiệm vụ quan trọng trong cả lĩnh vực điều  
trị cũng như dự phòng. Trong lĩnh vực TTGDSK, NCKH giúp người làm truyền thông hiểu  
rõ những vấn đề còn tồn tại, nguyên nhân và các phương pháp hiệu quả để giải quyết vấn đề  
đó. Đảng và Chính phủ ta nhận thức rõ vai trò của NCKH đối với sự phát triển của ngành  
Y tế nên trong Nghị quyết 46-NQ/TW của Bộ chính trị về Công tác bảo vệ, chăm sóc và  
nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, một trong những giải pháp được Đảng  
và Chính phủ ta xác định là “đẩy mạnh nghiên cứu khoa học”.  
Theo Quyết định 911/1999/QĐ-BYT ngày 31 tháng 3 năm 1999 của Bộ trưởng  
Bộ Y tế, một trong những nhiệm vụ của các trung tâm TTGDSK tuyến tỉnh là tham gia và  
tổ chức công tác NCKH về TTGDSK trên địa bàn. NCKH là một trong các tiêu chí chấm  
điểm khi kiểm tra chéo công tác TTGDSK hàng năm của các tỉnh. Tuy nhiên hoạt động  
NCKH tại các T4G còn hạn chế. Theo báo cáo tổng kết của các T4G: năm 2009 có 99 đề  
5
tài, năm 2010 có 120 đề tài. Báo cáo đánh giá kết quả chương trình hành động TTGDSK  
đến năm 2010 cũng đã chỉ ra: “Các nghiên cứu về đối tượng được truyền thông còn ít  
được triển khai. Đối với hệ TTGDSK, công tác NCKH vẫn là một lĩnh vực còn nhiều  
hạn chế”.  
Với mong muốn tìm hiểu thực trạng công tác NCKH của các Trung tâm TTGDSK  
các tỉnh miền Bắc từ đó có những khuyến nghị phù hợp nhằm thúc đẩy công tác NCKH,  
chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến công  
tác NCKH của Trung tâm TTGDSK các tỉnh miền Bắc năm 2011”  
2. Mục tiêu nghiên cứu:  
1. Mô tả thực trạng NCKH của T4G các tỉnh miền Bắc năm 2011.  
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến công tác NCKH của T4G các tỉnh miền Bắc.  
3. Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hoạt động NCKH tại T4G các tỉnh miền Bắc.  
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
3.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, kết hợp thu thập thông tin bằng phương pháp  
định lượng và định tính.  
3.2. Đối tượng nghiên cứu:  
- Cán bộ T4G các tỉnh miền Bắc (không bao gồm lái xe, bảo vệ, tạp vụ, văn thư)  
- Báo cáo nghiên cứu do T4G các tỉnh miền Bắc thực hiện từ 2008 đến 2010.  
3.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu:  
- Thời gian: Từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2011  
- Địa điểm: T4G 25 tỉnh/thành miền Bắc (nghiên cứu định lượng). T4G Hà Nội,  
Lạng Sơn, Hưng Yên (nghiên cứu định tính)  
3.4. Phương pháp chọn mẫu:  
- Phương pháp định lượng: Chọn mẫu toàn bộ: Tất cả các cán bộ công tác tại trung  
tâm TTGDSK các tỉnh miền Bắc đủ điều kiện tham gia vào nghiên cứu đều đưa  
vào để nghiên cứu. Lấy danh sách cán bộ của các trung tâm TTGDSK các tỉnh  
miền Bắc, chọn được 277 người tham gia nghiên cứu.  
- Phương pháp định tính: Chọn mẫu có chủ đích. Chọn 3 T4G đại diện cho thành  
phố, đồng bằng, miền núi là: Hà Nội, Hưng Yên, Lạng Sơn. Mỗi tỉnh phỏng vấn  
sâu 01 lãnh đạo đơn vị, 01 lãnh đạo Sở Y tế phụ trách công tác TTGDSK và thảo  
luận nhóm với 05 cán bộ.  
3.5. Phương pháp thu thập số liệu:  
- Số liệu định lượng: Số liệu được thu thập bằng phiếu tự điền gửi đến các đối  
tượng nghiên cứu.  
- Số liệu định tính: Thực hiện thảo luận nhóm với cán bộ và phỏng vấn sâu lãnh đạo  
phụ trách NCKH của 03 T4G đã được chọn  
6
- Thu thập và đánh giá chất lượng các báo cáo nghiên cứu do các T4G miền Bắc  
hoặc cán bộ của đơn vị đó thực hiện trong vòng 3 năm gần đây (2008-2010).  
3.6. Phân tích số liệu  
- Số liệu định lượng: Nhập số liệu bằng phần mềm EpiData. Phân tích số liệu bằng  
phần mềm SPSS.  
- Số liệu định tính: Gỡ băng và tóm tắt lại thông tin theo các mục tiêu của nghiên cứu  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu  
Nghiên cứu tiến hành trên 274 cán bộ T4G 25 tỉnh/thành phố miền Bắc. Độ tuổi  
trung bình là 35,8; Cán bộ nữ chiếm 58,0%. Đa số được đào tạo từ các trường Y/dược  
(37,9%) và báo chí (27,2%). Cán bộ có trình độ đại học và trên đại học chiếm đa số, trong  
đó tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học là 57,3%, chuyên khoa I - 10,2%, thạc sĩ - 2,2%, chuyên  
khoa II - 1,8%. Số cán bộ có trình độ trung cấp, cao đẳng vẫn chiếm gần 1/3.  
Số năm công tác trung bình tại trung tâm Truyền thông là 6,2 năm. Có 66,1% số  
cán bộ được hỏi tham gia lấy tin, viết bài, làm phóng sự; 38,0% tham gia xây dựng kế  
hoạch. Các nhiệm vụ khác như tổ chức hoạt động truyền thông, phát triển tài liệu, đào  
tạo giảng dạy chiếm tỷ lệ khá tương đương nhau (32,8%; 31,8%; 30,7%). Chỉ có 19%  
tham gia làm NCKH.  
4.2. Thực trạng hoạt động NCKH của cán bộ và T4G các tỉnh miền Bắc  
Bảng 1. Hoạt động NCKH của các T4G miền Bắc trong 3 năm 2008-2010  
Thành lập  
HĐKH  
Số đề tài  
thực hiện  
Thành lập  
HĐKH  
Số đề tài  
thực hiện  
Tỉnh  
Tỉnh  
Hải Dương  
Hải Phòng  
Hà Nội  
Có (2003)  
Có (2000)  
Có (2010)  
Có  
1
1
2
1
2
1
2
3
0
2
1
2
2
Cao Bằng  
Hà Giang  
Vĩnh Phúc  
Lai Châu  
Hưng Yên  
Sơn La  
Chưa  
1
1
0
1
1
1
2
0
1
2
4
1
Chưa  
Có (2010)  
Có (2008)  
Có (2006)  
Có (2006)  
Có (2001)  
Chưa  
Bắc Giang  
Nam Định  
Quảng Ninh  
Hòa Bình  
Yên Bái  
Có (2005)  
Chưa  
Có (2007)  
Có (2007)  
Chưa  
Thái Bình  
Phú Thọ  
Lào Cai  
Bắc Ninh  
Hà Nam  
Có (2011)  
Có (2005)  
Có (2008)  
Có (2009)  
Bắc Cạn  
Chưa  
Điện Biên  
Tuyên quang  
Thái Nguyên  
Chưa  
Ninh Bình  
Lạng Sơn  
Có (2007)  
Có  
Giá trị trung bình: 1,44;  
min: 0;  
max: 4  
7
Trung bình trong 3 năm qua mỗi đơn vị thực hiện trung bình 1,44 đề tài, nhiều  
nhất là các tỉnh Ninh bình (4 đề tài/3 năm). Một số tỉnh như Lào Cai, Vĩnh Phúc, Thú  
Thọ không có đề tài nào được thực hiện trong vòng 3 năm qua. Số đề tài được thực hiện  
từ nguồn kinh phí hàng năm của đơn vị chiếm 77,8%.  
19/25 đơn vị đã thành lập Hội đồng khoa học (HĐKH). Thái Bình là tỉnh thành lập  
HĐKH sớm nhất (năm 2001) và gần đây nhất là Bắc Ninh (năm 2011). Có 18/19 HĐKH có  
hoạt động và 16/18 HĐKH được cho rằng hoạt động có hiệu quả. Nhiều tỉnh miền núi phía  
Bắc không có HĐKH (Lào Cai, Bắc Cạn, Điện Biên, Cao Bằng, Hà Giang).  
31%  
69%  
Có  
Không  
Biều đồ 1. Tỷ lệ cán bộ T4G tham gia NCKH  
31% cán bộ các T4G đã từng tham gia làm NCKH. Hầu hết các cán bộ đã từng  
làm NCKH tham gia vào 1-2 đề tài (chiếm 79,8%). Các đề tài mà các đối tượng nghiên  
cứu tham gia là đề tài cấp cơ sở (74,1%); luận án/luận văn (18,8%), đề tài cấp ngành  
(16,5%), đề tài cấp tỉnh (10,6%).  
43,5%  
Viết báo cáo  
44,7%  
Phân tích số liệu  
38,8%  
Nhập liệu  
76,5%  
Thu thập số liệu  
36,5%  
Xây dựng bộ công cụ  
57,6%  
Xây dựng đề cương  
0%  
20%  
40%  
60%  
80%  
100%  
Biều đồ 2. Hoạt động mà cán bộ T4G đã tham gia trong nghiên cứu  
Hoạt động thu thập số liệu cho các nghiên cứu được cán bộ tham gia nhiều nhất  
(76,5%), tiếp đến là việc xây dựng đề cương nghiên cứu (57,6%), phân tích số liệu (44,7%),  
viết báo cáo nghiên cứu (43,5%). Hoạt động viết bài báo khoa học được ít cán bộ tham gia  
nhất, chỉ có 21,2%.  
8
Được chấp nhận  
44,4%  
Có đề xuất  
Không đề xuất  
19,3%  
80,7%  
Bị từ chối  
55,6%  
Biều đồ 3. Thực trạng đề xuất đề tài NCKH của cán bộ T4G  
Chỉ có 19,3% cán bộ đã từng đề xuất đề tài NCKH, trong đó 44,4% các đề xuất  
được lãnh đạo đơn vị chấp nhận. Lý do khiến cán bộ T4G các tỉnh phía Bắc không đề  
xuất đề tài: cán bộ chưa đủ tự tin để thực hiện đề tài (56,2%), kinh phí hạn chế (40,6%),  
không chọn được đề tài phù hợp (23,9%). Chỉ có 4,1% cho rằng việc NCKH là không  
cần thiết.  
Kinh phí hạn chế là một cản trở cán bộ làm NCKH.  
”Phòng GDSK là phòng chuyên môn mà cũng chẳng đề xuất đề tài. Kinh phí sự  
nghiệp hàng năm còn không đủ để chi. Nếu có kinh phí độc lập với kinh phí của cơ quan  
thì được, anh em sẵn sàng làm.” (TLN cán bộ T4G).  
”Lãnh đạo đơn vị cũng ủng hộ lắm nhưng tiền không có, chỉ ủng hộ về mặt tinh thần  
thôi, ví dụ như có đơn vị nào mời làm thì lãnh đạo hoàn toàn ủng hộ” (TLN cán bộ T4G).  
Ngoài ra nguyên nhân về nguồn nhân lực chưa đáp ứng với việc thực hiện đề tài  
cũng được các lãnh đạo T4G đề cập đến. ”Biết là NCKH quan trọng nhưng chúng tôi  
cũng ít làm đề tài vì cán bộ của hệ truyền thông mình còn rất mới, lại hay luân chuyển  
nên việc thực hiện NCKH cũng chưa được bài bản, chất lượng chưa cao”; ... ”Anh em  
cũng đăng ký đề tài hàng năm đấy nhưng do đơn vị mới thành lập, kinh nghiệm làm  
nghiên cứu chưa nhiều nên chúng tôi tập trung và ưu tiên vào 1 đề tài thôi để đảm bảo  
tiến độ, chất lượng và đạt hiệu quả” (PVS lãnh đạo T4G)  
4.3. Nhận xét chất lượng các báo cáo NCKH đã thực hiện  
Hầu hết các nghiên cứu gửi về là đề tài cấp cơ sở, áp dụng phương pháp mô tả cắt  
ngang, thu thập số liệu bằng phương pháp định lượng kết hợp định tính.  
Về nội dung nghiên cứu: Nhiều nghiên cứu tập trung vào đánh giá các hoạt động  
truyền thông trên địa bàn như “Nghiên cứu tổ chức và hoạt động của mạng lưới truyền  
thông GDSK tỉnh Thái Nguyên năm 2009”; “Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới chất  
lượng công tác truyền thông GDSK tại cộng đồng”; “Nghiên cứu thực trạng kỹ năng thực  
9
hành của cộng tác viên truyền thông GDSK cơ sở”; “Đánh giá thực trạng kiến thức, kỹ  
năng của cán bộ kiêm nhiệm truyền thông GDSK tại huyện Tiên lữ”… Nhiều nghiên cứu  
tập trung tìm hiểu kiến thức thức, thái độ, thực hành (KAP) của người dân trên địa bàn về  
những vấn đề sức khỏe đang được cộng đồng quan tâm như cúm A/H5N1, về sức khỏe  
sinh sản hay về an toàn giao thông, thừa cân béo phì…  
Về mục tiêu nghiên cứu: Trong các nghiên cứu KAP, mục tiêu được viết khá rõ  
ràng; có mối liên hệ mật thiết với tên đề tài và phần trình bày vấn đề nghiên cứu. Khi viết  
mục tiêu nghiên cứu các tác giả cũng đã sử dụng các động từ hành động và có thể đo  
lường được, ví dụ “Xác định tỷ lệ thừa cân béo phì ở học sinh tiểu học năm 2009 tại thành  
phố Yên Bái”. Tuy nhiên vẫn có những nghiên cứu mà mục tiêu không rõ ràng; mục tiêu  
được viết như liệt kê các hoạt động của nghiên cứu “Sưu tầm, thống kê, khảo sát, phân tích  
những đặc điểm quan trọng…” hoặc có sự nhầm lẫn giữa mục tiêu nghiên cứu và mục tiêu  
của truyền thông GDSK “Mục tiêu cơ bản của GDSK là giúp cho mọi người xác định  
những vấn đề và nhu cầu sức khỏe của họ…”.  
Về phương pháp nghiên cứu: Phương pháp mô tả cắt ngang, thu thập thông tin bằng  
phương pháp định lượng kết hợp định tính được áp dụng ở nhiều nghiên cứu. Trong các  
nghiên cứu đánh giá năng lực của hệ thống truyền thông phương pháp nghiên cứu dựa trên  
các báo cáo, số liệu, tài liệu sẵn có (nghiên cứu bàn giấy) được sử dụng nhiều. Trong các  
nghiên cứu Kiến thức – thái độ - thực hành (KAP), phương pháp nghiên cứu được mô tả khá  
tốt nhưng trong các nghiên cứu bàn giấy mô tả phương pháp rất chung chung.  
Việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu và phương pháp chọn mẫu: Mô tả đối tượng  
nghiên cứu chưa rõ ràng, cụ thể. Nhiều nghiên cứu còn nhầm lẫn giữa đối tượng truyền  
thông và đối tượng nghiên cứu: “Là những đối tượng có liên quan trực tiếp, gián tiếp đến  
một vấn đề sức khỏe nào đó mà chúng ta cần tuyên truyền”; “Người truyền thông, đối tượng  
truyền thông và đối tượng quan trọng”. Trong các nghiên cứu KAP, cỡ mẫu nghiên cứu chủ  
yếu được áp dụng công thức tính cho việc ước đoán một tỷ lệ trong quần thể. Nhiều nghiên  
cứu loại này đã làm tốt khâu chọn mẫu như chọn mẫu ngẫu nhiên nhiều giai đoạn trong  
nghiên cứu. Tuy nhiên, trong nhiều nghiên cứu việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu chưa  
được mô tả cụ thể.  
Việc trình bày kết quả nghiên cứu: Các test thống kê được sử dụng phổ biến là xác  
định tần số, tỷ lệ (%), một số nghiên cứu đã tìm hiểu mối liên quan giữa các biến (OR, p)  
2
hoặc so sánh sự các giá trị tỷ lệ (test χ ). Bên cạnh các nghiên cứu trình bày kết quả  
mạch lạc, bám sát mục tiêu còn có nhiều nghiên cứu kết quả rất sơ sài, kết cấu không cân  
xứng với các cấu phần khác, trình bày thiếu khoa học. Có nghiên cứu phần kết quả chưa  
đầy 2 trang trong tổng số 20 trang báo cáo. Nhiều kết quả định lượng không trình bày  
trên bảng/biểu đồ mà trình bày dưới dạng liệt kê, câu kể để đưa ra các tỷ lệ làm người  
đọc khó theo dõi. Nhiều bảng kết quả nghiên cứu không có phần nhận xét sau mỗi bảng.  
Các cấu phần khác của một báo cáo nghiên cứu: Rất nhiều nghiên cứu không có  
phần tóm tắt nghiên cứu. Tổng quan tài liệu còn viết sơ sài (chỉ chiếm nửa trang) hoặc  
10  
viết lan man. Một số nghiên cứu không có phần tổng quan hoặc không đưa tổng quan  
vào một chương/phần riêng mà lại lồng vào phần đặt vấn đề hoặc kết quả nghiên cứu.  
Cũng giống như tổng quan, nhiều nghiên cứu đã không có phần bàn luận hoặc viết sơ sài,  
ít có sự liên hệ hay so sánh với kết quả các nghiên cứu khác. Một điểm dễ nhận thấy ở  
các nghiên cứu được các T4G gửi về đó là việc sắp xếp thứ tự tài liệu tham khảo không  
theo quy định (như không sắp xếp theo thứ tự a,b,c; không theo quy định viết tài liệu  
tham khảo cho sách, tạp chí…) và không có chú thích xem tài liệu tham khảo được dùng  
để minh họa, bàn luận cho nội dung nào. Thậm chí có nghiên cứu không hề sử dụng bất  
cứ tài liệu tham khảo nào.  
4.4. Các yếu tố liên quan đến hoạt động NCKH  
Có tới 96,4% các cán bộ đã từng làm NCKH của T4G các tỉnh phía Bắc cho rằng  
có gặp khó khăn trong quá trình thực hiện. Các khó khăn chủ yếu được đề cập đến là  
thiếu kinh phí (81%), tiếp đến là năng lực làm NCKH của cán bộ yếu (67,9%), thiếu  
trang thiết bị như phương tiện đi lại, máy ghi âm…(56%). Chỉ có 7,1% cán bộ đã từng  
tham gia NCKH cho rằng lãnh đạo đơn vị không ủng hộ.  
4.4.1. Năng lực thực hiện NCKH của các T4G  
Bảng 2. Tự đánh giá năng lực thực hiện NCKH của cán bộ T4G  
Mức độ đánh giá (n= 274)  
Yếu  
Trung bình  
Khá  
Tốt  
Rất tốt  
Nội dung  
n
%
n
%
n
%
n
%
n
%
Lựa chọn chủ đề NC và  
xây dựng mục tiêu  
24 8,8 123 44,9 84 30,6 41 15,0  
30 11,0 122 44,5 92 33,6 28 10,2  
2
0,7  
Viết tổng quan tài liệu  
2
2
2
6
5
6
5
0,7  
0,7  
0,7  
2,2  
1,8  
2,2  
1,8  
Phương pháp nghiên cứu 28 10,2 121 44,2 91 33,2 32 11,7  
Xây dựng bộ công cụ  
Thu thập số liệu  
28 10,2 122 44,6 89 32,5 33 12,0  
22 12,0 104 38,0 87 31,7 55 20,1  
Xử lý, phân tích số liệu 33 12,0 108 39,4 92 33,6 36 13,2  
Viết báo cáo khoa học  
Viết bài báo khoa học  
26 9,5 119 43,4 92 33,6 31 11,3  
35 12,8 136 49,6 66 24,1 32 11,7  
Tỷ lệ các cán bộ tự đánh giá năng lực thực hiện NCKH của mình theo từng nội dung ở  
mức độ trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất (từ 38,0% đến 49,6%), tiếp đến là mức độ khá (từ  
24,1% đến 33,2%). Chỉ có vài trường hợp tự thấy mình làm nghiên cứu rất tốt. Điểm trung  
bình đánh giá năng lực thực hiện NCKH của cán bộ là 20,1 điểm.  
11  
Bảng 3. Đánh giá năng lực thực hiện NCKH của đơn vị  
Mức độ đánh giá (n =274)  
Yếu  
T.bình  
Khá  
Tốt  
Rất tốt  
Nội dung  
n
%
n
%
n
%
n
%
n
%
Lựa chọn chủ đề, xây  
dựng mục tiêu nghiên cứu  
Viết tổng quan tài liệu  
17 6,2 49 17,9 115 42,0 83 30,3 10 3,6  
14 5,1 55 20,1 120 43,8 75 27,4 10 3,6  
Phương pháp nghiên cứu 16 5,8 51 18,6 128 46,7 72 26,3  
7
2,6  
Xây dựng bộ công cụ  
Thu thập số liệu  
13 4,7 63 23,0 123 44,9 64 23,4 11 4,0  
12 4,4 46 16,8 107 39,1 95 34,7 14 5,1  
19 6,9 49 17,9 111 40,5 81 29,6 14 5,1  
17 6,2 45 16,4 126 46,0 74 27,0 12 4,4  
23 8,4 51 18,6 129 47,1 58 21,2 13 4,7  
Xử lý, phân tích số liệu  
Viết báo cáo khoa học  
Viết bài báo khoa học  
Kết quả bảng cho thấy tỷ lệ các cán bộ đánh giá năng lực thực hiện NCKH của đơn  
vị mình theo từng nội dung ở mức độ khá chiếm tỷ lệ cao nhất (từ 39,1% đến 47,1%), tiếp  
đến là mức độ tốt (từ 21,2% đến 34,7%). Đánh giá việc thực hiện NCKH theo từng nội  
dung ở mức độ yếu và rất tốt có tỷ lệ thấp. Điểm trung bình đánh giá năng lực thực hiện  
NCKH của cán bộ là 20,1 điểm.  
27,4% các cán bộ tại 25 T4G các tỉnh phía Bắc tham đã từng tham gia các khóa học về  
NCKH. Đa số được học về nội dung này trong các trường đại học (73,3%), số khóa học do  
Trung tâm TTGDSK Trung ương hoặc do chính các T4G tổ chức chỉ chiếm 10,7%. Gần 50%  
số cán bộ đã được đào tạo cách thời điểm phỏng vấn trên 2 năm. Hầu hết (98,7%) các cán bộ  
đã được đào tạo về NCKH cho rằng các khóa học này là cần thiết. Trong các nội dung đào tạo  
về NCKH, thiết kế đề cương nghiên cứu chiếm tỷ lệ cao nhất (82,7%), phương pháp nghiên  
cứu (70,7%), chọn chủ đề và xây dựng mục tiêu (68%), xử lý và phân tích số liệu (58,7%),  
tổng quan tài liệu, kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu (53,3%), lập kế hoạch và viết báo cáo  
nghiên cứu (49,3%). Chỉ có 30,7% số đối tượng được học về nội dung viết bài báo khoa học.  
Việc chưa được đào tạo và đào tạo lại, ít có cơ hội làm nghiên cứu đã làm hạn chế  
khả năng của cán bộ.  
“Cán bộ của mình chưa được bài bản lắm nên chất lượng công tác NCKH còn  
gặp nhiều khó khăn” (PVS lãnh đạo T4G).  
“Đa số anh em chưa được đào tạo, chủ yếu là tự mày mò học tập các form, mẫu  
nghiên cứu qua mạng nên chất lượng nghiên cứu chưa thực sự tốt…” (PVS lãnh đạo T4G).  
“Nhân lực của T4G từ năm 1999 đến nay cũng có sự thay đổi nhiều. Cán bộ không  
ổn định, một số anh em học xong lại xin chuyển đi chỗ khác. Tưởng có bộ máy có thể làm  
được thì lại chuyển đi chỗ khác nên lại tìm người khác, lại phải đào tạo lại, ít nhiều có ảnh  
hưởng đến hoạt động chuyên môn của đơn vị cũng như NCKH” (TLN cán bộ T4G).  
12  
4.4.2. Kinh phí dành cho NCKH của cán bộ T4G  
Có 16/25 trung tâm không dành kinh phí cố định từ hoạt động hàng năm của đơn  
vị cho hoạt động NCKH (chiếm 64,0%). 100% những trung tâm có dành kinh phí cho  
hoạt động NCKH đều sử dụng kinh phí đó đúng mục đích và 100% cho rằng kinh phí đó  
không đủ để thực hiện NCKH. Một số trung tâm đã cố gắng trích một phần kinh phí hoạt  
động hàng năm cho hoạt động này như Lạng Sơn, Tuyên Quang, Bắc Ninh (khoảng  
10.000.000 đồng/năm); Hải Dương (3.000.000 đồng/năm).  
Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy dù đơn vị có dành kinh phí cho hoạt động  
này đi chăng nữa thì kinh phí đó cũng không đủ đáp ứng nhu cầu.  
“Trong 2 năm vừa qua, chỉ tiêu kế hoạch hàng năm có dành kinh phí cho NCKH.  
Tuy nhiên nguồn kinh phí theo quy định của tài chính khoảng 1% tổng kinh phí ngân  
sách hàng năm cho công tác nghiên cứu. Trong quá trình xây dựng kế hoạch đề tài  
NCKH thì kinh phí này thì không đủ đáp ứng nhu cầu.” (TLN cán bộ T4G).  
Kinh phí hạn chế là một cản trở cán bộ làm NCKH. Trước hết kinh phí ít đồng  
nghĩa với việc sẽ không thể có đề tài để thực hiện mặc dù lãnh đạo rất ủng hộ.  
4.4.3. Một số yếu tố liên quan đến việc tham gia NCKH của cán bộ T4G  
Bảng 4. Mối liên quan giữa một số yếu tố với việc tham gia NCKH  
Tham gia NCKH  
OR  
Yếu tố  
p
(CI 95%)  
Có  
47  
37  
77  
8
Không  
67  
Nam  
2,3  
(1,4 - 3,9)  
5,6  
<0,01  
Giới  
Nữ  
120  
119  
70  
ĐH và sau ĐH  
Trung cấp, cao đẳng  
Y/dược  
<0,01  
<0,01  
<0,01  
>0,05  
Trình độ  
chuyên môn  
(2,5 -12,4)  
3
47  
37  
55  
Chuyên ngành  
đàotạo  
(1.76 -5.1)  
7,5  
Các ngành khác  
130  
Có  
47  
37  
30  
55  
27  
160  
90  
Đào tạo về  
NCKH  
( 4,3 - 14,0)  
0,6  
Không  
Đồng bằng  
Trung du miền núi  
Vùng miền  
99  
(0,36 – 1,0)  
Kết quả cho thấy, nam giới tham gia NCKH cao gấp 2,3 lần nữ giới (p<0,01), cán  
bộ có trình độ đại học trở lên tham gia nghiên cứu cao gấp 5,6 lần các cán bộ khác  
(p<0,01). Cán bộ tốt nghiệp các trường Y dược tham gia nghiên cứu nhiều hơn các cán  
bộ tốt nghiệp các chuyên ngành khác (p<0,01). Những người đã từng được đào tạo/tập  
huấn về NCKH tham gia làm nghiên cứu nhiều gấp 7,5 lần những người chưa từng được đào  
tạo. Nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan giữa yếu tố vùng miền với việc tham gia  
NCKH của cán bộ các T4G.  
13  
4.5. Các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động NCKH  
4.5.1. Dành kinh phí cho hoạt động NCKH  
Theo kết quả nghiên cứu định lượng, có tới hơn 90% đối tượng nghiên cứu chọn  
giải pháp ”dành kinh phí thường xuyên cho hoạt động NCKH”. Tuy nhiên kết quả nghiên  
cứu định tính lại cho thấy để có được kinh phí cho hoạt động này không hề dễ, khi mà  
kinh phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị còn hạn chế.  
”Kinh phí sự nghiệp hàng năm còn không đủ để chi. Nếu có kinh phí độc lập với kinh  
phí của cơ quan thì được, anh em sẵn sàng làm.” (TLN cán bộ T4G).  
Để có kinh phí cho NCKH, một số đơn vị đã quyết định trích một phần từ kinh  
phí thường xuyên của đơn vị thông qua việc tiết kiệm chi.  
”Chúng tôi cũng ấn định vài phần trăm/ năm kinh phí cho NCKH. Kinh phí này  
lấy từ kinh phí thường xuyên của đơn vị, tiết kiệm tiền xăng xe, ví dụ: phóng viên đi viết  
tin bài thì đi xe bus, khoán điện thoại, nước, internet…” (PVS lãnh đạo T4G).  
Hoặc giải pháp ”mèo nhỏ bắt chuột nhỏ” cũng được đưa ra. ”Với kinh phí cho  
NCKH hàng năm ít hơn 10 triệu đồng thì vẫn có thể thực hiện được các đề tài trong  
phạm vi nhỏ như đánh giá hoặc sáng kiến cải tiến” (PVS lãnh đạo T4G).  
4.5.2. Nâng cao năng lực thực hiện NCKH cho cán bộ T4G  
. Tăng cường đào tạo về NCKH  
Có nhu cầu  
49%  
95,8%  
4,2%  
33%  
15%  
3%  
3-5 ngày  
6-10 ngày  
> 10 ngày  
Khác  
Biều đồ 4. Nguyện vọng được đào tạo về NCKH  
95,6% số cán bộ cho rằng cần phải mở thêm các khóa tập huấn về NCKH. Thời gian  
mở lớp 3-5 ngày được 48,7% số người được hỏi cho là phù hợp; 33,3% cho rằng cần mở lớp  
từ 6-10 ngày. Chỉ có 14,6% cho rằng thời gian mở lớp nên trên 10 ngày.  
14  
Bảng 5. Nội dung về NCKH cán bộ mong muốn được đào tạo thêm  
Tần số  
Chỉ số  
Tỷ lệ (%)  
(n=262)  
208  
Xây dựng đề cương  
79,4  
47,7  
76,0  
73,7  
59,9  
66,0  
61,1  
66,8  
54,2  
Viết tổng quan tài liệu  
125  
Lựa chọn chủ đề và xây dựng mục tiêu  
Phương pháp nghiên cứu  
Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu  
Xử lý và phân tích số liệu  
Lập kế hoạch nghiên cứu  
Viết báo cáo nghiên cứu  
199  
193  
157  
173  
160  
175  
Viết bài báo khoa học  
142  
Hầu hết các nội dung được các cán bộ mong muốn học tập, tìm hiểu thêm, trong đó  
cao nhất là xây dựng đề cương (79,4% số người được hỏi muốn học nội dung này), tiếp đến là  
lựa chọn chủ để và xây dựng mục tiêu nghiên cứu (76%), phương pháp nghiên cứu (73,7%).  
Chỉ có 47,7% mong muốn được học về cách viết tổng quan tài liệu.  
. Một số giải pháp khác  
Ngoài việc tổ chức các khóa đào tạo về NCKH, cán bộ T4G cũng đề xuất một số  
giải pháp mà thông qua đó năng lực thực hiện NCKH của cán bộ có thể cải thiện; đó là  
có các hướng dẫn cụ thể về quy trình làm nghiên cứu, cách viết báo cáo nghiên cứu, tổ  
chức sinh hoạt khoa học định kỳ hàng năm hoặc phối kết hợp với các đơn vị có năng lực  
tốt để làm NCKH  
”T5G cần có hướng dẫn cụ thể cách viết báo cáo cho các đơn vị... Hoặc có thể tổ  
chức sinh hoạt khoa học giữa các đơn vị truyền thông với nhau” (PVS lãnh đạo T4G)  
”Nếu không đủ năng lực làm nghiên cứu mình có thể kết hợp với các đơn vị khác.  
Như ở tỉnh tôi bệnh viện đa khoa năm nào cũng tổ chức hội nghị khoa học, nếu quan hệ  
tốt họ có thể giúp rất nhiệt tình” (TLN cán bộ T4G).  
5. Kết luận  
- Hoạt động NCKH của T4G các tỉnh miền Bắc còn nhiều hạn chế: Số lượng nghiên  
cứu không nhiều (1,44 đề tài/trung tâm/3 năm). Chất lượng các nghiên cứu chưa tốt  
(phương pháp nghiên cứu chưa chặt chẽ; báo cáo nghiên cứu sơ sài; thiếu tóm tắt, tổng  
quan, bàn luận; trình bày tài liệu tham khảo chưa đúng).  
- Sự tham gia và năng lực thực hiện NCKH của cán bộ còn hạn chế: 19,3% đã từng đề  
xuất đề tài, 31% đã từng tham gia NCKH. Điểm trung bình đánh giá năng lực thực  
hiện NCKH thấp (20,1 và 24,4/40 điểm)  
- Thiếu kinh phí (81%) và năng lực thực hiện NCKH hạn chế (67,9%) là các yếu tố cản  
trở hoạt động NCKH.  
15  
- Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính, trình độ, chuyên  
ngành đào tạo và việc đã từng được tập huấn về NCKH với việc tham gia NCKH.  
- Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động NCKH: Dành kinh phí thường xuyên cho  
NCKH; Nâng cao năng lực của cán bộ thông qua việc tăng cường đào tạo, tổ chức sinh  
hoạt khoa học định kỳ hoặc phối hợp với các đơn vị khác để làm nghiên cứu.  
6. Khuyến nghị:  
- Các đơn vị dành kinh phí thường xuyên cho hoạt động NCKH.  
- Nâng cao năng lực thực hiện NCKH cho cán bộ T4G thông qua mở các khóa đào tạo  
với thời gian mở lớp phù hợp 3-5 ngày.  
- Thực hiện các đề tài có quy mô nhỏ và vừa hoặc các sáng kiến cải tiến kỹ thuật phù  
hợp với nguồn kinh phí và năng lực của cán bộ.  
- Phối hợp các đơn vị khác thực hiện NCKH  
Tài liệu tham khảo:  
1. Bộ Y tế (2007), Tài liệu hội nghị tập huấn nghiệp vụ khoa học công nghệ.  
2. Bộ Y tế (2006), Báo cáo y tế Việt Nam 2006: Công bằng, hiệu quả, phát triển trong  
tình hình mới, nhà xuất bản Y học.  
3. Bộ Y tế (1999), Quyết định về việc ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức  
bộ máy của Trung tâm Truyền thông-Giáo dục sức khỏe thuộc Sở Y tế tỉnh, thành phố  
trực thuộc Trung ương, số 911/1999/QĐ- BYT ngày 31 tháng 3 năm 1999.  
4. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1995), Nghiên cứu xã hội học (Thủ tục,  
hình thức, phương pháp), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.  
5. Thủ tướng Chính phủ (2005), Quyết định ban hành Chương trình hành động của  
Chính phủ Thực hiện Nghị quyết số 46/NQ-TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về  
công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, số  
243/2005/QĐ-TTg ngày 5 tháng 10 năm 2005.  
6. Trung tâm Truyền thông-Giáo dục sức khỏe Trung ương (2011), Báo cáo đánh giá kết  
quả chương trình hành động truyền thông-giáo dục sức khỏe đến năm 2010.  
7. Trung tâm Truyền thông-Giáo dục sức khỏe Trung ương (2011), Báo cáo tổng kết công  
tác truyền thông GDSK năm 2010 và triển khai công tác năm 2011.  
8. Trung tâm Truyền thông-Giáo dục sức khỏe Trung ương (2011), Kỷ yếu các công  
trình nghiên cứu khoa học về truyền thông-giáo dục sức khỏe giai đoạn 2001-2010,  
NXB Khoa học kỹ thuật, năm 2011.  
9. Trung tâm Truyền thông-Giáo dục sức khỏe Trung ương (2011), Quyết định về việc  
ban hành “Quy trình xét duyệt đề cương và nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học  
cấp cơ sở”, số 65/QĐ-GDSKTW ngày 28 tháng 3 năm 2011.  
10. Trường Đại học Y Hà Nội, Dự án Việt Nam-Hà Lan, Tài liệu hướng dẫn xây dựng  
đề cương nghiên cứu khoa học y học, Nhà xuất bản Y học, năm 2011.  
16  
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG THAY ĐỔI HÀNH VI  
RỬA TAY BẰNG XÀ PHÒNG TRONG PHÒNG CHỐNG CÚM A  
TẠI XÃ MAI SƠN, HUYỆN YÊN MÔ, NINH BÌNH, NĂM 2010  
Phạm Ngọc Cương, Lê Thị Thu Hoàn  
Trung tâm Truyền thông GDSK Ninh Bình  
Tóm tắt nghiên cứu:  
Từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2010, Trung tâm TTGDSK Ninh Bình tổ chức các  
hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và thực hành của  
người dân trên địa bàn xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình về phòng chống bệnh  
cúm A. Một loạt các hoạt động truyền thông can thiệp đã được tiến hành như phát trên  
loa đài, phát tài liệu, tổ chức truyền thông lồng ghép, thăm hộ gia đình, phát xà phòng,  
chậu rửa… Kết quả đánh giá trước và sau can thiệp trên 200 phụ nữ trên 18 tuổi tại địa  
bàn xã đã cho thấy có sự chuyển biến về nhận thức và hành vi của đối tượng. Nhận thức  
của người dân về nguyên nhân gây bệnh cúm (do vi rút) tăng từ 61,5% lên 97,5%. Tỷ lệ  
người dân biết được đường lây nhiễm do tiếp xúc trực tiếp với người bệnh và các dịch  
tiết mũi họng, hô hấp của người bệnh đã tăng từ 53% lên 100%. Kiến thức về các biểu  
hiện của bệnh và các biện pháp phòng bệnh cũng tăng lên đáng kể. Sau khi can thiệp  
phần lớn phụ nữ xã Mai Sơn đó thực hiện đúng và thường xuyên việc rửa tay bằng xà  
phòng (trước can thiệp: 24%, sau can thiệp: 100%).  
1. Đặt vấn đề  
Mai Sơn là một xã nằm ở phía Tây Bắc của huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, có  
diện tích tự nhiên gần 5 km2, có 8 thôn với 890 hộ gia đình, trên 4.000 nhân khẩu. Cơ  
cấu kinh tế: nông nghiệp chiếm 62,8%, dịch vụ và công nghiệp chiếm 37,2%, giao thông  
thuận tiện với đường quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam và đường sông chạy qua xã - đây  
là điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế, cải thiện đời sống cho nhân dân trong xã. Mặt  
khác ở đây vẫn còn nhiều tập quán lạc hậu, nguồn nước sạch cho sinh hoạt còn thiếu, tỷ  
lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh chưa cao, người dân vẫn chưa có thói quen rửa tay  
thường xuyên bằng xà phòng, một số hộ vẫn còn sử dụng phân tươi để bón ruộng. Đây  
chính là mối nguy cơ tiềm ẩn phát sinh và phát triển các bệnh dịch bệnh nguy hiểm nhất  
là bệnh dịch cúm A và các bệnh đường tiêu hóa.  
Từ năm 2004 - 2008 trên địa bàn huyện Yên Mô đã có 11 xã có dịch cúm A/H5N1  
trên gia cầm, trong đó xã Mai Sơn có 2 đợt dịch (năm 2004 và năm 2005), tuy nhiên cho đến  
nay chưa phát hiện bệnh nhân nhiễm cúm A/H5N1. Năm 2009, trên địa bàn huyện Yên Mô  
và xã Mai Sơn cũng đã xảy ra dịch cúm A/H1N1 và các dịch bệnh nguy hiểm như tiêu chảy  
cấp nguy hiểm do tả, nhiễm liên cầu lợn ở người... Mặt dù đã triển khai đồng bộ và có hiệu  
quả các biện pháp phòng chống dịch nhưng với những điều kiện về tự nhiên, kinh tế xã hội  
17  
nêu trên, nguy cơ bùng phát các dịch bệnh này là rất lớn đòi hỏi phải chủ động triển khai các  
biện pháp can thiệp nhằm làm giảm thiểu nguy cơ.  
Căn cứ nhu cầu thực tiễn và khả năng huy động các nguồn lực tại địa phương,  
chúng tôi lựa chọn hình thức can thiệp là rửa tay bằng xà phòng tại xã vì đây là hành vi  
quan trọng có thể phòng lây nhiễm cúm và các bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa.  
Nhằm mục đích đánh giá hiệu quả các biện pháp can thiệp bằng truyền thông tại xã Mai  
Sơn, huyện Yên Mô trong việc phòng chống dịch cúm A thông qua hành vi rửa tay bằng  
xà phòng, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả truyền thông thay  
đổi hành vi rửa tay bằng xà phòng trong phòng chống cúm A tại xã Mai Sơn, huyện  
Yên Mô năm 2010.  
2. Mục tiêu can thiệp  
Mục tiêu chung: Nâng cao nhận thức, thái độ và thực hành của các tầng lớp nhân dân  
trong xã, đặc biệt là phụ nữ trong công tác phòng chống dịch cúm A.  
Mục tiêu cụ thể: Đến hết tháng 01/2011, tại xã Mai Sơn có:  
90% phụ nữ thường xuyên rửa tay bằng xà phòng đúng cách.  
80% người dân rửa tay thường xuyên bằng xà phòng đúng cách.  
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
3.1. Thời gian, địa điểm nghiên cứu:  
Thời gian: từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2010  
Địa điểm: xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.  
3.2. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp có đánh giá trước - sau.  
3.3. Đối tượng nghiên cứu:  
Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ > 18 tuổi  
Chọn mẫu và cỡ mẫu cho nghiên cứu:  
+ Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu:  
p.(1p)  
n Z(21 / 2)  
d2  
Trong đó: n: Cỡ mẫu cần phỏng vấn trong nghiên cứu.  
Z(1- /2): Độ tin cậy của nghiên cứu, được xác định ở ngưỡng xác suất với   
là 0,05 nên giá trị Z(1- /2) là 1,96  
p: Tỷ lệ người dân có nhận thức, thái độ và thực hành đúng về phòng  
chống cúm A/H1N1 (để có cỡ mẫu cao nhất p được tính là 0,5)  
d. Độ sai lệch mong muốn (d = 0,05)  
18  
Áp dụng vào công thức trên, cỡ mẫu được tính là 196, làm tròn là 200.  
Như vậy cỡ mẫu điều tra là 200 (người).  
+ Chọn đối tượng nghiên cứu: Sử dụng kĩ thuật quay cổ chai, hướng cổ chai quay  
về phía nào thì chọn hộ gần nhất của thôn gần nhất là điểm đầu tiên để tiến  
hành điều tra, sau đó áp dụng phương pháp cổng liền cổng (door to door) cho  
đến khi đủ cỡ mẫu. Nếu đối tượng nghiên cứu đi vắng thì chọn hộ gia đình tiếp  
theo cho đủ cỡ mẫu (Số lượng hộ thay đổi không quá 5%). Tại mỗi hộ gia đình  
thực hiện phỏng vấn một phụ nữ từ 18 tuổi trở lên.  
3.4. Phương pháp thu thập thông tin: Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp đối  
tượng bằng bộ câu hỏi đã được chuẩn bị trước.  
3.5. Các bước tiến hành nghiên cứu  
Đánh giá trước can thiệp nhận thức, thái độ, thực hành của người dân nhất là phụ nữ  
liên quan đến công tác phòng chống dịch cúm A và hành vi rửa tay bằng xà phòng.  
Can thiệp bằng các hoạt động truyền thông, gồm:  
+ Tổ chức 08 lớp kĩ năng phòng chống dịch cúm A và biện pháp rửa tay bằng xà  
phòng cho hơn 400 phụ nữ tại 08 thôn.  
+ Tổ chức 02 cuộc thi kiến thức giữa các gia đình. Nội dung thi gồm 2 phần:phần  
thi kiến thức về phòng chống cúm A và phần thi thực hành rửa tay bằng xà  
phòng. Có 120 thí sinh là hội viên phụ nữ đến từ 8 chi hội trong toàn xã đã  
tham gia. Kết quả hội thi là căn cứ để trao các giải thưởng đồng thời chọn ra 80  
hộ gia đình để hỗ trợ xà phòng, chậu, giá inox.  
+ Tuyên truyền phòng chống cúm tại cộng đồng:  
o Tuyên truyền trên đài truyền thanh xã: Đài Truyền thanh xã đã thường xuyên  
phát các bài tuyên truyền về bệnh cúm A, các biện pháp phòng chống, lợi ích  
của việc rửa tay bằng xà phòng, tin về các hoạt động của dự án.  
o Tổ chức các buổi truyền thông lồng ghép: Hội phụ nữ xã đã tổ chức  
được gần 30 buổi truyền thông lồng ghép, phối hợp với các tổ chức khác  
như cựu chiến binh, thanh niên, các nhà trường...  
o Truyền thông tại hộ gia đình: cán bộ hội phụ nữ, nhân viên y tế thôn đã  
thường xuyên đến tận các hộ gia đình cấp phát tài liệu, tổ chức tuyên  
truyền, giám sát và hướng dẫn việc thực hiện hành vi rửa tay bằng xà  
phòng tại mỗi hộ gia đình.  
Đánh giá nhận thức, thái độ, thực hành của người dân nhất là phụ nữ liên quan đến  
công tác phòng chống dịch cúm A và hành vi rửa tay bằng xà phòng sau can thiệp.  
3.6. Phương pháp xử lý số liệu: Phân tích số liệu trên phần mềm SPSS 16.0. Kết quả  
sau khi phân tích, được trình bày dưới dạng số lượng và tỷ lệ phần trăm. Sử dụng các  
19  
kiểm định thống kê (χ2) để so sánh về nhận thức, thái độ và thực hành của đối tượng  
nghiên cứu trước và sau can thiệp.  
4. Kết quả nghiên cứu  
Bảng 1. Tỉ lệ phụ nữ đã nghe/biết về dịch cúm A trên người  
Tỷ lệ (%)  
Biết về bệnh cúm A trên người  
p
Trước  
100  
0
Sau  
100  
0
Đã biết  
Chưa biết  
Tổng số  
P>0,05  
100  
100  
Nhận xét: Qua phỏng vấn 200 phụ nữ tại 2 thời điểm trước và sau can thiệp thì 100% đối  
tượng trả lời đều đã được nghe và biết về bệnh cúm A.  
Bảng 2. Nhận thức của phụ nữ về tác nhân gây dịch cúm A trên người  
Tỷ lệ (%)  
Tác nhân gây bệnh  
Do virut cúm gây ra  
p
Trước  
Sau  
61,5  
97,5  
Do vi khuẩn gây ra  
Không biết/không rõ  
21  
2,5  
0
<0,05  
17,5  
Nhận xét: Tỷ lệ phụ nữ sau khi can thiệp có nhận thức đúng tác nhân gây bệnh là do vi  
rút cúm cao hơn rất nhiều thời điểm trước can thiệp (61,5% và 97,5%), với p<0,05.  
Bảng 3. Nhận thức về đường lây truyền bệnh cúm A/H1N1  
Tỷ lệ (%)  
Đường lây  
p
Trước  
Sau  
Hô hấp  
48  
94  
<0,05  
Tiêu hoá  
23,5  
01  
0
0
0
0
6
0
0
Máu  
Tình dục  
Tiếp xúc thông thường  
Khác (ghi rõ)  
Không biết  
21,5  
0
6
Nhận xét: Về đường lây, trước can thiệp chỉ có 48% phụ nữ được hỏi trả lời là bệnh cúm  
A/H1N1 lây qua hô hấp, nhưng sau can thiệp tỷ lệ đó là 94% (p<0,05).  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 142 trang yennguyen 16900 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Kỷ yếu Các đề tài nghiên cứu khoa học của hệ truyền thông giáo dục sức khỏe năm 2011", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfky_yeu_cac_de_tai_nghien_cuu_khoa_hoc_cua_he_truyen_thong_gi.pdf