5-6 kiến thức và thực hành về an toàn thực phẩm thức ăn đường phố của học sinh Trung học Cơ sở tại huyện Tân Phú Đông, Tiền Giang năm 2018

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
5-6 KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM  
THỨC ĂN ĐƯỜNG PHỐ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ  
TẠI HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TIỀN GIANG NĂM 2018  
Hồ Văn Son*  
TÓM TẮT  
Đặt vấn đề: Tình trạng ô nhiễm thực phẩm thức ăn đường phố (TĂĐP) hiện nay là vấn đề được toàn xã  
hội quan tâm. TĂĐP là loại hình được học sinh ưa chuộng sử dụng, nếu đối tượng này không có kiến thức và  
thực hành tốt trong việc sử dụng TĂĐP thì sẽ có nguy cơ bị ngộ độc thực phẩm rất cao.  
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ học sinh Trung học cơ sở (THCS) tại huyện Tân Phú Đông có kiến thức đúng,  
thực hành đúng về sử dụng thức ăn đường phố và các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành của học sinh.  
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 580 học sinh các khối lớp 6, 7, 8, 9 trên địa  
bàn huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang, từ tháng 3/2018 đến tháng 9/2018.  
Kết quả: Tỉ lệ học sinh đã từng tiếp cận các thông tin về an toàn thực phẩm là 79,4%. Kết quả có 20,86%  
các em có kiến thức đúng về TĂĐP, thực hành chung đúng về TĂĐP đạt 21,38%. Không có mối liên quan có ý  
nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi, giới tính với kiến thức đúng và thực hành đúng về thức ăn đường phố. Có mối  
liên quan có ý nghĩa thống kê giữa số tiền các em được cho hàng tuần, giữa việc tiếp cập thông tin ATTP, giữa  
tiếp cận qua kênh trực tiếp với kiến thức và thực hành về sử dụng TĂĐP. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê  
giữa kiến thức đúng và thực hành đúng về sử dụng TĂĐP (PValue <0,05).  
Kết luận: Tỉ lệ học sinh có kiến thức và thực hành đúng về sử dụng TĂĐP chưa cao. Cần tăng cường các  
hoạt động truyền thông về ATTP đặc biệt là các lợi ích và tác hại của TĂĐP nhằm nâng cao kiến thức, thực hành  
của học sinh.  
Từ khóa: kiến thức, thực hành, thức ăn đường phố, học sinh  
ABSTRACT  
KNOWLEDGE AND PRACTICES IN FOOD SAFETY OF SECONDARY-SCHOOL STUDENTS IN TAN  
PHU DONG DISTRICT, TIEN GIANG PROVINCE, 2018  
Ho Van Son  
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 – No. 5 - 2019: 34 - 41  
Background: Contaminated street food has become a matter of concern to the whole society. Street food is  
very popular all over the country, especially for students. Therefore, if they do not have good knowledge and  
practices in the use of street food, there will be a high risk of food poisoning.  
Objectives: To determine the percentages of secondary-school pupils in Tan Phu Dong district having  
correct knowledge and proper practices in using street food and to identify factors related to their knowledge  
and practices.  
Methods: The study was designed as a cross-sectional study in 580 students in grades 6, 7, 8, 9 in Tan Phu  
Dong district, Tien Giang province, from March to September, 2018.  
Results: The percentage of students who had access to food safety information was 79.4%. As a result, there  
were 20.86% of children had correct knowledge about street food, the percentage of their correct practices in street  
*Trung tâm Y tế huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang  
Tác giả liên lạc: CN. Hồ Văn Son  
ĐT: 0916 195 936  
Email: cnsontpd@gmail.com  
34  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
food was 21.38%. There were no statistically significant associations between age group or sex and street food  
knowledge or practices. There were statistically significant relationships between the amount of money given  
weekly, or access to food safety information, or direct access to their teachers, relatives or friends and their  
knowledge or practicesin using street food. There was a statistically significant correlation between correct  
knowledge and proper practices in street food (Pvalue <0.05).  
Conclusion: The percentages of students with proper knowledge and practices in using street food were not  
high. It is necessary to strengthen communication activities on food safety, especially on benefits and harms of  
street food to improve the knowledge and practices of students.  
Keywords: knowledge, practices, street food, students  
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Đối tượng nghiên cứu  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Thức ăn đường phố (TĂĐP) tiềm ẩn những  
nguy cơ gây ngộ độc thực phẩm, đe dọa đến  
sức khỏe và tính mạng của người sử dụng.  
Học sinh là nhóm đối tượng có nguy cơ ngộ  
độc thực phẩm do TĂĐP rất cao do đối tường  
này thường xuyên sử dụng TĂĐP, đặc biệt  
hơn là nguy cơ ngộ độc tập thể khi cùng sử  
dụng thực phẩm ô nhiễm.  
Trên 580 học sinh các khối lớp 6, 7, 8, 9 năm  
học 2017 – 2018 tại các trường trên địa bàn  
huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang từ tháng  
3/2018 đến tháng 9/2018.  
Thiết kế nghiên cứu  
Nghiên cứu cắt ngang mô tả.  
Cỡ mẫu  
Tại huyện Tân Phú Đông, loại hình TĂĐP  
đang phát triển nhanh, đặc biệt là một số cá  
nhân kinh doanh TĂĐP từ các huyện lân cận  
đến buôn bán trước cổng trường học, việc kiểm  
soát chất lượng thực phẩm vẫn chưa chặt chẽ  
nên nguy cơ tiềm ẩn là rất lớn.  
Sử dụng công thức tính như sau:  
Z2(1- /2) × p × (1-p)  
____________________  
n
=
x HSTK  
e2  
Tỉ lệ học sinh có thực hành đúng về sử dụng  
thức ăn đường phố 51%(2).  
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này  
để xác định tỷ lệ học sinh Trung học cơ sở  
(THCS) tại huyện Tân Phú Đông có kiến thức  
đúng, thực hành đúng về sử dụng thức ăn  
đường phố và các yếu tố liên quan đến kiến  
thức và thực hành của học sinh nhằm giúp  
ngành y tế địa phương có cơ sở xây dựng các  
can thiệp phù hợp để phòng ngừa ngộ độc  
thực phẩm TĂĐP tuổi học đường, góp phần  
nâng cao chất lượng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe  
cho trẻ em tại địa phương.  
Chọn e=5% là sai số mong muốn, Z là giá trị  
mong muốn với độ tin cậy đòi hỏi, chọn độ tin  
cây 95% thì Z2(1-α/2)=1,96, hệ số thiết kế (HSTK)  
là 1,5.  
Cỡ mẫu theo công thức là 575 người, làm  
tròn 580 người.  
Phương pháp chọn mẫu  
Huyện Tân Phú Đông có 6 xã, mỗi xã đều  
có 01 trường THCS. Tiến hành phân bố mẫu  
cho mỗi trường là 100 học sinh, trong đó chia  
đều cho các khối lớp 6,7,8,9 mỗi khối lớp 25  
em. Lập danh sách học sinh mỗi khối lớp, chọn  
ngẫu nhiên hệ thống bằng cách chọn một điểm  
xuất phát trên danh sách rồi khoanh tròn vào  
số thứ tự trên danh sách lớp theo hệ số k = 5 để  
chọn ra 25 em mỗi khối lớp/trường rồi khảo  
Mục tiêu nghiên cứu  
Xác định tỷ lệ học sinh THCS tại huyện Tân  
Phú Đông có kiến thức đúng, thực hành đúng về  
sử dụng TĂĐP.  
Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến kiến thức  
và thực hành về sử dụng TĂĐP của học sinh  
THCS tại huyện Tân Phú Đông.  
35  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
sát bằng bộ câu hỏi soạn sẵn, thực tế mẫu thu  
được 580 học sinh.  
tỉ lệ 69,83%. Hầu hết các em đều có thói quen  
đến trường ăn sáng với 90,34%.  
Phân tích số liệu  
Tỉ lệ học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 năm học  
2017 – 2018 tại các trường THCS trên địa bàn  
huyện Tân Phú Đông đã từng tiếp cận các thông  
tin về an toàn thực phẩm là 79,4%. Trong số học  
sinh từng tiếp cận thông tin về ATTP, có đến  
60,52% các em biết qua kênh gián tiếp như  
internet (26,25%), tivi (24,08%), …; các kênh trực  
tiếp chiếm 39,48% (Bảng 2).  
Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata  
và phân tích bằng phần mềm Stata 12, xác định  
các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về  
sử dụng TĂĐP bằng kiểm định chi bình phương  
(kiểm định Fisher nếu vọng trị <5). Mức độ kết  
hợp được đo lường bằng chỉ số PR ( Prevalence  
Ration - Tỷ số tỷ lệ hiện mắc) với ước lượng  
khoảng tin cậy (KTC) 95%.  
Bảng 2: Tiếp cận thông tin về an toàn thực phẩm  
KẾT QUẢ  
Tiêu chí  
Tần số (n) Tỉ lệ (%)  
Có  
461  
119  
79,48  
20,52  
Tiếp cận thông  
tin ATTP  
Bảng 1: Phân bố đối tượng theo các đặc điểm cá nhân  
Không  
Tiêu chí  
Tần số  
223  
357  
146  
150  
150  
134  
175  
405  
56  
Tỉ lệ  
38,45  
61,55  
25,17  
25,86  
25,86  
23,10  
30,17  
69,83  
9,66  
Các kênh tiếp nhận (N=461)  
Nam  
Nữ  
Giới tính  
Giáo viên  
Nhân viên y tế  
Bạn bè, người thân  
Tổng  
41  
70  
8,89  
15,18  
15,40  
39,48  
24,08  
26,25  
2,60  
Khối 6  
Kênh trực tiếp  
Kênh gián tiếp  
71  
Khối 7  
Khối lớp  
182  
111  
121  
12  
Khối 8  
Tivi  
Khối 9  
Internet  
50,000đ  
≥50,000đ  
Tại nhà  
Đến trường  
Khoảng tiền có hàng  
tuần  
Báo, tạp chí  
Hệ thống loa đài xã  
Tổng  
35  
7,59  
Thói quen nơi ăn  
279  
60,52  
sáng (thường xuyên)  
524  
90,34  
Trong số 580 em thuộc đối tượng nghiên  
cứu, chúng tôi ghi nhận 28,45% có kiến thức  
đúng về ô nhiễm TĂĐP; 21,90% có kiến thức  
đúng về điều kiện cơ sở bán; 30,17% có kiến thức  
đúng về điều kiện chế biến, thiết bị, dụng cụ;  
22,93% có kiến thức đúng về điều kiện con  
người. Kiến thức chung về TĂĐP là 20,86% các  
em có kiến thức đúng về TĂĐP (Bảng 3).  
Từ kết quả thu thập được trên 580 em,  
chúng tôi nhận thấy, nữ chiếm đa số với tỉ lệ  
61,55%; mẫu phân phối tương đối đồng đều ở  
các khối lớp, dao động từ 134 đến 150 học  
sinh/khối (Bảng 1).  
Về tiền sinh hoạt hàng tuần, đa số các em  
được cha mẹ phát cho trên 50.000 đồng/tuần với  
Bảng 3: Kiến thức đúng về thức ăn đường phố  
Tiêu chí  
Tần số (n)  
298  
Tỉ lệ (%)  
51,38  
34,31  
49,48  
28,45  
27,24  
24,48  
32,24  
21,90  
42,24  
55,34  
51,90  
73,28  
30,17  
Ảnh hưởng của TĂĐP không an toàn  
Các mối nguy ô nhiễm TĂĐP  
Các nguồn gây ô nhiễm TĂĐP  
Kiến thức đúng về Ô nhiễm TĂĐP  
Cách xa các nguồn ô nhiễm  
199  
Ô nhiễm TĂĐP  
287  
165  
158  
Có bàn cách mặt đất 60cm  
142  
Điều kiện vệ sinh  
cơ sở bán TĂĐP  
Có đủ nước sạch  
187  
Kiến thức đúng về điều kiện cơ sở bán  
Dao thớt riêng cho thực phẩm sống/chín  
Chén, tô bẩn và sạch không lẫn lộn  
Có thùng rác có nắp đậy  
127  
245  
321  
Điều kiện chế biến,  
thiết bị, dụng cụ  
301  
Có dụng cụ che đậy bảo quản  
425  
Kiến thức đúng về điều kiện chế biến, thiết bị, dụng cụ  
175  
36  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
Có mặt bảo hộ lao động  
398  
341  
369  
144  
133  
121  
68,62  
58,79  
63,62  
24,83  
22,93  
20,86  
Giữ vệ sinh tay tốt  
Điều kiện con  
người trực tiếp chế  
biến TĂĐP  
Không hút thuốc, ho khạc,…  
Chứng nhận sức khỏe và tập huấn ATTP  
Kiến thức đúng về điều kiện con người  
Kiến thức đúng về TĂĐP (4 nội dung trên)  
TĂĐP an toàn có tỉ lệ 35,52%. Kết quả thực hành  
chung đúng của đối tượng nghiên cứu này là  
21,38% (Bảng 4).  
Về thực hành sử dụng thức ăn đường phố,  
chúng tôi ghi nhận các em có thực hành đúng về  
chọn cơ sở bán TĂĐP an toàn là 32,24%; chọn  
người bán TĂĐP an toàn chiếm 37,41%; chọn  
Bảng 4: Thực hành đúng về sử dụng thức ăn đường phố  
Tiêu chí  
Tần số (n)  
321  
Tỉ lệ (%)  
55,34  
34,66  
79,14  
55,52  
32,24  
52,24  
46,38  
55,34  
52,07  
37,41  
35,86  
42,24  
47,24  
53,28  
56,90  
35,52  
21,38  
Cơ sở TĂĐP cách xa nguồn ô nhiễm  
Cơ sở TĂĐP có bàn cao trên 60cm  
TĂĐP bảo quản trong tủ kính  
201  
Chọn cơ sở bán  
TĂĐP an toàn  
459  
Cơ sở có nguồn nước sạch (trữ trong bình nhựa)  
Thực hành đúng về chọn cơ sở bán TĂĐP an toàn  
Có mang găng tay, tóc tay, quần áo gọn gàng  
Dùng dao thớt riêng cho thực phẩm sống và chín  
Không móng tay dài, không đeo trang sức  
Không hút thuốc, ho khạc,…  
322  
187  
303  
269  
Chọn người bán  
TĂĐP an toàn  
321  
302  
Thực hành đúng về chọn người bán TĂĐP an toàn  
Không dùng giấy báo, túi ny lông màu để gói thức ăn  
Không ăn TĂĐP chiên bằng dầu ôi khét (màu nâu)  
Không ăn TĂĐP màu đậm, sặc sỡ  
217  
208  
245  
274  
Chọn TĂĐP an  
toàn  
Không ăn TĂĐP không che đậy  
309  
Không ăn TĂĐP bị mốc  
330  
Thực hành đúng về chọn TĂĐP an toàn  
Thực hành chung đúng (3 nội dung trên)  
206  
124  
Bảng 5: Các yếu tố liên quan đến kiến thức đúng về sử dụng thức ăn đường phố  
Kiến thức Đúng  
Kiến thức chưa đúng  
Tiêu chí nhóm  
PR, KTC 95% PValue  
(n)  
44  
77  
24  
97  
67  
54  
103  
18  
64  
57  
(%)  
(n)  
(%)  
Nam  
Nữ  
19,73  
21,57  
8,11  
179  
280  
272  
187  
108  
351  
201  
258  
118  
222  
80,27  
78,43  
91,89  
65,85  
61,71  
86,67  
66,12  
93,48  
42,75  
80,43  
0,93  
0,59  
Giới  
Tuổi  
0,72-1,21  
11-12 tuổi  
13-14 tuổi  
Dưới 50,000đ  
Từ 50,000đ trở lên  
Có  
0,33  
<0,00001  
0,23-0,48  
34,15  
38,29  
13,33  
33,88  
6,52  
2,35  
Số tiền hàng tuần  
<0,00001  
1,87-2,96  
Tiếp cận thông tin  
ATTP  
1,94  
<0,00001  
1,71-2,20  
Không  
Trực tiếp  
35,16  
20,43  
Kênh truyền thông  
(N= 461)  
1,52  
1,21-1,90  
0,0004  
Gián tiếp  
thấp hơn 0,33 lần so với các em từ 13-14 tuổi  
(PR=0,33, CI=0,23-0,48, P <0,001). Ngoài ra, có  
mối liên quan giữa số tiền các em được cho  
hàng tuần với kiến thức đúng về thức ăn  
đường phố, những em được cho dưới 50.000đ  
lại có kiến thức đúng gấp 2,35 lần nhóm còn lại  
(PR=2,35; CI=1,87-2,96; Pvalue <0,001); song  
Kết quả phân tích kiểm định Chi square  
test chỉ ra rằng, không có mối liên quan có ý  
nghĩa thống kê giữa giới tính với kiến thức  
đúng về thức ăn đường phố. Đồng thời, có mối  
liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi  
với kiến thức đúng về thức ăn đường phố, các  
em học sinh từ 11-12 tuổi có kiến thức đúng  
37  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
song đó cũng có mối liên quan giữa việc tiếp  
cận thông tin ATTP với kiến thức đúng về  
TĂĐP, những học sinh đã từng nghe thấy về  
ATTP sẽ có kiến thức đúng gấp 1,94 lần các em  
chưa từng nghe về ATTP (PR=1,94; CI=1,71-  
2,20; Pvalue <0,001); đặc biệt những bạn được  
tiếp cận qua kênh trực tiếp sẽ có kiến thức  
đúng gấp 1,52 lần so với nhóm gián tiếp  
(PR=1,52; CI=1,21-1,90; Pvalue=0,001) (Bảng 5).  
0,35 lần các em từ 13 – 14 tuổi (PR=0,35, CI=0,25-  
0,50 p <0,001).  
Có mối liên quan giữa số tiền các em được  
cho hàng tuần với thực hành đúng về thức ăn  
đường phố, những em được cho dưới 50.000đ lại  
có kiến thức đúng gấp 1,39 lần nhóm còn lại  
(PR=1,39; CI=1,06-1,81; Pvalue <0,0195); song  
song là mối liên quan giữa việc tiếp cận thông  
tin ATTP với thực hành đúng về TĂĐP, những  
học sinh đã từng nghe thấy về ATTP sẽ có thực  
hành đúng gấp 1,22 lần các em chưa từng nghe  
về ATTP (PR=1,22; CI=1,13-1,31; Pvalue <0,001).  
Trong đó, những bạn được tiếp cận qua kênh  
trực tiếp sẽ có thực hành đúng gấp 3,17 lần so  
với nhóm gián tiếp (PR=3,17; CI=2,58-3,89;  
Pvalue <0,001). (Bảng 6).  
Nghiên cứu ghi nhận không có mối liên  
quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính với thực  
hành đúng về thức ăn đường phố. Kết quả cho  
biết có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa  
nhóm tuổi với thực hành đúng về TĂĐP, các em  
học sinh từ 11 – 12 tuổi có thực hành kém hơn  
Bảng 6: Các yếu tố liên quan đến thực hành đúng về sử dụng thức ăn đường phố  
Thực hành đúng  
Thực hành chưa đúng  
Tiêu chí nhóm  
PR, KTC 95%  
PValue  
0,37  
(n)  
52  
72  
26  
98  
48  
76  
115  
9
(%)  
(n)  
(%)  
Nam  
23,32  
20,17  
8,78  
171  
285  
270  
186  
127  
329  
346  
110  
84  
76,68  
79,83  
91,22  
65,49  
72,57  
81,23  
75,05  
92,44  
46,15  
90,68  
1,12  
0,88-1,41  
Giới  
Tuổi  
Nữ  
10-11 tuổi  
12-14 tuổi  
Dưới 50.000  
Từ 50.000 trở lên  
Có  
0,35  
0,25-0,50  
<0,00001  
0,0195  
34,51  
27,43  
18,77  
24,95  
7,56  
1,39  
1,06-1,81  
Số tiền hàng tuần  
1,22  
1,13-1,31  
Tiếp cận thông  
tin ATTP  
< 0,00001  
< 0,00001  
Không  
Trực tiếp  
Gián tiếp  
98  
26  
53,85  
9,32  
3,17  
2,58-3,89  
Kênh truyền  
thông  
253  
(Bảng 7).  
BÀN LUẬN  
Như vậy kênh truyền thông trực tiếp thật sự  
có hiệu quả rõ rệt trong thay đổi hành vi của các  
em, đều này hoàn toàn hợp lý khi mà các em  
được truyền đạt kiến thức một chủ động có  
trọng tâm trọng điểm thì việc thay đổi nhận thức  
chuyển đổi hành vi sẽ tốt hơn.  
Về tiếp cận thông tin về An toàn thực phẩm  
Tỉ lệ học sinh từ đã từng tiếp cận các thông  
tin về an toàn thực phẩm là 79,4%. Kết quả của  
chúng tôi thấp hơn nghiên cứu của Dương Đặng  
Hồng Hậu(2) trên đối tượng học sinh THPT là  
85,1%, và cũng thấp hơn nghiên cứu của Lai Tín  
Nghĩa(5), tác giả này công bố trên đối tượng sinh  
viên là 89,1%. Có thể do đối tượng của chúng tôi  
là học sinh THCS nên điều kiện tiếp cận thông  
tin sẽ hạn chế và không phong phú như của các  
tác giả trên.  
Bảng 7: Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành  
đúng về sử dụng thức ăn đường phố  
Thực hành Thực hành  
PR,  
KTC  
95%  
đúng  
chưa đúng  
Tiêu chí nhóm  
PValue  
(n) (%) (n) (%)  
Đúng 71 58,68 50 41,32  
5,08  
3,86-  
7,07  
Kiến  
thức  
chung  
<0,00001  
Chưa  
53 11,55 406 88,45  
đúng  
Những em học sinh có kiến thức đúng sẽ có  
thực hành đúng gấp 5,08 lần các em chưa có kiến  
thức đúng (PR=5,22; CI=3,86-7,07; P<0,00001)  
Chúng tôi ghi nhận, có đến 60,52% các em  
biết qua kênh gián tiếp như internet (26,25%),  
tivi (24,08%), các kênh trực tiếp chiếm 39,48%.  
38  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
Cũng giống như nhiều nghiên cứu của các tác  
giả đã công bố(6), tivi và internet là nguồn cung  
cấp thông tin phổ biến. Thực tế, đối với lứa tuổi  
học sinh các bạn ít có thói quen đọc báo, tạp chí  
mà thay vào đó là các em thường xem tivi, truy  
cập Facebook, qua các kênh này cũng tiếp nhận  
được khá nhiều thông tin về an toàn thực phẩm.  
huynh không hề biết con mình ăn những gì. Nếu  
các em không có được sự hướng dẫn của người  
lớn thì mặc nhiên sẽ sử dụng TĂĐP theo ý thích  
hoặc theo nhóm bạn bè mà không có kiến thức,  
kỹ năng sử dụng TĂĐP một cách an toàn.  
Thực hành về an toàn thực phẩm  
Tỉ lệ học sinh có thực hành đúng về chọn cơ  
sở bán TĂĐP an toàn là 32,24%; chọn người bán  
TĂĐP an toàn chiếm 37,41%; chọn TĂĐP an  
toàn có tỉ lệ 35,52%.  
Kiến thức về an toàn thực phẩm  
Chúng tôi ghi nhận 28,45% học sinh có  
kiến thức đúng về ô nhiễm TĂĐP; 21,90% có  
kiến thức đúng về điều kiện cơ sở bán; 30,17%  
có kiến thức đúng về điều kiện chế biến, thiết  
bị, dụng cụ; 22,93% có kiến thức đúng về điều  
kiện con người.  
So với công bố của Lý Thành Minh(6), tác giả  
này cho biết chỉ 47,9% ngươi mua TĂĐP tỉnh  
Bến Tre chọn cơ sở bán sạch sẽ hay như công bố  
của Dương Đăng Hồng Hậu(2) thì có đến 69,7%  
học sinh THPT tại Ninh Thuận có thực hành  
đúng về nơi bán TĂĐP. Sự khác biệt này có thể  
là do đối tượng nghiên cứu tác giả trên khá rộng  
gồm cả công nhân, học sinh, sinh viên, người  
buôn bán nhỏ, những người có tuổi đời lớn hơn,  
thường xuyên tiếp xúc với nhiều loại hình TĂĐP  
nên phạm vi hiểu biết và kiến thức của họ sẽ  
phong phú hơn và nhận thức vấn đề tốt hơn.  
Kết quả này thấp hơn nhiều so với công bố  
của Lý Thành Minh(6), kiến thức của người mua  
TĂĐP tại tỉnh Bến Tre cũng khá cao, cụ thể là:  
87,10% chọn cơ sở bán TĂĐP cách xa nguồn ô  
nhiễm, người bán phải mặc bảo hộ lao động  
71,9%, thức ăn bày bán trong tủ kính 95,7%,  
không dùng giấy báo gói thức ăn 71,6%. Trong  
một nghiên cứu khác của Dương Đăng Hồng  
Hậu(2): tỉ lệ có kiến thức đúng về chọn nơi bán  
TĂĐP là 81,6%; kiến thức về quy trình chế biến  
là 75,20%; về người bán TĂĐP là 77,8%.  
Kết quả thực hành chung đúng của đối  
tượng nghiên cứu này là 21,38%. Kết quả này  
cao hơn công bố của Đinh Phương Thanh(3) là 8%  
nhưng thấp hơn của Dương Đang Hồng Hậu(2)  
là 51%. Có lý giải cho sự khác biệt này như sau:  
đối tượng của chúng tôi là học sinh THCS nên  
tầm hiểu biết hạn chế hơn nên thực hành cũng  
chưa có sự tư duy mà chủ yếu làm theo cảm  
tính, so với bài báo công bố(2) thực hiện năm 2016  
thì đối tượng của chúng tôi có thực hành hạn chế  
là chấp nhận được. Tuy nhiên, ở công bố(3), tác  
giả thực hiện nghiên cứu cách đây 6 năm nên có  
thể quy kết rằng thời điểm năm 2012 các phương  
tiện thông tin chưa phát triển như hiện nay, các  
vấn đề ô nhiễm thực phẩm chưa công bố rộng  
rãi nên thực hành của đối tượng ở thời điểm đó  
sẽ hạn chế hơn hiện nay.  
Kiến thức chung về TĂĐP là 20,86% các em  
có kiến thức đúng về TĂĐP. Nghiên cứu của  
chúng tôi cho kết quả thấp hơn những kết quả  
đã công bố trước đây, như tác giả Dương Đặng  
Hồng Hậu(2), tỉ lệ học sinh THPT có kiến thức  
đúng là 76,1% hay của Dehghan P(1) trên sinh  
viên đại học khoa học y tế Tabriz, Iran là 50%  
hay của Đinh Phương Thanh(3) nghiên cứu trên  
học sinh THPT tại Củ Chi cho kết quả là 28,9%  
có kiến thức đúng.  
Huyện Tân Phú Đông là huyện cù lao bãi  
ngang ven biển với 6/6 xã được Chính phủ công  
nhận là xã đảo, tỉ lệ hộ nghèo trên 40% (2017),  
khi mà kinh tế xã hội chưa phát triển, nhận thức  
của người dân chỉ dừng lại ở mức “ăn no” chứ  
chưa nghĩ nhiều đến “ăn ngon, an toàn”, phần  
lớn các gia đình đều chỉ tập trung cho công việc  
mưu sinh nên một thực trạng hiển nhiên là có  
90,34% em phải tự đến trường ăn sáng mà phu  
Các yếu tố liên quan đến kiến thức đúng về  
sử dụng thức ăn đường phố  
Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê  
giữa giới tính với kiến thức đúng về thức ăn  
39  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
đường phố. Điều này khẳng định rằng, giới tính  
ở học sinh trung học cơ sở không phải là yếu tố  
quyết định trong các chiến lược truyền thông  
thay đổi hành vi về ATTP cho đối tượng này.  
từ đó sẽ có thực hành tốt hơn. Đây là một đều  
đáng lưu ý trong quá trình can thiệp thay đổi  
hành vi an toàn thực phẩm của các em.  
Những học sinh đã từng nghe thấy về  
ATTP sẽ có thực hành đúng gấp 1,22 lần các  
em chưa từng nghe về ATTP (Pvalue <0,001).  
Trong đó, những bạn được tiếp cận qua kênh  
trực tiếp sẽ có thực hành đúng gấp 3,17 lần so  
với nhóm gián tiếp (P <0,001). Như vậy kênh  
truyền thông trực tiếp thật sự có hiệu quả rõ  
rệt trong thay đổi hành vi của các em, đều này  
hoàn toàn hợp lý khi mà các em được truyền  
đạt kiến thức một cách chủ động có trọng tâm  
trọng điểm thì việc thay đổi nhận thức chuyển  
đổi hành vi sẽ tốt hơn.  
Đồng thời, các em học sinh từ 11-12 tuổi có  
kiến thức đúng thấp hơn 0,33 lần so với các em  
từ 13-14 tuổi (P <0,00001). Như vậy tuổi càng  
lớn, nhận thức của các em càng tốt hơn, nên kiến  
thức, hiểu biết cũng có sự khác biệt. Đây cũng là  
yếu tố cần quan tâm trong lựa chọn thông điệp  
truyền thông phù hợp với lứa tuổi.  
Ngoài ra, về số tiền chi tiêu hàng tuần, các  
em được cho dưới 50.000đ/tuần lại có kiến thức  
đúng gấp 2,35 lần nhóm còn lại (P <0,00001).  
Điều này đặt ra vấn đề rằng, các bậc cha mẹ nên  
xem xét việc sử dụng tiền của các em được cho,  
khi số tiền càng ít các em sẽ có xu hướng chọn  
lọc kỹ lưỡng những thứ sẽ mua hơn là mua  
nhiều thứ không kiểm soát. Thực tế, việc chọn  
lọc thực phẩm, xem xét thông tin sản phẩm cũng  
góp phần hình thành thói quen tiêu dùng tốt và  
nâng cao kiến thức về ATTP cho các em;  
Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành  
đúng về sử dụng thức ăn đường phố  
Những em học sinh có kiến thức đúng sẽ  
có thực hành đúng gấp 5,08 lần các em chưa có  
kiến thức đúng (P <0,00001). Điều này hoàn  
toàn hợp lý, vì khi có kiến thức đúng thì sẽ có  
thể đưa ra lựa chọn, quyết định đúng trong  
việc chọn mua TĂĐP. Vì vậy, song song với  
việc kiểm tra, giám sát, cải thiện chất lượng  
dịch vụ TĂĐP chúng ta cần trang bị kiến thức  
cho học sinh thông qua nhiều loại hình truyền  
thông để cải thiện tỉ lệ thực hành đúng của học  
sinh, qua đó góp phần giảm thiểu phòng ngừa  
ngộ độc thực phẩm do TĂĐP.  
Chúng tôi nhận thấy, những học sinh đã  
từng nghe thấy về ATTP sẽ có kiến thức đúng  
gấp 1,94 lần các em chưa từng nghe về ATTP (P  
<0,00001), đặc biệt những bạn được tiếp cận qua  
kênh trực tiếp sẽ có kiến thức đúng gấp 1,52 lần  
so với nhóm gián tiếp (P=0,0004). Điều này cũng  
dễ hiểu, khi tiếp cận được các nguồn thông tin  
đúng thì các em sẽ có được kiến thức đúng, đặc  
biệt là ở độ tuổi của các em, khả năng tiếp thu  
những kiến thức mới là rất tốt, nhất là những  
nguồn thông tin trực tiếp.  
KẾT LUẬN  
Kết quả điều tra, đánh giá trên 580 em học  
sinh THCS tại huyện Tân Phú Đông, Tiền Giang,  
tỉ lệ học sinh đã từng tiếp cận các thông tin về an  
toàn thực phẩm là 79,4%. Kết quả có 20,86% các  
em có kiến thức đúng về TĂĐP, thực hành  
chung đúng về TĂĐP đạt 21,38%.  
Các yếu tố liên quan đến thực hành đúng về  
sử dụng thức ăn đường phố  
Các em học sinh từ 11 – 12 tuổi có thực hành  
kém hơn 0,35 lần các em từ 13 – 14 tuổi (P<0,001).  
Như vậy, một điều hiển nhiên là khi các em càng  
lớn thì kiến thức càng tốt và thực hành cũng sẽ  
tốt hơn. Về số tiền được cho hàng tuần, những  
em được cho dưới 50.000đ/tuần lại có thực hành  
đúng gấp 1,39 lần nhóm còn lại (P <0,0195). Như  
đã bàn luận ở trên, việc xem xét trước khi mua  
thực phẩm sẽ giúp các em có kiến thức tốt hơn  
Không có mối liên quan có ý nghĩa thống  
kê giữa nhóm tuổi, giới tính với kiến thức  
đúng và thực hành đúng về thức ăn đường  
phố. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê  
giữa số tiền các em được cho hàng tuần, giữa  
việc tiếp cập thông tin ATTP, giữa tiếp cận qua  
kênh trực tiếp với kiến thức và thực hành về  
40  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
sử dụng TĂĐP. Có mối liên quan có ý nghĩa  
thống kê giữa kiến thức đúng và thực hành  
đúng về sử dụng TĂĐP (P <0,05).  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Dehghan P, et al (2017). Knowledge and attitude towards health  
and food safety among students of Tabriz University of Medical  
Sciences, Tabriz, Iran. J Anal Res Clin Med, 5(2):62-8.  
2. Dương Đăng Hồng Hậu và cộng sự (2016). Kiến thức và thực  
hành an toàn thực phẩm trong sử dụng thức ăn đường phố và  
các yếu tố liên quan ở học sinh trung học phổ thông trường  
chuyên Lê Quý Đôn, Ninh Thuận. Y học TP. Hồ Chí Minh,  
20:232.  
KHIẾN NGHỊ  
Ban chỉ đạo an toàn thực phẩm: Tăng cường  
thanh, kiểm tra, các cơ sở kinh doanh TĂĐP.  
Phối hợp với ngành giáo dục tuyên truyền cho  
học sinh thông qua nói chuyện chuyên đề, giảng  
dạy tại lớp nhằm nâng cao tỉ lệ thực hành đúng  
về sử dụng TĂĐP của học sinh.  
3. Đinh Phương Thanh (2012). Kiến thức thực hành về vệ sinh an  
toản thực phẩm thức ăn đường phố của học sinh trung học phổ  
thông Trung Phú huyện Củ Chi TP.HCM năm 2012. Khóa luận  
tốt nghiệp Cử nhân Y tế Công cộng, Đại học Y dược TP. Hồ Chí  
Minh.  
4. Đỗ Đức Dũng và cộng sự (2016). Thực trạng kiến thức về ngộ  
độc thực phẩm của sinh viên Y2 Trường Đại học Y Hà Nội. Tạp  
chí Y học Cộng đồng, 31:15.  
Nhà trường cần duy trì và nâng cao kiến  
thức đúng về ATTP thông qua cung cấp kiến  
thức đúng cho các em học sinh về hậu quả của  
việc sử dụng TĂĐP không an toàn; cải thiện  
điều kiện ATTP tại căn tin, tạo điều kiện ăn uống  
hợp vệ sinh cho học sinh; phối hợp với các  
ngành liên quan để thực hiện kiểm tra, giám sát  
ô nhiễm thực phẩm đối với các cơ sở TĂĐP  
trước cổng trường nhằm hạn chế những cơ sở  
TĂĐP không đảm bảo ATTP.  
5. Lai Tín Nghĩa (2014). Kiến thức thực hành vê vệ sinh an toàn  
thực phẩm của sinh viên đại học kinh tế TP. HCM trong sử  
dụng thức ăn đường phố. Khóa luận tốt nghiệp Bác sĩ Y học Dự  
phòng, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.  
6. Lý Thành Minh, Cao Thị Diễm Thúy (2008). Kiến thức - thái độ -  
thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của người bán, người  
mua thức ăn đường phố tại thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Y học  
TP. Hồ Chí Minh, 12:162.  
Ngày nhận bài báo:  
15/08/2019  
31/08/2019  
15/10/2019  
Ngày phản biện nhận xét bài báo:  
Ngày bài báo được đăng:  
Phụ huynh cần quan tâm nhiều đến việc ăn  
uống của học sinh khi đến trường, cần hướng  
dẫn, chỉ bảo các em lựa chọn những thức ăn ít  
nguy ngơ ô nhiễm, cách lựa chọn thực phẩm.  
41  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
pdf 8 trang yennguyen 10240 Free
Bạn đang xem tài liệu "5-6 kiến thức và thực hành về an toàn thực phẩm thức ăn đường phố của học sinh Trung học Cơ sở tại huyện Tân Phú Đông, Tiền Giang năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdf5_6_kien_thuc_va_thuc_hanh_ve_an_toan_thuc_pham_thuc_an_duon.pdf