Đánh giá hiệu quả truyền thông thay đổi hành vi rửa tay bằng xà phòng trong phòng chống cúm A tại xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, Ninh Bình, năm 2010

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG THAY ĐỔI HÀNH VI  
RỬA TAY BẰNG XÀ PHÒNG TRONG PHÒNG CHỐNG CÚM A  
TẠI XÃ MAI SƠN, HUYỆN YÊN MÔ, NINH BÌNH, NĂM 2010  
Phạm Ngọc Cương, Lê Thị Thu Hoàn  
Trung tâm Truyền thông GDSK Ninh Bình  
Tóm tắt nghiên cứu:  
Từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2010, Trung tâm TTGDSK Ninh Bình tổ chức các  
hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và thực hành của  
người dân trên địa bàn xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình về phòng chống bệnh  
cúm A. Một loạt các hoạt động truyền thông can thiệp đã được tiến hành như phát trên  
loa đài, phát tài liệu, tổ chức truyền thông lồng ghép, thăm hộ gia đình, phát xà phòng,  
chậu rửa… Kết quả đánh giá trước và sau can thiệp trên 200 phụ nữ trên 18 tuổi tại địa  
bàn xã đã cho thấy có sự chuyển biến về nhận thức và hành vi của đối tượng. Nhận thức  
của người dân về nguyên nhân gây bệnh cúm (do vi rút) tăng từ 61,5% lên 97,5%. Tỷ lệ  
người dân biết được đường lây nhiễm do tiếp xúc trực tiếp với người bệnh và các dịch  
tiết mũi họng, hô hấp của người bệnh đã tăng từ 53% lên 100%. Kiến thức về các biểu  
hiện của bệnh và các biện pháp phòng bệnh cũng tăng lên đáng kể. Sau khi can thiệp  
phần lớn phụ nữ xã Mai Sơn đó thực hiện đúng và thường xuyên việc rửa tay bằng xà  
phòng (trước can thiệp: 24%, sau can thiệp: 100%).  
1. Đặt vấn đề  
Mai Sơn là một xã nằm ở phía Tây Bắc của huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, có  
diện tích tự nhiên gần 5 km2, có 8 thôn với 890 hộ gia đình, trên 4.000 nhân khẩu. Cơ  
cấu kinh tế: nông nghiệp chiếm 62,8%, dịch vụ và công nghiệp chiếm 37,2%, giao thông  
thuận tiện với đường quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam và đường sông chạy qua xã - đây  
là điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế, cải thiện đời sống cho nhân dân trong xã. Mặt  
khác ở đây vẫn còn nhiều tập quán lạc hậu, nguồn nước sạch cho sinh hoạt còn thiếu, tỷ  
lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh chưa cao, người dân vẫn chưa có thói quen rửa tay  
thường xuyên bằng xà phòng, một số hộ vẫn còn sử dụng phân tươi để bón ruộng. Đây  
chính là mối nguy cơ tiềm ẩn phát sinh và phát triển các bệnh dịch bệnh nguy hiểm nhất  
là bệnh dịch cúm A và các bệnh đường tiêu hóa.  
Từ năm 2004 - 2008 trên địa bàn huyện Yên Mô đã có 11 xã có dịch cúm A/H5N1  
trên gia cầm, trong đó xã Mai Sơn có 2 đợt dịch (năm 2004 và năm 2005), tuy nhiên cho đến  
nay chưa phát hiện bệnh nhân nhiễm cúm A/H5N1. Năm 2009, trên địa bàn huyện Yên Mô  
và xã Mai Sơn cũng đã xảy ra dịch cúm A/H1N1 và các dịch bệnh nguy hiểm như tiêu chảy  
cấp nguy hiểm do tả, nhiễm liên cầu lợn ở người... Mặt dù đã triển khai đồng bộ và có hiệu  
quả các biện pháp phòng chống dịch nhưng với những điều kiện về tự nhiên, kinh tế xã hội  
17  
nêu trên, nguy cơ bùng phát các dịch bệnh này là rất lớn đòi hỏi phải chủ động triển khai các  
biện pháp can thiệp nhằm làm giảm thiểu nguy cơ.  
Căn cứ nhu cầu thực tiễn và khả năng huy động các nguồn lực tại địa phương,  
chúng tôi lựa chọn hình thức can thiệp là rửa tay bằng xà phòng tại xã vì đây là hành vi  
quan trọng có thể phòng lây nhiễm cúm và các bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa.  
Nhằm mục đích đánh giá hiệu quả các biện pháp can thiệp bằng truyền thông tại xã Mai  
Sơn, huyện Yên Mô trong việc phòng chống dịch cúm A thông qua hành vi rửa tay bằng  
xà phòng, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả truyền thông thay  
đổi hành vi rửa tay bằng xà phòng trong phòng chống cúm A tại xã Mai Sơn, huyện  
Yên Mô năm 2010.  
2. Mục tiêu can thiệp  
Mục tiêu chung: Nâng cao nhận thức, thái độ và thực hành của các tầng lớp nhân dân  
trong xã, đặc biệt là phụ nữ trong công tác phòng chống dịch cúm A.  
Mục tiêu cụ thể: Đến hết tháng 01/2011, tại xã Mai Sơn có:  
90% phụ nữ thường xuyên rửa tay bằng xà phòng đúng cách.  
80% người dân rửa tay thường xuyên bằng xà phòng đúng cách.  
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
3.1. Thời gian, địa điểm nghiên cứu:  
Thời gian: từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2010  
Địa điểm: xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.  
3.2. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp có đánh giá trước - sau.  
3.3. Đối tượng nghiên cứu:  
Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ > 18 tuổi  
Chọn mẫu và cỡ mẫu cho nghiên cứu:  
+ Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu:  
p.(1p)  
n Z(21 / 2)  
d2  
Trong đó: n: Cỡ mẫu cần phỏng vấn trong nghiên cứu.  
Z(1- /2): Độ tin cậy của nghiên cứu, được xác định ở ngưỡng xác suất với   
là 0,05 nên giá trị Z(1- /2) là 1,96  
p: Tỷ lệ người dân có nhận thức, thái độ và thực hành đúng về phòng  
chống cúm A/H1N1 (để có cỡ mẫu cao nhất p được tính là 0,5)  
d. Độ sai lệch mong muốn (d = 0,05)  
18  
Áp dụng vào công thức trên, cỡ mẫu được tính là 196, làm tròn là 200.  
Như vậy cỡ mẫu điều tra là 200 (người).  
+ Chọn đối tượng nghiên cứu: Sử dụng kĩ thuật quay cổ chai, hướng cổ chai quay  
về phía nào thì chọn hộ gần nhất của thôn gần nhất là điểm đầu tiên để tiến  
hành điều tra, sau đó áp dụng phương pháp cổng liền cổng (door to door) cho  
đến khi đủ cỡ mẫu. Nếu đối tượng nghiên cứu đi vắng thì chọn hộ gia đình tiếp  
theo cho đủ cỡ mẫu (Số lượng hộ thay đổi không quá 5%). Tại mỗi hộ gia đình  
thực hiện phỏng vấn một phụ nữ từ 18 tuổi trở lên.  
3.4. Phương pháp thu thập thông tin: Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp đối  
tượng bằng bộ câu hỏi đã được chuẩn bị trước.  
3.5. Các bước tiến hành nghiên cứu  
Đánh giá trước can thiệp nhận thức, thái độ, thực hành của người dân nhất là phụ nữ  
liên quan đến công tác phòng chống dịch cúm A và hành vi rửa tay bằng xà phòng.  
Can thiệp bằng các hoạt động truyền thông, gồm:  
+ Tổ chức 08 lớp kĩ năng phòng chống dịch cúm A và biện pháp rửa tay bằng xà  
phòng cho hơn 400 phụ nữ tại 08 thôn.  
+ Tổ chức 02 cuộc thi kiến thức giữa các gia đình. Nội dung thi gồm 2 phần:phần  
thi kiến thức về phòng chống cúm A và phần thi thực hành rửa tay bằng xà  
phòng. Có 120 thí sinh là hội viên phụ nữ đến từ 8 chi hội trong toàn xã đã  
tham gia. Kết quả hội thi là căn cứ để trao các giải thưởng đồng thời chọn ra 80  
hộ gia đình để hỗ trợ xà phòng, chậu, giá inox.  
+ Tuyên truyền phòng chống cúm tại cộng đồng:  
o Tuyên truyền trên đài truyền thanh xã: Đài Truyền thanh xã đã thường xuyên  
phát các bài tuyên truyền về bệnh cúm A, các biện pháp phòng chống, lợi ích  
của việc rửa tay bằng xà phòng, tin về các hoạt động của dự án.  
o Tổ chức các buổi truyền thông lồng ghép: Hội phụ nữ xã đã tổ chức  
được gần 30 buổi truyền thông lồng ghép, phối hợp với các tổ chức khác  
như cựu chiến binh, thanh niên, các nhà trường...  
o Truyền thông tại hộ gia đình: cán bộ hội phụ nữ, nhân viên y tế thôn đã  
thường xuyên đến tận các hộ gia đình cấp phát tài liệu, tổ chức tuyên  
truyền, giám sát và hướng dẫn việc thực hiện hành vi rửa tay bằng xà  
phòng tại mỗi hộ gia đình.  
Đánh giá nhận thức, thái độ, thực hành của người dân nhất là phụ nữ liên quan đến  
công tác phòng chống dịch cúm A và hành vi rửa tay bằng xà phòng sau can thiệp.  
3.6. Phương pháp xử lý số liệu: Phân tích số liệu trên phần mềm SPSS 16.0. Kết quả  
sau khi phân tích, được trình bày dưới dạng số lượng và tỷ lệ phần trăm. Sử dụng các  
19  
kiểm định thống kê (χ2) để so sánh về nhận thức, thái độ và thực hành của đối tượng  
nghiên cứu trước và sau can thiệp.  
4. Kết quả nghiên cứu  
Bảng 1. Tỉ lệ phụ nữ đã nghe/biết về dịch cúm A trên người  
Tỷ lệ (%)  
Biết về bệnh cúm A trên người  
p
Trước  
100  
0
Sau  
100  
0
Đã biết  
Chưa biết  
Tổng số  
P>0,05  
100  
100  
Nhận xét: Qua phỏng vấn 200 phụ nữ tại 2 thời điểm trước và sau can thiệp thì 100% đối  
tượng trả lời đều đã được nghe và biết về bệnh cúm A.  
Bảng 2. Nhận thức của phụ nữ về tác nhân gây dịch cúm A trên người  
Tỷ lệ (%)  
Tác nhân gây bệnh  
Do virut cúm gây ra  
p
Trước  
Sau  
61,5  
97,5  
Do vi khuẩn gây ra  
Không biết/không rõ  
21  
2,5  
0
<0,05  
17,5  
Nhận xét: Tỷ lệ phụ nữ sau khi can thiệp có nhận thức đúng tác nhân gây bệnh là do vi  
rút cúm cao hơn rất nhiều thời điểm trước can thiệp (61,5% và 97,5%), với p<0,05.  
Bảng 3. Nhận thức về đường lây truyền bệnh cúm A/H1N1  
Tỷ lệ (%)  
Đường lây  
p
Trước  
Sau  
Hô hấp  
48  
94  
<0,05  
Tiêu hoá  
23,5  
01  
0
0
0
0
6
0
0
Máu  
Tình dục  
Tiếp xúc thông thường  
Khác (ghi rõ)  
Không biết  
21,5  
0
6
Nhận xét: Về đường lây, trước can thiệp chỉ có 48% phụ nữ được hỏi trả lời là bệnh cúm  
A/H1N1 lây qua hô hấp, nhưng sau can thiệp tỷ lệ đó là 94% (p<0,05).  
20  
Bảng 4. Nhận thức về nguồn lây nhiễm cúm A/H1N1  
Tỷ lệ (%)  
Nguồn lây  
p
Trước  
Sau  
Người  
53,5  
96  
4
<0,05  
<0,05  
Các loại gia cầm, thủy cầm, chim  
17  
0
Lợn  
0
Khác (ghi rõ)  
Không biết  
0
0
29,5  
0
Nhận xét: Về nguồn lây nhiễm, trước can thiệp chỉ có 53,5% phụ nữ được hỏi trả lời là  
bệnh cúm A/H1N1 có nguồn lây duy nhất là người mắc bệnh, nhưng sau can thiệp tỷ lệ  
đó là 96% ( p<0,05).  
Bảng 5. Nhận thức về sự nguy hiểm của dịch cúm A/H1N1  
Tỷ lệ (%)  
Sự nguy hiểm của bệnh  
p
Trước  
Sau  
Nguy hiểm  
65,5  
100  
<0,05  
<0,05  
Bình thường (như cúm mùa)  
Không biết  
21  
0
0
13,5  
Nhận xét: Về sự nguy hiểm của dịch, trước can thiệp chỉ có 65,6% phụ nữ cho rằng bệnh  
nguy hiểm nhưng sau can thiệp tỷ lệ đó đã tăng lên 100% (p<0,05).  
Bảng 6. Nhận thức về đường lây nhiễm cúm A/H1N1  
Tỷ lệ (%)  
Đường lây  
p
Trước Sau  
Tiếp xúc với người nhiễm vi rút cúm  
68,5  
100  
<0,05  
Qua đường hô hấp khi tiếp xúc với nước bọt, dịch tiết mũi  
họng của bệnh nhân  
53  
38  
100  
94,5  
0
Tiếp xúc trực tiếp với các đồ vật bị nhiễm vi rut  
Tiếp xúc với động vật bị bệnh  
Khác (ghi rõ)  
13,5  
0
0
Không biết  
8,0  
0
Nhận xét: Nhận thức của đối tượng nghiên cứu về đường lây nhiễm cúm A/H1N1 tăng  
lên rõ rệt sau khi được cung cấp thông tin từ các hoạt động can thiệp, đặc biệt là đường  
lây nhiễm do tiếp xúc trực tiếp với người bệnh và các dịch tiết mũi họng, hô hấp của  
người bệnh đã tăng từ 53% lên 100% (p<0,05).  
21  
Bảng 7. Nhận thức về đối tượng dễ bị nhiễm cúm A/H1N1  
Tỷ lệ (%)  
Đối tượng  
p
Trước  
Sau  
Người già  
53,5  
89  
Trẻ em  
58  
40,5  
61,5  
29  
84,5  
73  
<0,05  
Phụ nữ có thai  
Người có sức khoẻ yếu hoặc đang mắc các bệnh khác  
Tất cả mọi người đều có thể mắc bệnh  
91  
72,5  
Nhận xét: Hầu hết các đối tượng được phỏng vấn đều trả lời đúng về những đối tượng có  
nguy cơ lây nhiễm cúm A/H1N1 và tỷ lệ người có nhận thức đúng tăng cao rõ rệt sau khi  
được truyền thông.  
Bảng 8. Nhận thức về việc phát hiện sớm các ca nhiễm cúm A/H1N1  
Tỷ lệ (%)  
Nhận thức  
p
Trước  
Sau  
Có thể  
42  
83,5  
<0,05  
Không thể  
Không biết  
37,5  
20,5  
16,5  
0
Nhận xét: Sau khi thực hiện các biện pháp can thiệp bằng TTGDSK, tỷ lệ người có nhận  
thức đúng về việc có thể phát hiện sớm các trường hợp bệnh ngay tại cộng đồng đã tăng  
lên từ 42% lên 83,5%. P<0,05  
Bảng 9. Nhận thức về biểu hiện khi nhiễm cúm A/H1N1  
Tỷ lệ (%)  
Biểu hiện  
p
Trước  
Sau  
100  
Sốt  
45,5  
Đau đầu  
56,5  
39,5  
62,5  
7
89  
82  
Đau mỏi cơ khớp  
Ho, chảy nước mũi  
Tiêu chảy  
Khác  
<0,05  
98,5  
5
11  
09  
Nhận xét: Sau khi được TTGDSK, tỷ lệ đối tượng biết và liệt kê được các biểu hiện của  
người mắc cúm A/H1N1 đã tăng rất cao. Đặc biệt là ở 2 triệu chứng sốt và đau đầu với  
100% số người được hỏi trả lời đúng.  
22  
Bảng 10. Thái độ khi tiếp xúc với những người nghi nhiễm cúm A/H1N1  
Tỷ lệ (%)  
Thái độ  
p
Trước  
68  
Sau  
87  
Tránh không tiếp xúc và cách li người bệnh  
Báo ngay cho cán bộ y tế  
44,5  
32,5  
52  
100  
96,5  
100  
0
<0,05  
Thực hiện vệ sinh ăn uống  
Thực hiện các biện pháp PCD do CQ y tế hướng dẫn  
Giữ bí mật để mọi người khỏi hoang mang  
0
Nhận xét: Bảng 10 cho thấy, trước khi can thiệp, tỷ lệ đối tượng có thái độ tích cực đối  
với việc tiếp xúc với người nhiễm cúm là rất thấp (dưới 50%). Tuy nhiên sau khi được  
truyền thông tỷ lệ có thái độ tích cực đã tăng lên rõ rệt.  
Bảng 11. Về các biện pháp phòng lây nhiễm cúm A/H1N1  
Tỷ lệ (%)  
Biện pháp  
Tránh tiếp xúc với người bệnh  
p
Trước  
68  
Sau  
93,5  
28  
Thường xuyên đeo khẩu trang y tế ở nơi công cộng  
13,5  
Đeo khẩu trang và giữ khoảng cách >1m khi tiếp xúc với  
bệnh nhân  
Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng  
Che miệng, mũi khi ho, hắt hơi  
Uống thuốc phòng cúm  
9,5  
24  
79,5  
100  
89  
<0,05  
53,5  
29  
82  
VS cá nhân, môi trường thường xuyên, khử trùng các bề  
mặt tiếp xúc  
56,5  
91,5  
Nhận xét: Về các biện pháp phòng lây nhiễm, tỷ lệ đối tượng có thái độ tích cực sau khi  
được truyền thông khá cao nhưng không đồng đều như với hành vi đeo khẩu trang, tỷ lệ  
vẫn còn thấp (28%). Nguyên nhân là các đối tượng cho rằng việc đeo khẩu trang bất tiện,  
ảnh hưởng thẩm mỹ và gây trở ngại khi giao tiếp.  
Bảng 12. Rửa tay bằng xà phòng có phòng được nhiễm cúm A/H1N1 không  
Tỷ lệ (%)  
Biện pháp  
p
Trước  
36,5  
63,5  
0
Sau  
100  
0
Có  
<0,05  
Không  
Không biết  
0
Nhận xét: Phân tích bảng 12 chúng ta thấy sau khi được truyền thông, 100% đối tượng  
có nhận thức đúng và thái độ tích cực đối với việc rửa tay bằng xà phòng trong phòng  
chống cúm A so với 365,% trước khi truyền thông.  
23  
Bảng 13. Thời điểm rửa tay bằng xà phòng  
Tỷ lệ (%)  
Thời điểm  
p
Trước  
Sau  
Trước khi ăn  
70,5  
100  
Trước khi chế biến thức ăn  
Sau khi đi làm đồng về  
Sau khi đi vệ sinh  
Khác  
43  
29  
87,5  
76  
<0,05  
58,5  
15  
100  
7
Nhận xét: Sau khi được truyền thông GDSK phần lớn đối tượng đều đã biết các thời  
điểm cần rửa tay bằng xà phòng. Điều này hết sức quan trọng trong việc phòng lây  
nhiễm của bệnh cúm A cũng như các bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa.  
Bảng 14. Các bước rửa tay bằng xà phòng (kết hợp mô tả và quan sát thực hành)  
Tỷ lệ (%)  
Các bước  
p
Trước  
Sau  
Làm ướt hai bàn tay bằng nước sạch. Thoa xà phòng vào  
53,5  
95,5  
lòng bàn tay. Chà xát hai lòng bàn tay vào nhau  
Dùng ngón tay và lòng bàn tay này cuốn và xoay lần lượt  
từng ngón của bàn tay kia và ngược lại.  
49  
89  
76  
Dùng lòng bàn tay này chà xát lên mu bàn tay kia và ...  
42,5  
38,5  
<0,05  
Dùng đầu ngón tay của bàn tay này miết vào kẽ giữa các  
ngón của bàn tay kia và ngược lại  
69,5  
Chụm 5 đầu ngón tay của tay này cọ vào lòng bàn tay kia  
13,5  
56  
85  
94  
bằng cách xoay đi, xoay lại.  
Xả cho tay sạch hết xà phòng dưới nguồn nước sạch. Lau khô  
tay bằng khăn hoặc giấy sạch  
Nhận xét: Trước khi được hướng dẫn và tổ chức cuộc thi rửa tay bằng xà phòng, phần  
lớn đối tượng không mô tả được các bước rửa tay bằng xà phòng. Tuy nhiên sau khi  
được CBYT, CBPN hướng dẫn thực hành, được cung cấp xà phòng, chậu rửa... phần lớn  
đối tượng nghiên cứu đã mô tả đúng và thực hành thành thục các bước rửa tay đúng bằng  
xà phòng.  
24  
Bảng 15. Kênh thông tin về phòng lây nhiễm cúm A/H1N1  
Tỷ lệ (%)  
Kênh thông tin  
p
Trước  
Sau  
Sách, báo, tạp chí  
Ti vi  
23,5  
24  
81  
71,5  
58,5  
48  
82,5  
100  
100  
100  
Loa đài  
<0,05  
<0,05  
<0,05  
Cán bộ y tế  
Cán bộ phụ nữ  
Nhận xét: Trước khi can thiệp, nguồn cung cấp thông tin về cúm A chủ yếu là qua ti vi,  
vai trò của CBYT, CBPN khá mờ nhạt (khoảng 58% số người được hỏi). Tuy nhiên sau  
khi thực hiện các hoạt động truyền thông, tỷ lệ người trả lời có được các thông tin về  
cúm A và các biện pháp phòng chống từ CBYT, CBPN và hệ thông đài truyền thanh xã  
đã tăng lên rất cao (100%).  
Bảng 16. Kênh phù hợp và hiệu quả nhất trong tuyên truyền về cúm A/H1N1  
Tỷ lệ %  
Kênh thông tin  
p
Trước  
Sau  
2
Sách, báo, tạp chí  
Ti vi  
3,5  
29  
46  
18  
5,5  
3
Loa đài  
27,5  
32  
<0,05  
<0,05  
Cán bộ y tế  
Khác (người thân, cán bộ chính quyền, phụ nữ...)  
35,5  
Nhận xét: Trước khi can thiệp, đối với các đối tượng kênh thông tin phổ biến, tin tưởng  
và hiệu quả nhất là hệ thống loa truyền thanh của xã, ti vi, sau khi can thiệp số đối tượng  
xác định kênh thông tin hiệu quả và phù hợp nhất đã thay đổi với sự tin tưởng nhiều hơn  
vào CBYT (32%) và CBPN, cán bộ chính quyền (35,5%).  
5. Kết luận  
Về tổ chức thực hiện: Dự án đã thành công đạt được mục tiêu kế hoạch đề ra là do  
đã lựa chọn đúng địa phương để triển khai thực hiện, mục tiêu được xây dựng phù  
hợp, kế hoạch hoạt động mang tính khả thi. Có sự phối hợp chặt chẽ, khoa học  
trong tổ chức, chỉ đạo và triển khai các hoạt động. Đặc biệt là nhận được sự đồng  
tình, ủng hộ và tham gia tích cực của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban  
ngành đoàn thể và các tầng lớp nhân dân trong việc tổ chức và triển khai thực hiện  
các nội dung can thiệp.  
25  
Nhận thức của phụ nữ xã Mai Sơn về các biện pháp phòng chống cúm A, nhất là  
rửa tay bằng xà phòng tăng lên đáng kể sau can thiệp (trước can thiệp: 36,5%, sau  
can thiệp: 100%).  
Sau khi can thiệp phần lớn phụ nữ xã Mai Sơn đó thực hiện đúng và thường  
xuyên việc rửa tay bằng xà phòng (trước can thiệp: 24%, sau can thiệp: 100%).  
6. Kiến nghị  
Đề nghị Bộ Y tế, Sở Y tế Ninh Bình tiếp tục hỗ trợ để duy trì kết quả đó đạt được  
tại xã Mai Sơn và nhân rộng mô hình này tại các địa phương khác trong tỉnh.  
Tăng cường TTGDSK trong cộng đồng để nâng cao trình độ nhận thức, thái độ và  
thực hành của người dân về phòng chống dịch cúm A/H1N1.  
Bổ sung nhân lực, tổ chức tập huấn cho CBYT cơ sở, đầu tư kinh phí, trang thiết  
bị, cập nhật tài liệu nhằm đáp ứng nhu cầu của công tác phòng chống dịch cúm  
A/H1N1.  
26  
pdf 10 trang yennguyen 11800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hiệu quả truyền thông thay đổi hành vi rửa tay bằng xà phòng trong phòng chống cúm A tại xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, Ninh Bình, năm 2010", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_hieu_qua_truyen_thong_thay_doi_hanh_vi_rua_tay_bang.pdf