Hiệu quả hoạt động giảng dạy phòng chống sốt xuất huyết Dengue ở học sinh trường Tiểu học và Trung học cơ sở tỉnh An Giang

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY PHÒNG CHỐNG  
SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE Ở HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC  
VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ TỈNH AN GIANG  
Tạ Quốc Đạt*, Lâm Ngọc Báu*, Lê Thị Thảo Vi*  
TÓM TẮT  
Đặt vấn đề: Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh truyền nhiễm chưa có vắc xin dự phòng và thuốc đặc  
trị. Phòng chống SXHD dựa vào cộng đồng là giải pháp giúp huy động nguồn lực xã hội và mang tính chủ động  
cao. Học sinh có thể thực hiện tốt các hoạt động kiểm soát vector tại nhà và vận động các thành viên trong gia  
đình cùng tham gia. Do đó, một can thiệp đã được thực hiện thông qua việc giảng dạy cho học sinh tiểu học và  
trung học cơ sở.  
Mục tiêu: Xác định sự thay đổi về kiến thức, thực hành phòng chống bệnh SXHD của học sinh tiểu học và  
trung học cơ sở sau can thiệp.  
Phương pháp: Nghiên cứu can thiệp cộng đồng được thực hiện trên 184 học sinh tiểu học và trung học.  
Quá trình thực hiện gồm 3 giai đoạn: 1) Khảo sát trước can thiệp; 2) Triển khai hoạt động can thiệp: tập huấn cho  
giáo viên, cung cấp tài liệu giảng dạy, thực hiện giảng dạy cho học sinh và tổ chức hội thi; 3) Đánh giá sau can  
thiệp. Chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu cụm với cụm là khối lớp. Trong từng khối lớp, chọn mẫu theo  
phương pháp ngẫu nhiên hệ thống dựa theo thứ tự danh sách lớp. Học sinh được đánh giá kiến thức trước và sau  
can thiệp thông qua một bộ câu hỏi soạn sẵn. Dữ liệu được nhập bằng phần mềm Epidata và phân tích bằng phần  
mềm Stata.  
Kết quả: Có sự thay đổi về kiến thức và thực hành phòng chống bệnh SXHD ở học sinh tiểu học và  
trung học cơ sở sau can thiệp. Ở học sinh tiểu học: có sự gia tăng trong kiến thức nơi trú đậu muỗi vằn  
(79,9 – 95,7%), muỗi vằn đẻ trứng trong DCCN trong nhà (41,3 – 60%), ngủ mùng cả ngày đêm (64,7 –  
92,4%); có sự gia tăng trong thực hành bỏ muối vào chén chống kiến (56 – 74,5%), thu gom vật phế thải  
(82,6 – 91,3%). Ở học sinh trung học cơ sở: có sự gia tăng trong kiến thức cơ chế truyền bệnh của muỗi vằn  
(83,6 – 96,7%), dấu hiệu bệnh (74,3 – 85,5%); có sự gia tăng trong thực hành bỏ muối vào chén chống kiến  
(22,9 – 46,1%), thu gom vật phế thải (43,3 – 71,1%), đổ nước đọng khay hứng nước tủ lạnh (30 – 44,1%),  
ngủ mùng cả ngày đêm (68,8 – 84,2%).  
Kết luận: Hoạt động can thiệp giảng dạy phòng chống SXHD trong trường tiểu học và trung học cơ sở đã  
làm tăng kiến thức đúng và thực hành đúng trong phòng chống SXH của học sinh.  
Từ khóa: sốt xuất huyết Dengue, hoạt động giảng dạy, kiến thức, thực hành, học sinh  
ABSTRACT  
EFFECTIVE TEACHING DENGUE HAEMORRHAGIC FEVER PREVENTION  
IN PRIMARY AND SECONDARY SCHOOLS, AN GIANG PROVINCE  
Ta Quoc Dat, Lam Ngoc Bau, Le Thi Thao Vi  
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 – No. 5 - 2019: 546 - 554  
Background: Dengue haemorrhagic fever (DHF) is an infectious disease resulting unexpected outcomes;  
meanwhile, vaccine and specific treatment have been unavailable now. Community-based DHF prevention could  
*Viện Y tế công cộng TP. Hồ Chí Minh  
Tác giả liên lạc: ThS. Tạ Quốc Đạt  
ĐT: 0907959900  
Email: [email protected]g.vn  
546  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
be considered as a highly effective solution to mobilize social resources. Pupils are able to perform vector control  
activities well and encourage family members participating. Therefore, a communication intervention for primary  
and secondary pupils was carried out.  
Objectives: To determine the change in knowledge and practice of dengue prevention among primary and  
secondary pupils after intervention.  
Method: A community intervention trial among 184 pupils was conducted through 3 phases: 1) Survey  
before intervention; 2) Implementing intervention activities: training teachers, providing materials, teaching for  
students and organizing contest to learn DHF; 3) Evaluaing after intervention. Cluster sampling method was  
employed for sampling, the cluster was the grade. Then, pupils were selected by systematic sampling in each  
cluster. Samples were evaluated their knowledge before and after the intervention by the structure questionaire.  
Data was entered with Epidata software and then analyzed using Stata software.  
Results: Knowledge and practice of DHF prevention was increased among both primary and secondary  
pupils after intervention. Regarding the former, their understanding about mosquito was significant improved on  
mosquito shelter (79.9 – 95.7%), place of laying eggs (41.3 – 60%), using bed nets for all time (64.7 – 92.4%);  
there is an increase in practice of putting salt into miscellaneous containers (56 – 74.5%), collecting waste  
materials (82.6 – 91.3%). In terms of the latter, there is an increase in knowledge of DHF transmission  
mechanism (83.6 – 96.7%), sign of DHF (74.3 – 85.5%), practice of putting salt into miscellaneous containers  
(22.9 – 46.1%), collecting waste materials (43.3 – 71.1%), pouring the stagnant water off the drip tray of the  
refrigerator (30 – 44.1%), using bed nets for all day and night (68.8 – 84.2%).  
Conclusion: Intervention activities increased knowledge and practice toward DHF prevention for pupils.  
Key words: dengue hemorrhagic fever, teaching activities, knowledge, practice, studen  
hoạt động kiểm soát vector và có ảnh hưởng đến  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
phụ huynh trong việc thực hiện các biện pháp  
Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh  
phòng chống SXHD tại nhà. Một hoạt động  
truyền nhiễm vi rút cấp tính có khả năng gây tử  
giảng dạy về phòng chống SXHD cho học sinh  
vong cao nếu xảy ra biến chứng. SXHD chưa có  
lồng ghép vào các chương trình sinh hoạt ngoại  
vắc xin dự phòng và thuốc đặc trị. Theo WHO,  
khóa tại các điểm trường tiểu học và trung học  
ước tính có khoảng 128 quốc gia bị ảnh hưởng  
cơ sở xã Vĩnh Tường, huyện An Phú, tỉnh An  
bởi SXHD. Khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề  
Giang đã được thực hiện vào tháng 8 năm 2018.  
nhất là Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương  
Mục tiêu  
với số ca mắc gia tăng nhanh từ 1,2 triệu ca trong  
Xác định sự thay đổi về kiến thức, thực hành  
phòng chống bệnh SXHD của học sinh tiểu học  
và THCS xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, tỉnh  
An Giang sau can thiệp.  
năm 2008 lên hơn 3,34 triệu ca trong năm 2016  
và hiện đang tiếp tục gia tăng(4).  
Việt Nam là một trong những quốc gia đứng  
đầu khu vực Đông Nam Á về số mắc và tử vong  
do SXHD, trong đó phần lớn SXHD xảy ra ở các  
tỉnh phía Nam. Kiểm soát và ứng phó kịp thời  
với SXHD là vấn đề vô cùng quan trọng.  
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Nghiên cứu can thiệp cộng đồng. Quá trình  
thực hiện gồm 3 giai đoạn: 1) Khảo sát ban đầu  
trước khi can thiệp vào tháng 8/2018; 2) Triển  
khai hoạt động can thiệp: tập huấn cho giáo viên  
vào tháng 8/2018 (cung cấp giáo án giảng dạy  
cho khối học sinh tiểu học và khối trung học cơ  
sở, cung cấp tranh ảnh giảng dạy); thực hiện  
giảng dạy cho học sinh vào tháng 9-11/2018; tổ  
Xã hội hóa hoạt động phòng chống SXHD  
dựa vào cộng đồng giúp huy động nguồn lực  
sẵn có và mang tính chủ động cao. Đây cũng là  
giải pháp được ngành y tế rất quan tâm nhằm  
khống chế tỉ lệ mắc bệnh. Học sinh là lực lượng  
đông đảo trong xã hội có thể thực hiện tốt các  
547  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
chức hội thi tìm hiểu về SXH vào cuối tháng  
11/2018; 3) Đánh giá sau triển khai các hoạt động  
can thiệp vào tháng 12/2018.  
những thay đổi về kiến thức và thực hành  
phòng chống bệnh SXHD của học sinh.  
KẾT QUẢ  
Cỡ mẫu là 184 học sinh. Chọn mẫu cụm, các  
cụm là khối lớp 3, 4, 5 ở trường tiểu học và khối  
lớp 6, 7, 8 ở trường trung học cơ sở. Tổng số học  
sinh được chọn ở mỗi khối lớp căn cứ vào tỉ lệ  
học sinh của khối lớp đó. Ở mỗi khối lớp, chọn  
mẫu bằng phương pháp ngẫu nhiên hệ thống  
theo danh sách lớp. Thực hiện chọn ngẫu nhiên  
hệ thống 2 lần ở khảo sát đầu kỳ và cuối kỳ.  
Học sinh khối tiểu học  
Bảng 1: Đặc tính mẫu khảo sát ở học sinh tiểu học  
Cuối kỳ  
n (%)  
Đầu kỳ  
n (%)  
Nội dung  
Khối lớp  
42 (22,8)  
76 (41,3)  
66 (35,9)  
Giới tính  
78 (42,4)  
106 (57,6)  
Lớp 3  
Lớp 4  
Lớp 5  
52 (28,3)  
72 (39,1)  
60 (32,6)  
Thông tin được thu thập bằng 02 bộ câu hỏi  
tự điền: 01 bộ câu hỏi dành cho học sinh tiểu học  
và 01 bộ dành cho học sinh trung học cơ sở.  
Nam  
Nữ  
84 (45,7)  
100 (54,4)  
Tỷ lệ học sinh các khối 3-4-5 tham gia khảo  
sát phân phối khá đều ở 2 nhóm. Về giới, học  
sinh nữ chiếm đa số: khảo sát sau chiếm 57,6%,  
khảo sát đầu chiếm 54,4% (Bảng 1).  
Dữ liệu sau khi thu thập được nhập liệu  
bằng phần mềm Epidata và phân tích bằng phần  
mềm Stata. Số liệu được thống kê mô tả so sánh  
giữa cuộc khảo sát đầu kỳ và cuối kỳ để mô tả  
Bảng 2: Kiến thức đúng về đặc điểm muỗi vằn ở học sinh tiểu học  
Cuối kỳ  
n (%)  
Đầu kỳ  
n (%)  
Nội dung  
p
OR (KTC 95%)  
Muỗi vằn trú đậu chỗ mát và tối trong nhà  
176 (95,7) 147 (79,9) <0,001 5,54 (2,43-14,14)  
Muỗi vằn đẻ trứng  
165 (89,7) 150 (81,5)  
Nơi sinh sản muỗi vằn  
118 (64,1) 114 (62,0)  
0,03  
1,97 (1,04-3,81)  
Vật phế thải chứa nước đọng  
0,67  
1,1 (0,70-1,71)  
1,81 (1,17-2,79)  
1,83 (1,14-2,97)  
0,78 (0,5-1,2)  
DCCN trong nhà: chén chống kiến, bình hoa tươi, chén nước cúng 103 (60,0) 76 (41,3)  
0,005  
DCCN ngoài nhà: lu, mái, hồ, khạp  
Ao tù chứa nước thải  
141 (76,6) 118 (64,1) 0,009  
77 (42,1)  
25 (13,7)  
89 (50,9)  
45 (25,7)  
0,23  
Cống rãnh chứa nước thải  
0,008  
0,49 (0,27-0,86)  
Học sinh có kiến thức đúng về nơi trú đậu  
của muỗi vằn tăng sau can thiệp (OR=5,54 với  
KTC 95% 2,43-14,14). Kiến thức đúng về nơi  
muỗi vằn đẻ trứng cũng tăng so với ban đầu  
(OR=1,97 với KTC 95% 1,04-3,81). Tỉ lệ học sinh  
biết muỗi vằn sinh sản ở các dụng cụ chứa nước  
trong nhà tăng 1,81 lần (p=0,005) và ở các dụng  
cụ chứa nước ngoài nhà tăng 1,83 lần (p=0,009)  
so với đầu kỳ. Không có sự khác biệt trong hiểu  
biết muỗi có thể sinh sản ở vật phế thải chứa  
nước đọng giữa đầu và cuối kỳ. Ngoài ra, kiến  
thức chưa đúng về nơi sinh sản của muỗi cũng  
giảm sau can thiệp. Theo đó, tỉ lệ học sinh biết  
muỗi sinh sản trong cống rãnh chứa nước thải  
giảm 0,49 lần và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê  
(Bảng 2).  
Hiểu biết của học sinh về đối tượng mắc  
SXH là người lớn và trẻ em sau can thiệp tăng từ  
64,1% lên 84,2% (OR=2,87, KTC 95% 1,71-4,87).  
Tỉ lệ biết bệnh SXH không có thuốc đặc trị cũng  
tăng sau can thiệp (81,2% so với 46,2%)  
(OR=5,14, KTC 95% 3,13-8,5). Kết quả này cao  
hơn nghiên cứu tại huyện Cái Bè, Tiền Giang  
năm 2008, tỉ lệ học sinh biết bệnh SXH không có  
thuốc điều trị đặc hiệu sau can thiệp là 64,4%(2).  
Tỉ lệ biết SXH hiện chưa có vắc xin phòng bệnh  
tăng 1,97 lần so với đầu kỳ và sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê p=0,001. Nhận thức đúng về mức  
độ nguy hiểm của bệnh sẽ giúp học sinh chú ý  
và có trách nhiệm hơn trong việc phòng chống  
bệnh SXH. Ngoài ra, kiến thức đúng về cách  
phòng bệnh SXH cũng tăng sau can thiệp, cụ thể  
548  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
tăng 1,81 lần so với đầu kỳ với ý nghĩa thống kê  
p=0,005. Kết quả này tương đương với nghiên  
cứu trên nhóm học sinh trung học cơ sở tại xã  
Đồng Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long năm  
2015(1). Sau can thiệp, tỉ lệ học sinh biết cần ngủ  
mùng cả ngày lẫn đêm để tránh muỗi vằn chích  
tăng 6,63 lần so với ban đầu (p <0,001) (Bảng 3).  
Bảng 3: Kiến thức đúng về đặc điểm bệnh SXH ở học sinh tiểu học  
Cuối kỳ  
Đầu kỳ  
n (%)  
Nội dung  
n (%)  
p
OR (KTC 95%)  
Đối tượng mắc  
SXH không có thuốc đặc trị  
154 (84,2)  
150 (81,5)  
90 (48,9)  
118 (64,1)  
85 (46,2)  
60 (32,6)  
73 (39,7)  
119 (64,7)  
<0,001  
<0,001  
0,001  
2,87 (1,71-4,87)  
5,14 (3,13-8,5)  
1,97 (1,27-3,09)  
1,81 (1,17-2,8)  
6,63 (3,47-13,35)  
SXH chưa có vắc xin phòng bệnh  
Cách phòng bệnh SXH  
100 (54,4)  
170 (92,4)  
0,005  
Ngủ mùng cả ngày đêm tránh muỗi vằn chích  
<0,001  
Bảng 4: Thực hành phòng bệnh SXH ở học sinh tiểu học và gia đình  
Cuối kỳ  
Đầu kỳ  
n (%)  
Nội dung  
n (%)  
p
OR (KTC 95%)  
Học sinh thực hiện hoạt động DLQ vừa sức  
Thay nước bình bông  
Bỏ muối chén chống kiến  
Đổ bỏ chén nước cúng  
162 (88,0)  
137 (74,5)  
146 (79,4)  
168 (91,3)  
161 (87,5)  
158 (85,9)  
103 (56,0)  
131 (71,2)  
152 (82,6)  
125 (78,1)  
0,54  
<0,001  
0,07  
1,21 (0,63-2,34)  
2,29 (1,44-3,66)  
1,55 (0,94-2,59)  
2,21 (1,12-4,49)  
3,22 (1,6-6,75)  
Thu gom, loại bỏ vật phế thải  
Quan sát lăng quăng ở DCCN  
0,01  
<0,001  
Gia đình thực hiện hoạt động DLQ  
Súc rửa DCCN  
Đậy nắp DCCN  
Thả cá DCCN  
179 (97,3)  
166 (90,2)  
155 (84,2)  
165 (89,7)  
0,003  
0,12  
0,34  
4,12 (1,44-14,4)  
1,66 (0,84-3,31)  
1,3 (0,73-2,32)  
156 (84,8)  
148 (80,4)  
Sau khi được học về các biện pháp diệt lăng  
quăng tại trường, có sự thay đổi về thực hành  
diệt lăng quăng tại nhà của học sinh như: bỏ  
muối vào chén chống kiến tăng 2,29 lần (KTC  
95%: 1,44-3,66), thu gom loại bỏ vật phế thải tăng  
2,21 lần (KTC 95% 1,12-4,49), sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê với p <0,05. Có sự gia tăng trong  
thực hành đổ bỏ chén nước cúng và thay nước  
bình bông nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa  
thống kê. Các em cũng ý thức hơn trong việc  
thường xuyên quan sát lăng quăng ở dụng cụ  
chứa nước, tỉ lệ này tăng 3,22 lần so với đầu kỳ  
(KTC 95% 1,6-6,75, p <0,001). Đối với các hoạt  
động diệt lăng quăng của gia đình học sinh, sau  
khi được học ở trường học sinh đã có tác động  
đến phụ huynh trong việc phòng chống SXH.  
Cụ thể, tỉ lệ hộ gia đình học sinh thực hiện súc  
rửa dụng cụ chứa nước tăng 4,12 lần (KTC 95%:  
1,44-14,4, p=0,003). Có sự gia tăng trong thực  
hành đậy nắp kín và thả cá vào dụng cụ chứa  
nước nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống  
kê (Bảng 4).  
Học sinh khối trung học sơ sở  
Bảng 5: Đặc tính mẫu khảo sát ở học sinh THCS  
Cuối kỳ  
n (%)  
Đầu kỳ  
n (%)  
Nội dung  
Khối lớp  
Lớp 6  
Lớp 7  
Lớp 8  
58 (38,2)  
42 (27,6)  
52 (34,2)  
60 (42,9)  
41 (29,3)  
39 (27,9)  
Giới tính  
Nam  
Nữ  
78 (51,3)  
74 (48,7)  
72 (51,4)  
68 (48,6)  
Tỉ lệ học sinh các lớp 6-7-8 tham gia khảo sát  
phân bố khá đều ở hai nhóm. Tỉ lệ học sinh nữ  
và nam phân bố khá đồng đều ở cả hai lần khảo  
sát (Bảng 5).  
Đối với kiến thức về cơ chế muỗi truyền  
bệnh SXH, tỷ lệ học sinh có kiến thức đúng ở  
cuối kỳ tăng 5,78 lần so với đầu kỳ, với p <0,001.  
Tỉ lệ này cao hơn nghiên cứu trên nhóm người  
dân tại Bảo Vinh, Long Khánh, Đồng Nai và cao  
hơn nghiên cứu ở nhóm học sinh trung học cơ sở  
tại Đồng Phú, Long Hồ, Vĩnh Long(1,3). Có sự gia  
549  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
tăng nhẹ trong kiến thức về nơi trú đậu của  
muỗi vằn giữa 2 lần khảo sát nhưng sự khác biệt  
không có ý nghĩa thống kê. Hiểu biết của học  
sinh về nơi sinh sản của muỗi vằn tăng sau can  
thiệp: tỉ lệ biết muỗi sinh sản trong các dụng cụ  
chứa nước tăng 1,73 lần và trong các vật phế thải  
chứa nước đọng tăng 2,16 lần so với ban đầu, sự  
khác biệt có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, tỷ lệ có  
kiến thức chưa đúng về nơi sinh sản của muỗi  
cũng tăng: ao tù chứa nước thải tăng 2,18 lần so  
với khảo sát đầu (với p=0,001); cống rãnh chứa  
nước thải tăng 2,35 lần so với khảo sát đầu (với  
p<0,001) (Bảng 6).  
Bảng 6: Kiến thức đúng về đặc điểm muỗi vằn ở học sinh THCS  
Cuối kỳ  
Đầu kỳ  
n (%)  
OR  
(KTC 95%)  
Nội dung  
p
n (%)  
Muỗi vằn truyền SXH từ người bệnh sang người lành  
Muỗi vằn trú đậu trong nhà  
147 (96,7)  
130 (85,5)  
117 (83,6)  
108 (77,1)  
<0,001  
0,07  
5,78 (2,05-19,95)  
1,75 (0,92-3,36)  
Nơi sinh sản muỗi vằn  
121 (79,6)  
Dụng cụ chứa nước  
Vật phế thải chứa nước đọng  
Ao tù chứa nước thải  
97 (69,3)  
107 (76,4)  
72 (51,4)  
41 (29,3)  
0,04  
0,01  
1,73 (1,0-3,06)  
2,16 (1,12-4,25)  
2,18 (1,31-3,62)  
2,35 (1,41-3,93)  
133 (87,5)  
106 (69,7)  
0,001  
<0,001  
Cống rãnh chứa nước thải  
75 (49,3)  
Bảng 7: Kiến thức đúng về đặc điểm bệnh SXH ở học sinh THCS  
Cuối kỳ  
n (%)  
Đầu kỳ  
n (%)  
Nội dung  
p
OR (KTC 95%)  
Đối tượng mắc  
Số lần mắc trong đời  
Dấu hiệu bệnh  
143 (94,1)  
119 (78,3)  
130 (85,5)  
123 (87,9)  
96 (68,6)  
104 (74,3)  
0,06  
0,06  
0,02  
2,19 (0,89-5,79)  
1,65 (0,95-2,9)  
2,05 (1,09-3,88)  
SXH nguy hiểm vì  
SXH không có thuốc đặc trị  
SXH chưa có vắc xin phòng bệnh  
SXH có thể gây chết người  
98 (64,5)  
80 (52,6)  
141 (92,8)  
88 (57,9)  
115 (75,7)  
91 (59,9)  
63 (46,0)  
45 (32,9)  
111 (81,0)  
73 (53,3)  
108 (77,1)  
71 (50,4)  
0,001  
<0,001  
0,001  
0,32  
2,22 (1,35-3,65)  
2,35 (1,42-3,89)  
3,35 (1,54-7,74)  
1,26 (0,77-2,06)  
0,92 (0,52-1,64)  
1,47 (0,9-2,4)  
SXH có thể lây cho nhiều người  
SXH xảy ra nhiều nhất vào mùa mưa  
Cách phòng bệnh SXH  
0,77  
0,1  
phòng bệnh tăng 2,35 lần (KTC 95% 1,42-3,89);  
SXH có thể gây chết người tăng 3,35 lần (KTC  
95% 1,54-7,74,). Trong đó kiến thức SXH nguy  
hiểm vì có thể lây cho nhiều người ở khảo sát  
sau và trước không có sự thay đổi nhiều. Không  
có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê ở kiến thức  
mùa xảy ra SXH nhiều nhất và ở kiến thức cách  
phòng bệnh SXH (Bảng 7).  
Có sự gia tăng ở kiến thức của học sinh về  
đối tượng mắc bệnh và số lần mắc bệnh sau can  
thiệp, nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa  
thống kê. Sau khi được thầy cô giáo giảng dạy, tỉ  
lệ học sinh có kiến thức đúng về dấu hiệu bệnh  
SXH tăng 2,05 lần so với khảo sát đầu (p=0,02).  
Kết quả này tương đồng với nghiên cứu trên  
nhóm học sinh trung học cơ sở tại Vĩnh Long  
nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Vesga-  
Gómez với tỉ lệ học sinh trả lời đúng dấu hiệu  
bệnh tăng 7,6 lần(1,4). Tỉ lệ học sinh biết triệu  
chứng cơ bản của SXH sau can thiệp là 85,5%  
thấp hơn nghiên cứu tại Cái Bè, Tiền Giang năm  
2009 là 92,7%(2). Kết quả nghiên cứu cho thấy  
kiến thức về sự nguy hiểm của SXH tăng sau can  
thiệp như SXH không có thuốc đặc trị tăng 2,22  
lần (KTC 95% 1,35-3,65); SXH chưa có vắc xin  
Kết quả khảo sát cho thấy kiến thức chung  
đúng về biện pháp diệt lăng quăng của học sinh  
tăng 2,83 lần (với KTC 95% 1,69-4,74, p <0,001).  
Đối với từng biện pháp diệt lăng quăng, có sự  
gia tăng đáng kể trong hiểu biết của học sinh sau  
can thiệp: biện pháp đậy nắp kín tăng 2,57 lần,  
biện pháp thả cá tăng 2,52 lần, biện pháp súc rửa  
tăng 2,14 lần, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê  
với p <0,05. Với biện pháp thu gom, loại bỏ vật  
550  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
phế thải, có sự gia tăng trong kiến thức ở học  
sinh tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa  
thống kê. Có sự gia tăng trong hiểu biết của học  
sinh về cách súc rửa dụng cụ chứa nước đúng và  
cách đậy nắp kín đúng so với khảo sát đầu, sự  
khác biệt có ý nghĩa thống kê (Bảng 8).  
Bảng 8: Kiến thức đúng về biện pháp phòng bệnh SXH ở học sinh THCS  
Cuối kỳ  
n (%)  
Đầu kỳ  
n (%)  
Nội dung  
p
OR (KTC 95%)  
Kiến thức chung về biện pháp DLQ  
Đậy nắp kín DCCN  
111 (73,0)  
129 (84,9)  
138 (90,8)  
132 (86,8)  
141 (92,8)  
119 (78,3)  
137 (90,1)  
69 (48,9)  
96 (68,6)  
115 (82,1)  
110 (78,6)  
117 (83,6)  
94 (66,7)  
112 (80,0)  
<0,001  
0,001  
0,03  
2,83 (1,69-4,74)  
2,57 (1,41-4,77)  
2,14 (1,01-4,67)  
1,8 (0,93-3,54)  
2,52 (1,12-5,96)  
1,8 (1,04-3,15)  
2,28 (1,11-4,83)  
Súc rửa DCCN  
Thu gom, loại bỏ vật phế thải  
Thả cá DCCN  
0,06  
0,01  
Cách súc rửa DCCN đúng  
Cách đậy nắp kín đúng  
0,03  
0,02  
Bảng 9: Thực hành phòng bệnh SXH ở học sinh THCS và gia đình  
Cuối kỳ  
Đầu kỳ  
n (%)  
OR  
(KTC 95%)  
Nội dung  
n (%)  
p
Học sinh thực hiện hoạt động DLQ vừa sức  
Bỏ muối chén nước chống kiến  
Đổ nước đọng khay hứng nước tủ lạnh  
Thay nước bình bông  
70 (46,1)  
67 (44,1)  
107 (70,4)  
108 (71,1)  
32 (22,9)  
42 (30,0)  
84 (60,0)  
61 (43,3)  
<0,001  
0,01  
2,88 (1,69-4,96)  
1,84 (1,1-3,07)  
1,58 (0,95-2,65)  
1,9 (1-3,63)  
0,06  
Thu gom, loại bỏ vật phế thải  
Học sinh chống muỗi đốt  
0,04  
Thoa kem chống muỗi  
105 (69,1)  
117 (77,0)  
128 (84,2)  
77 (55,0)  
88 (62,9)  
97 (68,8)  
0,01  
0,008  
0,003  
1,83 (1,1-3,04)  
1,98 (1,15-3,4)  
2,45 (1,31-4,67)  
Dùng thuốc xịt muỗi  
Ngủ mùng cả ngày lẫn đêm  
Gia đình thực hiện hoạt động DLQ  
Thả cá DCCN  
Súc rửa DCCN  
110 (74,3)  
123 (83,1)  
132 (89,2)  
27 (18,2)  
84 (56,8)  
67 (45,3)  
73 (57,9)  
0,004  
0,82  
0,16  
0,007  
0,04  
0,04  
2,1 (1,22-3,62)  
0,93 (0,46-1,85)  
1,65 (0,78-3,56)  
2,9 (1,25-7,29)  
1,64 (1-2,72)  
106 (84,1)  
105 (83,3)  
9 (7,1)  
Đậy nắp kín DCCN  
Nắp xi măng  
Nắp nhôm  
56 (44,4)  
42 (33,3)  
Đậy kín bằng miếng nilong và ràng dây  
1,65 (1-2,79)  
mùng cả ngày lẫn đêm, dùng thuốc xịt muỗi và  
thoa kem chống muỗi. Thực hành ngủ mùng cả  
ngày lẫn đêm tăng 2,45 lần (KTC 95% 1,31-4,67,  
p=0,003) so với đầu kỳ, kết quả này tương đương  
với nghiên cứu tại Long Hồ, Vĩnh Long năm  
2015(1). Tỉ lệ học sinh dùng kem chống muỗi tăng  
1,83 lần, thuốc xịt muỗi để chống muỗi đốt tăng  
1,98 lần so với khảo sát ban đầu. Sự khác biệt có  
ý nghĩa thống kê giữa hai lần khảo sát.  
Nhìn chung, tỷ lệ học sinh thực hành các  
hoạt động diệt lăng quăng phòng bệnh SXH ở  
cuối kỳ có tăng so với đầu kỳ. Trong đó, tỷ lệ học  
sinh thực hành bỏ muối chén nước chống kiến  
tăng 2,88 lần so với ban đầu (KTC 95% 1,69-4,96,  
p <0,001); tỉ lệ học sinh đổ nước đọng khay hứng  
nước tủ lạnh tăng 1,84 lần so với ban đầu (KTC  
95% 1,1-3,07, p=0,01); tỉ lệ học sinh thực hiện thu  
gom, loại bỏ vật phế thải tăng 1,9 lần so với ban  
đầu (KTC 95% 1-3,63, p=0,04). Có sự thay đổi ở  
hoạt động thay nước bình bông hai hay ba ngày  
một tuần (70,4% so với 60%) nhưng sự khác biệt  
không có ý nghĩa thống kê (Bảng 9).  
Đối với hoạt động diệt lăng quăng ở gia đình  
học sinh, kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ gia đình  
học sinh có thả cá vào các dụng cụ chứa nước  
tăng 2,1 lần (KTC 95% 1,22-3,62). Tuy nhiên,  
chưa thấy có sự thay đổi rõ ràng trong hoạt động  
súc rửa và đậy nắp dụng cụ chứa nước. Riêng ở  
Tỷ lệ học sinh thực hành chống muỗi đốt  
phòng bệnh SXH tăng ở các biện pháp: ngủ  
551  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
hoạt động đậy nắp kín dụng cụ chứa nước, gia  
đình học sinh đã có sự thay đổi trong việc lựa  
chọn các loại nắp đậy đủ tiêu chuẩn kín như:  
nắp xi măng (sau can thiệp tăng 2,9 lần), nắp  
nhôm (sau can thiệp tăng 1,64 lần) và đậy bằng  
miếng nilong có ràng dây (tăng 1,65 lần sau can  
thiệp), những sự khác biệt này đều có ý nghĩa  
thống kê.  
cơ bản của chương trình giảng dạy phòng chống  
SXH trong trường học, vì vấn đề cốt lõi của  
phòng chống SXH là kiểm soát được lăng quăng.  
Để học sinh thực hiện được điều này, các em cần  
phải nắm vững được các biện pháp diệt lăng  
quăng tương ứng với từng loại vật chứa nước.  
Vì vậy, kiến thức này đã được chú trọng trong  
chương trình giảng dạy SXH tại trường học. Sau  
khi được học tại trường, hiểu biết của học sinh  
trung học cơ sở có sự gia tăng đáng kể, cụ thể:  
biện pháp đậy nắp kín tăng 2,57 lần, biện pháp  
thả cá tăng 2,52 lần, biện pháp súc rửa tăng 2,14  
lần, bỏ muối chén nước chống kiến tăng 2,88 lần,  
đổ nước đọng khay hứng nước tủ lạnh tăng 1,84  
lần, thu gom loại bỏ vật phế thải tăng 1,9 lần và  
những sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê  
(Bảng 8 và Bảng 9). Nắm vững kiến thức về các  
biện pháp diệt lăng quăng cụ thể cho từng vật  
chứa nước sẽ giúp học sinh có cơ sở để thực  
hành đúng các biện pháp phòng bệnh SXH.  
BÀN LUẬN  
Hiểu biết của học sinh về sự nguy hiểm của  
bệnh SXH ở cả hai khối tiểu học và trung học cơ  
sở đều có sự gia tăng ở cuối kỳ. Tỉ lệ học sinh  
tiểu học biết bệnh SXH không có thuốc đặc trị  
tăng sau can thiệp (81,2% so với 46,2%) (Bảng 3),  
kết quả cao hơn nghiên cứu tại huyện Cái Bè,  
Tiền Giang năm 2008: tỉ lệ học sinh có hiểu biết  
về kiến thức này là 64,4%(2). Tỉ lệ học sinh trung  
học cơ sở biết bệnh SXH không có thuốc điều trị  
đặc hiệu cũng tăng sau can thiệp, từ 46% lên  
64,5% (Bảng 7), tương đương với nghiên cứu  
trên nhóm học sinh trung học cơ sở ở Cái Bè,  
Tiền Giang(2). Ngoài ra, đối với nhóm học sinh  
trung học cơ sở, tỉ lệ biết SXH có thể gây chết  
người và chưa có vắc xin phòng có sự gia tăng so  
với đầu kỳ, trong khi đó kiến thức SXH có thể  
lây cho nhiều người không có sự thay đổi ở hai  
lần khảo sát (Bảng 7). Nhận thức đúng về mức  
độ nguy hiểm của bệnh sẽ giúp học sinh chú ý  
và có trách nhiệm hơn trong việc phòng chống  
bệnh. Do đó, khi giảng dạy giáo viên cần nhấn  
mạnh cho học sinh về mức độ nguy hiểm của  
bệnh SXH (đặc biệt là kiến thức SXH có thể lây  
lan nhanh cho nhiều người). Đây có thể là khởi  
đầu để học sinh có sự quan tâm cần thiết về  
bệnh, từ đó ý thức hơn trong việc chủ động thực  
hành các biện pháp phòng chống SXH cho bản  
thân và gia đình.  
Về kiến thức nơi sinh sản của muỗi vằn ở  
nhóm học sinh trung học cơ sở, các em còn  
nhầm lẫn muỗi vằn sinh sản ở ao tù, cống rãnh  
chứa nước thải (Bảng 6). Trong khi đó, cũng ở  
kiến thức này, đối với học sinh tiểu học, sự nhầm  
lẫn chỉ xảy ra ở ao tù chứa nước thải và kiến thức  
muỗi vằn sinh sản ở cống rãnh chứa nước thải  
giảm sau can thiệp (Bảng 2). Do đó, trong quá  
trình giảng dạy, giáo viên cần nhấn mạnh kiến  
thức này để tránh sự nhầm lẫn ở học sinh.  
Đối với kiến thức về cơ chế truyền bệnh  
SXH, tỉ lệ học sinh trung học cơ sở biết cơ chế  
truyền bệnh SXH của muỗi vằn là muỗi hút máu  
người bệnh truyền sang người lành tăng 5,78 lần  
so với đầu kỳ, với p <0,001 (Bảng 6). Tỉ lệ này cao  
hơn nghiên cứu trên nhóm người dân tại Bảo  
Vinh, Long Khánh, Đồng Nai và cao hơn nghiên  
cứu ở nhóm học sinh trung học cơ sở tại Đồng  
Phú, Long Hồ, Vĩnh Long(1,3).  
Kết quả khảo sát cho thấy kiến thức đúng về  
cách phòng bệnh SXH của học sinh tiểu học tăng  
1,81 lần so với đầu kỳ (p=0,005) (Bảng 2), kết quả  
này tương đương với nghiên cứu trên nhóm học  
sinh trung học cơ sở tại xã Đồng Phú, huyện  
Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long năm 2015(1).  
Sau khi được thầy cô giáo giảng dạy, tỉ lệ học  
sinh trung học cơ sở có kiến thức đúng về dấu  
hiệu bệnh SXH tăng 2,05 lần so với khảo sát đầu  
(p=0,02) (Bảng 7). Kết quả này tương đồng với  
nghiên cứu trên nhóm học sinh trung học cơ sở  
Các biện pháp diệt lăng quăng là nội dung  
552  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
tại Vĩnh Long nhưng thấp hơn so với nghiên cứu  
của Vesga-Gómez với tỉ lệ học sinh trả lời đúng  
dấu hiệu bệnh tăng 7,6 lần(1,4).  
tỉnh An Giang, tỉ lệ học sinh có kiến thức đúng  
và thực hành đúng trong phòng chống SXH tăng  
có ý nghĩa thống kê so với trước can thiệp.  
Tỉ lệ học sinh trung học cơ sở biết triệu  
chứng cơ bản của SXH sau can thiệp là 85,5%  
(Bảng 7), thấp hơn so với nghiên cứu tại Cái Bè,  
Tiền Giang năm 2009 là 92,7% và nghiên cứu tại  
Long Hồ, Vĩnh Long năm 2015 là 91,7%(1,2).  
Điểm mạnh của hoạt động  
Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban Giám Hiệu  
nhà trường quan tâm và tạo điều kiện để giáo  
viên thực hiện tốt công tác giảng dạy.  
Giáo viên nhiệt tình giảng dạy, truyền thụ  
kiến thức đầy đủ, kịp thời đúng kế hoạch.  
Về thực hành ngủ mùng cả ngày lẫn đêm,  
sau can thiệp tỉ lệ học sinh trung học cơ sở có  
thực hành biện pháp này để phòng bệnh SXH  
tăng 2,45 lần so với trước can thiệp (p=0,003)  
(Bảng 9), kết quả này tương đương với nghiên  
cứu tại Long Hồ, Vĩnh Long năm 2015(1).  
Giáo viên được tập huấn trước khi giảng  
dạy, được cung cấp giáo án đã biên soạn sẵn nội  
dung bài học cụ thể, được cung cấp tranh ảnh  
cho việc giảng dạy.  
Đây là vấn đề sức khỏe gần gũi nên thu hút  
được sự quan tâm của học sinh.  
Đối với hoạt động diệt lăng quăng ở gia đình  
học sinh khối trung học cơ sở, tỉ lệ học sinh có  
thả cá vào dụng cụ chứa nước tăng sau can thiệp  
(p=0,004) nhưng chưa có sự gia tăng rõ ràng  
trong thực hành súc rửa và đậy nắp dụng cụ  
chứa nước (Bảng 9). Tuy vậy, kết quả khảo sát  
còn cho thấy gia đình học sinh đã có sự thay đổi  
trong việc lựa chọn chất liệu các loại nắp đậy đủ  
tiêu chuẩn kín, việc sử dụng các loại nắp đậy  
như: nắp xi măng, nắp nhôm, đậy bằng miếng  
nilong có ràng dây tăng sau can thiệp và sự khác  
biệt có ý nghĩa thống kê (Bảng 9). Xã Vĩnh  
Trường, huyện An Phú, tỉnh An Giang là xã  
vùng ven giáp ranh biên giới Campuchia. Đa số  
người lớn và thanh niên trong tuổi lao động đều  
đi làm ăn xa tại các khu công nghiệp Bình  
Dương, Đồng Nai, chỉ còn người già ở nhà và trẻ  
em ở lại địa phương để đi học. Ông bà tuổi già  
yếu nên việc thực hiện súc rửa dụng cụ chứa  
nước thường xuyên cũng là điều khó khăn, bên  
cạnh đó học sinh ở độ tuổi cấp hai chưa phát  
triển thể chất toàn diện nên việc súc rửa cũng  
khó thực hiện được. Đây có thể là lý do của sự  
thay đổi tập trung vào các hoạt động vừa sức  
như thả cá và đậy nắp kín dụng cụ chứa nước.  
Cuộc thi tìm hiểu về SXH thu hút được sự  
tham gia của học sinh, là sân chơi để các em sinh  
hoạt và thi đua với nhau.  
Điểm hạn chế của hoạt động  
Việc sắp xếp lịch giảng dạy cho học sinh khối  
trung học cơ sở còn gặp khó khăn vì hiện nay  
nhiều chương trình được triển khai lồng ghép  
vào trường học.  
Tranh ảnh minh họa, tài liệu truyền thông  
phục vụ công tác giảng dạy chưa đầy đủ cho  
từng bài học.  
Đa số người dân trong độ tuổi lao động đi  
làm ăn xa, chỉ còn trẻ em và người già sinh  
sống trên địa bàn nên việc vận động thực hiện  
diệt lăng quăng phòng chống SXH tại nhà còn  
hạn chế, đặc biệt những hộ có học sinh khối  
lớp tiểu học.  
Chưa tổ chức được các hoạt động theo dõi  
giám sát của nhà trường trong việc phòng chống  
SXH tại nhà của học sinh.  
ĐỀ XUẤT  
Ngành y tế, giáo dục và các ban ngành đoàn  
thể phối hợp với nhau để tổ chức các hoạt động  
theo dõi giám sát việc thực hiện phòng chống  
SXH tại nhà của học sinh.  
KẾT LUẬN  
Sau khi triển khai hoạt động can thiệp truyền  
thông lồng ghép giảng dạy SXH vào trong  
trường học tại xã Vĩnh Trường, huyện An Phú,  
Trung tâm TT-GDSK, Trung tâm Y tế huyện  
hỗ trợ thêm các tài liệu truyền thông nhằm phục  
553  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
khai dự án can thiệp tại trường trung học cơ sở Tân Hưng  
vụ công tác giảng dạy SXH trong trường học.  
huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang, 2009. Y học TP. Hồ Chí Minh, 14:1-6.  
3. Nguyễn Văn Tới (2010). Hiệu quả truyền thông trong thay đổi  
kiến thức – thực hành của người dân về phòng chống Sốt xuất  
huyết tại Bảo Vinh, Long Khánh, Đồng Nai năm 2009. Y học TP.  
Hồ Chí Minh, 14: 48-53.  
Ban Giám Hiệu nhà trường và giáo viên  
quan tâm hơn nữa và thường xuyên nhắc nhở  
học sinh thực hành các hoạt động phòng chống  
SXH tại nhà.  
4. Vesga-Goszszsmez C, Cáceres-Manrique FM (2010). The  
efficacy of play-based education in preventing dengue in  
primary-school children. Revista Salud Pública, 12(4):558-569.  
5. WHO (2016). Dengue and severe dengue. URL:  
and-severe-dengue.  
Tiếp tục duy trì hoạt động giảng dạy và tổ  
chức hội thi tìm hiểu về SXH trong những năm  
sắp tới.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Lâm Ngọc Báu (2016). Hiệu quả hoạt động can thiệp về truyền  
thông phòng chống SXHD cho học sinh tại trường THCS Đồng  
Phú huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long 2015. Y học TP. Hồ Chí  
Minh, 20):31-37.  
Ngày nhận bài báo:  
15/08/2019  
31/08/2019  
15/10/2019  
Ngày phản biện nhận xét bài báo:  
Ngày bài báo được đăng:  
2. Nguyễn Lâm (2010). Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành  
phòng chống Sốt xuất huyết của học sinh trước và sau khi triển  
554  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
pdf 9 trang yennguyen 12540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả hoạt động giảng dạy phòng chống sốt xuất huyết Dengue ở học sinh trường Tiểu học và Trung học cơ sở tỉnh An Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_hoat_dong_giang_day_phong_chong_sot_xuat_huyet_deng.pdf