Đánh giá kiến thức thái độ thực hành của người dân tỉnh Thái Bình về bệnh không lây nhiễm năm 2013

ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC THÁI ĐỘ THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN  
TỈNH THÁI BÌNH VỀ BỆNH KHÔNG LÂY NHIỄM NĂM 2013  
Giang Văn Hào, Nhâm Thúy Liễu  
Trung tâm truyền thông GDSK Thái Bình  
Tóm tắt nghiên cứu  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành từ tháng 4 đến tháng 12 năm 2013 trên 210  
người dân tuổi 35-65 tại Thái Bình nhằm đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực  
hành phòng chống các bệnh không lây nhiễm của người dân. Kết quả nghiên cứu cho  
kiến thức của đối tượng nghiên cứu về các nội dung của bệnh đái tháo đường ở mức kém  
luôn chiếm tỷ lệ cao từ 81,4% đến 92,8%. Có 42,7 % đồng ý với ý kiến đái tháo  
đường là bệnh nguy hiểm; 59,2% đồng ý với ý kiến thay đổi thói quen sinh hoạt, làm  
việc, chế độ ăn uống có tác dụng điều trị đái tháo đường. Tỷ lệ có kiến thức kém về các  
nội dung của tăng huyết áp chiếm tỷ lệ rất cao từ 61,7% đến 75,2%; 52,5% đồng ý với ý  
kiến tăng huyết áp nguy hiểm đối với sức khỏe. Tỷ lệ kiến thức về các nội dung của  
bệnh ung thư ở mức kém rất cao, từ 95,3% đến 96,7%; 98,8 % đồng ý với ý kiến ung  
thư là bệnh nguy hiểm, 95,6 % đồng ý với ý kiến phòng chống bệnh ung thư là trách  
nhiệm của toàn cộng đồng. Trên 91% đối tượng có kiến thức kém về bệnh phổi tắc  
nghẽn mạn tính; 5,4% đồng ý với nhận định bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh nguy  
hiểm đối với sức khỏe. Có tới 71,8% đối tượng không tập thể dục.  
1. Đặt vấn đề  
Những thói quen xấu như: Hút thuốc lá, uống rượu, ăn uống không hợp lý, ít vận  
động thể lực, áp lực công việc,... đang gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người. Đây  
là những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ mắc các bệnh không lây nhiễm (tim mạch, tiểu  
đường, ung thư, bệnh phổi mạn tính, tâm thần,...) gia tăng. Theo tổ chức Y tế Thế giới  
(WHO), mỗi năm Việt Nam có hơn 350.000 ca tử vong do các bệnh không lây nhiễm,  
trong đó tử vong do các bệnh tim mạch là 70.000 ca, ung thư 66.000 ca, đái tháo đường  
13.000 ca…Tại Thái Bình, mặc dù chưa có số liệu thống kê nhưng theo báo cáo của  
Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, trung bình mỗi tháng, đơn vị tư vấn cho gần 200 người  
tiền đái tháo đường (có nguy cơ cao chuyển sang đái tháo đường). Tại Bệnh viện Đa  
khoa tỉnh đang quản lý, điều trị ngoại trú hơn 600 trường hợp mắc bệnh tiểu đường. Số  
người bị tăng huyết áp ngày càng gia tăng, số bệnh nhân mắc bệnh ung thư xuất hiện  
ngày càng nhiều. Bệnh viện Đa khoa tỉnh, có khoảng 160 bệnh nhân ung thư nằm điều  
trị.  
Các bệnh không lây nhiễm đứng vị trí hàng đầu trong những bệnh có tỷ lệ tử vong  
cao nhất trên thế giới. Nhiều người phát hiện ra bệnh ở giai đoạn nghiêm trọng nên khó  
điều trị và rất tốn kém.  
Nguyên nhân của tình trạng trên là do người dân chưa có kiến thức đầy đủ về  
nguyên nhân, nguy cơ mắc bệnh cũng như cách phòng chống các bệnh không lây  
nhiễm. Để đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống các bệnh  
158  
không lây nhiễm của cộng đồng và đề xuất các chiến lược truyền thông nâng cao  
nhận thức, kỹ năng thực hành phòng chống bệnh không lây nhiễm một cách có hiệu  
quả cho người dân tỉnh Thái Bình, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu:  
“Đánh giá kiến thức thái độ thực hành của người dân tỉnh Thái Bình về các bệnh  
không lây nhiễm năm 2013”.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống các bệnh không lây  
nhiễm của người dân tỉnh Thái Bình.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Thiết kế nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang  
3.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu.  
Thời gian: Từ tháng 4 – 12/2013  
Địa điểm: tỉnh Thái Bình  
-
-
3.3. Đối tượng nghiên cứu  
Người dân trong độ tuổi từ 35 - 65 tuổi hiện đang sinh sống tại Thái Bình  
3.4. Chọn mẫu  
-
Cỡ mẫu  
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu:  
P(1- P)  
n = Z2(1- α/2)  
d
2  
Trong đó:  
n: Cỡ mẫu điều tra  
Z2(1- α /2): Độ tin cậy 95%, Z2(1- α /2) = 1,96  
P: Tỷ lệ người dân có về kiến thức về phòng chống BKLN xác định của nghiên cứu  
Chúng tôi tăng số mẫu lên 7%. Như vậy cỡ mẫu nghiên cứu là 210 người.  
- Phương pháp chọn mẫu: Phương pháp ngẫu nhiên đơn  
+ Chọn hộ đầu tiên: lập danh sách, đánh số thứ tự toàn bộ các hộ có đối tượng  
trong độ tuổi nghiên cứu, chọn hộ đầu tiên theo bảng số ngẫu nhiên.  
+ Chọn đối tượng phỏng vấn: Đối tượng là người dân trong độ tuổi từ 35- 65  
trong hộ.  
+ Sử dụng phương pháp “cổng liền cổng” để chọn đối tượng phỏng vấn tiếp theo.  
3.5. Phương pháp thu thập số liệu  
Thu thập số liệu bằng bộ câu hỏi phỏng vấn  
159  
3.6. Xử lꢀ số liệu: Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 14.0.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Thông tin chung  
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 210 đối tượng, trong đó tỷ lệ nam và nữ lần  
lượt là 47,6% và 52,4%. Số người có trình độ trung học phổ thông chiếm tỷ lệ 35,3%, có  
42,4% ở trình độ trung học cơ sở và 22,3% có trình độ tiểu học.  
Bảng 1: Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu  
Nghề nghiệp  
Tần số  
Tỷ lệ (%)  
43,8  
Nông dân  
92  
22  
75  
2
Công nhân  
10,5  
Buôn bán, lao động tự do  
Cán bộ văn phòng  
Nội trợ  
35,7  
0,95  
4
1,9  
Nghỉ hưu  
15  
7,15  
Đối tượng là cán bộ văn phòng và nội trợ chiếm tỷ lệ thấp nhất là 0,95% và  
1,9%. Đa số người trong nghiên cứu là nông dân và buôn bán, lao động tự do, với tỷ lệ  
lần lượt là 43,8% và 35,7%.  
4.2. Kiến thức, thái độ của đối tượng nghiên cứu về bệnh không lây nhiễm  
-
Kiến thức về bệnh đái tháo đường  
Bảng 2: Kiến thức về phòng bệnh đái tháo đường  
Kém Trung bình Khá  
Tỷ lệ  
Tốt  
Kiến thức  
Tần  
Tỷ lệ  
Tần  
số  
Tỷ lệ  
Tần  
số  
Tần  
số  
Tỷ lệ  
số  
(%)  
(%)  
(%)  
5,3  
6,3  
4,2  
4,4  
(%)  
Khái niệm  
173  
171  
181  
188  
82,3  
81,4  
86,2  
89,5  
22  
22  
16  
9
10,5  
10,4  
7,7  
11  
12  
9
4
4
4
4
1,9  
1,9  
1,9  
1,9  
Triệu chứng  
Các biến chứng  
Yếu tố nguy cơ  
4,2  
9
Các biện pháp  
phòng chống  
193  
91,9  
8
3,8  
5
2,4  
4
1,9  
Bảng trên cho thấy, kiến thức của đối tượng nghiên cứu về khái niệm, triệu chứng,  
các biến chứng, các yếu tố nguy cơ, các biện pháp phòng chống bệnh đái tháo đường ở  
mức kém chiếm tỷ lệ cao, lần lượt là 82,3%, 81,4%, 86,2%, 89,5%, 91,9%; kiến thức về  
các nội dung trên đạt ở mức tốt chiếm tỷ lệ rất thấp, đều là 1,9 %.  
160  
Bảng 3: Kiến thức về các biện pháp điều trị bệnh đái tháo đường  
Kém Trung bình Khá Tốt  
Tần Tỷ lệ Tần Tỷ lệ Tần Tỷ lệ Tần Tỷ lệ  
Kiến thức  
số  
(%)  
số  
(%)  
số  
(%)  
số  
(%)  
Điều trị bằng thuốc  
195  
92,8  
6
3,0  
5
2,3  
4
1,9  
Điều trị bằng dinh  
dưỡng hợp lý  
167  
190  
79,7  
90,5  
24  
9
11,3  
4,2  
15  
7
7,1  
3,4  
4
4
1,9  
1,9  
Điều trị bằng luyện  
tập thể lực  
Số đối tượng có kiến thức kém về điều trị bệnh đái tháo đường bằng thuốc chiếm  
92,8%, bằng dinh dưỡng hợp lý chiếm 79,7%, bằng luyện tập thể lực thường xuyên  
chiếm 90,5%. Tỷ lệ có kiến thức trung bình, khá, tốt về đều trị bệnh đái tháo đường rất  
thấp.  
-
Thái độ về bệnh đái tháo đường  
Bảng 4: Các nội dung liên quan đến bệnh đái tháo đường  
Không Không  
Đồng ý  
đồng ý  
ý kiến  
Nội dung  
Tỷ lệ (%)  
Là bệnh nguy hiểm đối với sức khỏe  
Lo sợ nếu bị chẩn đoán mắc bệnh  
42,7  
41,9  
0,9  
2,4  
56,4  
55,7  
Phòng chống bệnh là trách nhiệm của toàn cộng  
đồng  
43,3  
1,1  
55,6  
Việc điều trị là không cần thiết  
9,5  
58,7  
55,3  
31,8  
33,3  
Phòng bệnh quan trọng nhất là dùng thuốc  
11,2  
Thay đổi thói quen sinh hoạt, làm việc, chế độ ăn  
không có tác dụng điều trị bệnh  
28,6  
59,2  
12,2  
Có 42,7 % đồng ý khi cho rằng đái tháo đường là bệnh nguy hiểm đối với sức khỏe  
và cuộc sống. Tỷ lệ này thấp hơn so với tỷ lệ chung của cả nước là 91,6%. Tỷ lệ đồng ý  
với ý kiến cảm thấy lo sợ nếu bị chẩn đoán mắc bệnh đái tháo đường là 41,9%, thấp  
hơn so với tỷ lệ chung của cả nước (80,8%). Có 43,3% đồng ý phòng chống đái  
tháo đường là trách nhiệm của toàn cộng đồng, tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với tỷ lệ  
chung của cả nước là 85%. 55,3% người được hỏi không đồng ý về việc phòng bệnh đái  
tháo đường quan trọng là dùng thuốc. 59,2% đối tượng đồng ý rằng thay đổi thói quen  
sinh hoạt, làm việc, chế độ ăn uống có tác dụng điều trị đái tháo đường.  
161  
-
Kiến thức về tăng huyết áp  
Bảng 5: Kiến thức về phòng tăng huyết áp  
Kém Trung bình Khá  
Tốt  
Kiến thức  
Tần  
Tỷ lệ  
Tần  
Tỷ lệ  
Tần  
Tỷ lệ  
Tần  
Tỷ lệ  
số (n)  
(%)  
số (n)  
(%)  
số (n)  
(%)  
số (n)  
(%)  
Khái niệm  
157  
75,2  
68,6  
26  
37  
12,3  
17,6  
17  
8,2  
9,5  
9
9
4,3  
4,3  
Triệu chứng  
144  
20  
Các biến  
chứng  
132  
128  
130  
62,9  
60,8  
61,7  
45  
40  
42  
21,3  
19  
24  
33  
29  
11,5  
15,9  
14  
9
9
9
4,3  
4,3  
4,3  
Yếu tố nguy  
cơ  
Các biện pháp  
phòng chống  
20  
Đối tượng có kiến thức kém về khái niệm, triệu chứng, các biến chứng, yếu tố  
nguy cơ, các biện pháp phòng chống bệnh tăng huyết áp chiếm tỷ lệ rất cao, lần lượt là  
75,2%, 68,6%; 62,9%, 60,8% và 61,7%. Chỉ có 4,3% có kiến thức tốt về phòng chống  
tăng huyết áp.  
19,4  
4,3  
4,3  
4,3  
Tập thể dục  
Dinh dưỡng  
Thuốc  
62,8  
13,5  
70,7  
14,3  
10,7  
71,5  
15,8  
8,4  
Kém  
Trung bình  
Khá  
Tốt  
Biểu đồ 1: Kiến thức về các phương pháp kiểm soát tăng huyết áp  
Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có đầy đủ kiến thức về các biện pháp kiểm soát tăng  
huyết áp bằng thuốc, bằng dinh dưỡng, bằng cách tập thể dục rất thấp (4,3%); tỷ lệ có  
kiến thức đạt loại khá thấp nhất là 8,4%, cao nhất là 13,5%; tỷ lệ có kiến thức đạt loại  
trung bình thấp nhất là 14,3%, cao nhất là 19,4%; số đối tượng có kiến thức kém chiếm  
tỷ lệ rất cao từ 62,8% đến 71,5%.  
-
Thái độ với tăng huyết áp  
162  
Bảng 6: Các vấn đề liên quan đến tăng huyết áp  
Đồng  
Không Không ý  
ý
đồng ý  
kiến  
Nội dung  
Tỷ lệ (%)  
Là bệnh nguy hiểm đối với sức khỏe  
Cảm thấy lo sợ nếu mắc tăng huyết áp  
52,5  
54,2  
19,7  
9,3  
27,8  
36,5  
Phòng chống tăng huyết áp là trách nhiệm của toàn  
cộng đồng  
53,3  
10,7  
36  
Việc điều trị tăng huyết áp là không cần thiết  
9,5  
58,7  
55,3  
31,8  
33,3  
Phòng tăng huyết áp quan trọng nhất là dùng thuốc  
11,2  
Thay đổi thói quen sinh hoạt, làm việc, chế độ ăn  
không có tác dụng trong điều trị bệnh  
28,6  
59,2  
12,2  
Có 52,5% đồng ý cho rằng tăng huyết áp nguy hiểm đối với sức khỏe. Tỷ lệ đồng ý  
rằng cảm thấy lo sợ nếu mắc tăng huyết áp là 54,2%. Chỉ có 53,3% đồng ý với ý kiến  
phòng chống tăng huyết áp là trách nhiệm của toàn cộng đồng.  
-
Kiến thức về phòng chống ung thư  
Bảng 7: Kiến thức về phòng bệnh ung thư  
Kém Trung bình Khá  
Tần Tỷ lệ Tần Tỷ lệ Tần Tỷ lệ Tần Tỷ lệ  
Tốt  
Kiến thức  
số  
(%)  
95,3  
95,6  
số  
10  
9
(%)  
4,7  
4,4  
số  
(%)  
số  
(%)  
Khái niệm  
200  
201  
0
0
0
0
Triệu chứng  
0
0
0
0
Các giai đoạn phát triển  
của bệnh  
204  
97,1  
96,7  
35,7  
6
7
2,9  
3,3  
0
0
0
0
0
0
3
0
0
Yếu tố nguy cơ gây bệnh 203  
Mức độ nguy hiểm của  
75  
95  
45,3  
37  
17,5  
1,5  
bệnh  
Các biện pháp phòng  
203  
95,6  
9
4,4  
0
0
0
0
chống  
Tỷ lệ có kiến thức về các nội dung của bệnh ung thư như khái niệm, triệu chứng,  
các giai đoạn phát triển của bệnh, yếu tố nguy cơ gây bệnh, các biện pháp phòng chống  
đạt kết quả kém chiếm rất cao, từ 95,3% đến 97,1%. Tỷ lệ có kiến thức khá, tốt về bệnh  
163  
ung thư rất thấp, thậm chí không có đối tượng nào nói được khái niệm, triệu chứng, các  
giai đoạn phát triển của bệnh, yếu tố nguy cơ của bệnh và các biện pháp phòng chống.  
-
Thái độ với bệnh ung thư  
Bảng 8: Các vấn đề liên quan đến bệnh ung thư  
Không Không ý  
Đồng ý  
đồng ý  
kiến  
Nội dung  
Tỷ lệ (%)  
Là bệnh nguy hiểm đối với sức khỏe  
98,8  
98,8  
95,6  
42,5  
0
0
0
1,2  
1,2  
4,4  
20  
Cảm thấy lo sợ nếu bị chẩn đoán mắc bệnh  
Phòng chống bệnh là trách nhiệm của toàn cộng đồng  
Việc điều trị bệnh là không cần thiết  
0
37,5  
70  
Phòng bệnh quan trọng nhất là dùng thuốc  
30  
Thay đổi thói quen sinh hoạt, làm việc, chế độ ăn  
không có tác dụng trong điều trị bệnh  
47,5  
33,5  
19  
Tỷ lệ đồng ý rằng ung thư là bệnh nguy hiểm đối với sức khỏe bằng tỷ lệ cảm thấy lo  
sợ nếu mắc bệnh ung thư là 98,8%. Có 95,6 % đồng ý việc phòng chống bệnh ung thư là  
trách nhiệm của toàn cộng đồng. Tuy nhiên, 42,5% đồng ý là điều trị bệnh ung thư là  
không cần thiết.  
-
Kiến thức về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính  
Các biện pháp điều trị  
Mức độ chữa khỏi  
Các biện pháp phòng chống  
Mức độ nguy hiểm  
Các biến chứng  
96,7  
96,7  
3,3  
3,7  
94,4  
95,3  
5,7  
4,7  
97,2  
2,9  
Triệu chứng  
91,5  
8,5  
Yếu tố nguy cơ  
94,3  
5,7  
86  
88  
90  
92  
94  
96  
98 100 102  
Trung bình  
Kém  
Biểu đồ 2: Kiến thức về bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính  
Trên 91% đối tượng có kiến thức kém về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Số đối  
tượng có kiến thức trung bình về bệnh rất thấp, tối đa là 5,7%.  
-
Thái độ với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính  
164  
Bảng 9: Các vấn đề liên quan đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính  
Đồng ý  
(%)  
5,4  
Không ý  
kiến (%)  
Không  
đồng ý (%)  
Nội dung  
Là bệnh nguy hiểm đối với sức khỏe  
Cảm thấy lo sợ nếu bị chẩn đoán mắc bệnh  
0
0
94,6  
94,6  
5,4  
Phòng chống bệnh là trách nhiệm của  
toàn cộng đồng  
8,7  
0
91,3  
Việc điều trị bệnh và biến chứng của  
bệnh là không cần thiết  
6,3  
9,6  
5,2  
88,5  
77,6  
Phòng bệnh quan trọng nhất là dùng thuốc  
12,8  
Thay đổi thói quen sinh hoạt, làm việc,  
chế độ ăn không có tác dụng trong điều  
trị bệnh  
11,7  
22,7  
65,5  
Số đối tượng không bày tỏ thái độ về các vấn đề liên quan đến bệnh phổi tắc  
nghẽn mãn tính chiếm tỷ lệ sất cao, từ 65,5% đến 94,6%. Tỷ lệ đồng ý với nhận định  
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh nguy hiểm đối với sức khỏe, cảm thấy lo sợ nếu  
mắc bệnh này là 5,4%;  
4.3. Luyện tập phòng chống bệnh không lây nhiễm  
Có tới 71,8% không tập thể dục. Tỷ lệ tập thể dục dưới các dạng như đi bộ là  
10,9%, chạy là 4,8%, làm vườn là 9,7%, chơi thể thao là 3,2%.  
4.4. Tiếp cận thông tin về bệnh không lây nhiễm  
Có tới 74,9% không được nghe các thông tin truyền thông về bệnh không lây  
nhiễm. Trong số đối tượng được nghe thông tin về bệnh không lây nhiễm, có 91,2%  
nghe từ tivi, 12,4% nghe từ cán bộ y tế, có 23% nghe từ loa, đài và 0,4% tiếp cận từ  
internet.  
Có 82,7% muốn nghe thông tin về phòng, chống bệnh không lây nhiễm. Trong đó,  
có 30,7% muốn nghe thông tin từ cán bộ y tế, 33,8% muốn tiếp nhận từ báo/internet.  
5. Kết luận  
-
Kiến thức, thái độ về bệnh đái tháo đường: 1,9% có kiến thức tốt về bệnh đái tháo  
đường. Tỷ lệ có kiến thức về bệnh đái tháo đường kém chiếm rất cao, trên 80%;  
42,7 % đồng ý đái tháo đường là bệnh nguy hiểm đối với sức khỏe và cuộc sống.  
Có 43,3% đồng ý phòng chống đái tháo đường là trách nhiệm của toàn cộng đồng.  
-
Kiến thức, thái độ về tăng huyết áp: 4,3% có kiến thức tốt về tăng huyết áp. Đối  
tượng có kiến thức kém chiếm tỷ lệ rất cao, trên 60%; có 52,5% đồng ý tăng huyết  
áp nguy hiểm đối với sức khỏe. Chỉ có 53,3% đồng ý với ý kiến phòng chống tăng  
huyết áp là trách nhiệm của toàn cộng đồng .  
165  
-
-
Kiến thức, thái độ về bệnh ung thư rất kém, chiếm tỷ lệ trên 90%; Tỷ lệ đồng ý ung  
thư là bệnh nguy hiểm đối với sức khỏe bằng tỷ lệ cảm thấy lo sợ nếu mắc bệnh ung  
thư là 98,8%.  
Kiến thức, thái độ về bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính: Trên 90% đối tượng có kiến  
thức kém về bệnh phổi tắc nghẽ mạn tính. Tỷ lệ đồng ý với nhận định bệnh phổi tắc  
nghẽn mạn tính là bệnh nguy hiểm đối với sức khỏe bằng tỷ lệ cảm thấy lo sợ nếu  
mắc bệnh này là 5,4%.  
-
-
Thực hành phòng bệnh không lây nhiễm: Có tới 71,8% không tập luyện thể dục.  
Có 12,4% đã từng được nhận thông tin truyền thông về phòng, chống bệnh không  
lây nhiễm thông qua cán bộ y tế trong tổng số 25,1% đối tượng có nhận được thông  
tin truyền thông. Có tới 30,7% tham gia nghiên cứu mong muốn nhận thông tin  
truyền thông từ cán bộ y tế và 33,8 từ internet trong tổng số 72,7% mong muốn nhận  
thông tin truyền thông về phòng, chống bệnh không lây nhiễm.  
6. Kiến nghị  
-
-
-
Sở Y tế cần tăng cường công tác lãnh đạo chỉ đạo, thực hiện các hoạt động tuyên  
truyền, phổ biến kiến thức về bệnh không lây nhiễm cho nhân dân.  
Trung tâm Truyền thông GDSK Thái Bình tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến  
thức, hướng dẫn nhân dân các biện pháp phòng chống bệnh không lây nhiễm.  
Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh tham mưu với Sở Y tế thành lập các mô hình can  
thiệp dự phòng bệnh không lây nhiễm tại cộng đồng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Báo điện tử Chính Phủ (baodientu.chinhphu.vn › Đời sống), Các bệnh không lây  
nhiễm gia tăng.  
2. Tạ Văn Bình, Phạm Thị Lan, Đào Tố Hoan (2006), Đánh giá kiến thức, thái độ, thực  
hành của người bệnh đái tháo đường trước và sau khi được giáo dục tự chăm sóc.  
3. Hệ thống y tế và phòng bệnh không lây nhiễm ở nông thôn Việt Nam, Trung tâm  
nghiên cứu hệ thống y tế - Đại Học Y Hà Nội.  
4. www.benhphoi.com, Bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cần biế.t  
5. www.caohuyetap.org, Những điều cần biết về bệnh Cao huyết áp.  
166  
pdf 9 trang yennguyen 17140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kiến thức thái độ thực hành của người dân tỉnh Thái Bình về bệnh không lây nhiễm năm 2013", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_kien_thuc_thai_do_thuc_hanh_cua_nguoi_dan_tinh_thai.pdf