Đánh giá thực trạng và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ truyền thông ngành Y tế năm 2012

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ TÌM HIỂU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG  
ĐẾN CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA  
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TRUYỀN THÔNG NGÀNH Y TẾ NĂM 2012  
CN. Nguyễn Thị Mai Hoa  
Trung tâm Truyền thông – GDSK tỉnh Lai Châu  
Tóm tắt nghiên cứu  
Để đánh giá yếu tố ảnh hưởng tới mức độ hoàn thành nhiệm vụ và chất lượng đội  
ngũ cán bộ làm công tác truyền thông (TT) trong giai đoạn hiện nay, đề xuất một số giải  
pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, thực hiện tốt hơn nữa công tác TT GDSK của  
ngành Y tế Lai Châu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng và  
tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ truyền  
thông ngành y tế năm 2012”. Đề tài được nghiên cứu thực tế trên 176 cán bộ đang làm  
công tác truyền thông tại tuyến tỉnh và cơ sở với mục đích mô tả về thực trạng đội ngũ  
cán bộ truyền thông về độ tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, cơ cấu dân tộc, thời gian  
công tác tại lĩnh vực truyền thông, thái độ đối với công việc truyền thông. Kết quả cho  
thấy: trình độ chuyên môn của cán bộ TT chủ yếu là trung học (80,3%), đại học và cao  
đẳng còn thấp lại tập trung chủ yếu tại cấp tỉnh những người làm trực tiếp là trung cấp,  
chuyên môn về y 89,3%, thuận lợi cho công tác TT. Thời gian công tác tại lĩnh vực  
truyền thông nhiều nhất là từ 2-4 năm, mặt khác đội ngũ cán bộ truyền thông tuyến cơ  
sở và tuyến tỉnh thường xuyên thay đổi. Còn 39% cán bộ chưa qua công tác tập huấn về  
TT. Việc nhận thức truyền thông là một nghề vẫn chiếm phần đa (76%) nhưng mức độ  
yêu thích nghề lại không cao. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt động  
của cán bộ làm TT. Qua kết quả điều tra trên chúng tôi cũng đã có những đề xuất đối  
với sở y tế như nâng cao trình độ, tăng cường tập huấn và hỗ trợ cho cán bộ TT có thể  
yên tâm tham gia công tác TT.  
1. Đặt vấn đề  
TTGDSK giữ vai trò chủ chốt, giúp xác định các nhu cầu của cộng đồng, hiểu biết  
rõ các giá trị về niềm tin, thái độ, thực hành đối với sức khỏe, xác định những cách làm  
có hiệu quả để lồng ghép việc ra quyết định của cộng đồng và các kỹ thuật vào trong  
quá trình CSSK ban đầu, cung cấp các kỹ năng mới để nâng cao sức khỏe.  
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác TT GDSK, Sở Y tế luôn chú trọng  
tuyển chọn, đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác TT GDSK có khả năng đáp ứng yêu  
cầu. Tuy nhiên, do đội ngũ cán bộ làm công tác TT có nhiều biến động và thiếu ổn định,  
trình độ học vấn, chuyên môn được đào tạo trước khi làm truyền thông rất đa dạng,  
thiếu cán bộ có chuyên môn về ngành Y do vậy ảnh hưởng không nhỏ đến hoàn thành  
chức năng nhiệm vụ được giao.  
Để đánh giá yếu tố ảnh hưởng tới mức độ hoàn thành nhiệm vụ và chất lượng đội  
ngũ cán bộ làm công tác TT trong giai đoạn hiện nay, đề xuất một số giải pháp nâng cao  
63  
chất lượng đội ngũ cán bộ, thực hiện tốt hơn nữa công tác TT GDSK, góp phần thực  
hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân của ngành Y tế Lai Châu,  
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng và tìm hiểu các yếu tố  
ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ truyền thông ngành y tế  
năm 2012”.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
1. Mô tả thực trạng đội ngũ cán bộ làm công tác TT GDSK tỉnh Lai Châu năm 2012.  
2. Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ  
cán bộ làm công tác TTGDSK trong giai đoạn hiện nay.  
3. Đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ  
làm công tác TTGDSK trong thời gian tới.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.  
3.2. Đối tượng nghiên cứu  
-
Tất cả cán bộ CNVC làm công tác TT – GDSK từ tuyến tỉnh đến cơ sở thuộc ngành  
Y tế tỉnh Lai Châu.  
-
Tiêu chuẩn loại trừ: Những CBCNVC đang đi học dài hạn, cán bộ từ chối không  
hợp tác.  
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu  
-
-
Địa điểm: Trên địa bàn tỉnh Lai Châu.  
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3/2012 đến ngày 15/12/2012.  
3.4. Phương pháp thu thập số liệu  
-
-
Phương pháp thu thập số liệu bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn.  
Xây dựng bộ câu hỏi, hướng dẫn cách trả lời cho ĐTNC. Phát và thu phiếu trực tiếp  
cho các ĐTNC.  
3.5. Phương pháp phân tích số liệu  
-
Bộ câu hỏi mã hóa chuẩn để sử dụng cho điều tra cơ bản, sử dụng phương pháp  
thống kê để phân tích.  
4. Kết quả nghiên cứu  
Tại thời điểm nghiên cứu, mạng lưới cán bộ làm công tác truyền thông giáo dục  
sức khoẻ được phủ rộng khắp từ tuyến tỉnh cho đến cơ sở. Cán bộ làm công tác truyền  
thông của ngành Y tế đều kiêm nhiệm, chỉ duy nhất trung tâm truyền thông GDSK  
tuyến tỉnh là chuyên trách.  
64  
4.1. Thực trạng đội ngũ cán bộ làm công tác TT GDSK ngành Y tế năm 2012  
Bảng 1: Độ tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu  
Độ tuổi  
< 30 tuổi  
30 – 39 tuổi  
40 – 49 tuổi  
> 50 tuổi  
Giới tính  
Nam  
Tần số  
70  
Tỷ lệ %  
39,3  
39,3  
18  
70  
32  
6
3,3  
81  
97  
45,5  
54,5  
100  
Nữ  
Tổng  
178  
Nhận xét: Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là những cán bộ trẻ, 39,3% có độ tuổi  
dưới 30 và từ 30 – 39 tuổi; từ 40 – 49 tuổi chiếm 18% và trên 50 tuổi chiếm số lượng  
rất ít, 3,3%. Tỷ lệ Nam/Nữ tương đối cân bằng (81/97)  
Tỷ lệ nữ cao hơn nam. Nếu xét về khả năng tuyên truyền thì nữ có khả năng tuyên  
truyền và có sự kiên trì nhẫn nại hơn nam giới. Tuy nhiên Lai Châu là tỉnh có giao  
thông đi lại khó khăn, trong khi đó đòi hỏi của công tác truyền thông hay phải đi đến  
các bản, gia đình để tuyên truyền vận động, do vậy tỷ lệ nữ cao hơn nam cũng gây khó  
khăn hạn chế trong việc đi lại tuyên truyền cho nhân dân.  
Trong tổng số cán bộ làm công tác truyền thông, số người có tuổi đời dưới 40 tuổi  
chiếm khá cao, chiếm 78,6%. Lực lượng làm công tác truyền thông chủ yếu là những  
cán bộ trẻ, khoẻ, nhiệt tình, tuy nhiên đội ngũ này có mặt hạn chế là kinh nghiệm trong  
cuộc sống cũng như kỹ năng tuyên truyền vận động, năng lực tham mưu còn hạn chế  
Bảng 2: Cơ cấu dân tộc của đối tượng nghiên cứu  
Dân tộc  
Tần số  
116  
33  
Tỷ lệ %  
65  
18,4  
3,3  
Kinh  
Thái  
Mông  
Giao  
Tày  
6
5
5
3
3
Khác  
13  
7,3  
Tổng  
178  
100  
Nhận xét: Có 13/20 dân tộc trên địa bàn tỉnh. Trong đó dân tộc kinh chiếm nhiều  
nhất (65%), tiếp theo là dân tộc Thái (18,4%), dân tộc Mông chiếm 3,3%, dân tộc Dao  
và Tày có tỷ lệ bằng nhau (chiếm 3%); còn lại 13% là các dân tộc Hà Nhì, Dáy, Mường,  
Ê đê, Hoa, Xạ Phang, Sán Dìu, Cống (mỗi dân tộc có từ 1- 3 người). Thành phần dân  
tộc kinh chiếm nhiều có phần ưu thế là nhanh nhẹn, hoạt bát và nắm bắt nhanh các công  
việc được giao, nhưng họ cũng có mặt hạn chế là không biết tiếng dân tộc và chưa am  
hiểu phong tục tập quán địa phương nên cũng hạn chế trong công tác TT.  
65  
Bảng 3: Trình độ và chuyên ngành được đào tạo của đối tượng nghiên cứu  
Tần số  
Tỷ lệ %  
Trình độ  
Đại học và trên đại học  
Cao đẳng  
30  
5
16,9  
2,8  
THCN  
143  
80,3  
Chuyên ngành  
Y tế  
159  
6
89,3  
3,3  
Báo chí, truyền hình  
Văn hóa xã hội  
Chuyên môn khác  
Tổng  
7
4,0  
6
3,3  
178  
100  
Nhận xét: Trình độ chuyên môn chủ yếu là trung học, chiếm 80,3%, đại học  
16,9% và cao đẳng 2,8%. Chuyên môn về y là chủ yếu chiếm 89.3%. Đây là điều kiện  
thuận lợi cho công tác tuyên truyền vận động và hướng dẫn nhân dân thực hiện vệ sinh  
phòng bệnh và chăm sóc sức khoẻ ban đầu, chuyên môn về văn hoá xã hội chiếm 4%  
(số này chủ yếu ở các đơn vị tuyến tỉnh); chuyên môn về báo chí truyền hình chiếm  
3,3% (số này hầu hết ở trung tâm TTGDSK).  
Bảng 4: Thời gian công tác tại lĩnh vực truyền thông  
Thời gian  
Dưới 2 năm  
2 – 4 năm  
Tần số  
47  
Tỷ lệ %  
26,4  
36  
64  
5- 10 năm  
48  
27  
10 năm trở lên  
19  
10,6  
Nhận xét: Thời gian công tác tại lĩnh vực truyền thông nhiều nhất là từ 2-4 năm,  
chiếm 36%, tiếp đó là từ 5-10 năm, chiếm 27%, số ĐTNC công tác tại lĩnh vực này dưới  
2 năm là 26,4% và từ 10 năm trở lên chỉ chiếm 10,6%. Nhóm cán bộ này hầu hết đã được  
tham gia tập huấn về công tác truyền thông 61%. Số chưa qua tập huấn chủ yếu là những  
người mới vào công tác ở lĩnh vực này (dưới 2 năm) Thực trạng này cũng ảnh hưởng đến  
việc thực hiện các kỹ năng truyền thông, vì kinh nghiệm công tác còn ít, đôi khi còn  
lúng túng trong việc xử lý các tình huống xảy ra tại cơ sở. Mặt khác đội ngũ cán bộ  
truyền thông tuyến cơ sở và tuyến tỉnh thường xuyên thay đổi. Trong qúa trình nghiên  
cứu chúng tôi nhận thấy số cán bộ có trong tổ, đội truyền thông ở các trung tâm y tế  
huyện và các đơn vị tuyến tỉnh thì hầu như không nắm bắt được là mình có ở tổ truyền  
thông hay không  
66  
Bảng 5: Thái độ và nhận thức đối với công việc TT GDSK  
Tần số  
Tỷ lệ %  
Thái độ  
Rất yêu thích  
Bình thường  
Không yêu thích  
Nhận thức  
99  
79  
0
55,6  
44,4  
0
Là một nghề  
Không phải là một nghề  
Tổng  
135  
43  
76  
24  
178  
100  
Nhận xét: Trong số đối tượng nghiên cứu, thái độ rất yêu thích vẫn chiếm phần nhiều  
(55,6%) và cũng nằm trong nhóm nhận thức truyền thông là một nghề (76%), còn lại là thái  
độ bình thường, không có trường hợp nào không yêu thích công việc truyền thông (!).  
Bảng 6: Đánh giá mức độ thực hiện viết tin, bài tuyên truyền  
trên các báo, bản tin y tế năm 2012.  
Mức độ hoàn thành  
Chỉ tiêu giao/Thực hiện  
Tỷ lệ %  
nhiệm vụ  
Tốt  
220 tin, 155 bài/228 tin, 271 bài  
133%  
Khá  
0
0
0
Trung bình  
Yếu kém  
Tổng  
0
0
0
220 tin, 155 bài/228 tin, 271 bài  
133%  
Nhận xét: Về hoạt động viết tin, bài trên các báo, bản tin y tế, dựa trên kế hoạch  
chỉ tiêu của ngành Y tế giao năm 2012, nếu tính trung bình chung cả đơn vị tuyến tỉnh  
và huyện, thị thì đạt và vượt kế hoạch. Tuy nhiên nếu tính riêng từng đơn vị thì chỉ có 5  
đơn vị thực hiện đạt KH giao là: Trung tâm TT GDSK, Bệnh viện Y học cổ truyền, Chi  
cục Dân số - KHHGĐ, TTYTDP thị xã, Bệnh viện Lao & Bệnh phổi, TTYT Tam  
Đường đạt loại trung bình, còn lại 11 đơn vị không thực hiện đạt chỉ tiêu này.  
Bảng 7: Đánh giá mức độ thực hiện công tác TT trực tiếp tại cộng đồng năm 2012  
Mức độ hoàn thành  
Chỉ tiêu giao /Thực hiện  
Tỷ lệ %  
nhiệm vụ  
Tốt  
4.324 buổi, 179.620 người nghe/6.856  
149  
buổi, 250.514 người nghe  
Khá  
0
0
0
Trung bình  
Yếu kém  
Tổng  
0
0
0
4.324 buổi, 179.620 người nghe/6.856  
buổi, 250.514 người nghe  
149  
67  
Nhận xét: Công tác truyền thông trực tiếp tại cộng đồng được các đơn vị thực hiện  
đạt và vượt chỉ tiêu giao (căn cứ vào báo cáo thực hiện công tác TT hàng năm của các  
đơn vị gửi báo cáo TT TTGDSK).  
Bảng 8: Đánh giá mức độ thực hiện công tác tập huấn nghiệp vụ  
cho cán bộ mạng lưới năm 2012  
Mức độ hoàn thành nhiệm vụ  
Chỉ tiêu giao /Thực hiện  
Tỷ lệ %  
Tốt  
7 lớp/7 lớp  
100  
0
Khá  
0
0
0
7
Trung bình  
Yếu kém  
Tổng  
0
0
100  
Nhận xét: Về chỉ tiêu này, mỗi huyện, thị được giao chỉ tiêu 01 lớp, Trung tâm  
TTGDSK trực tiếp làm giảng viên và thực hiện đạt 100% chỉ tiêu giao.  
Bảng 9: Đánh giá mức độ thực hiện công tác mit tinh cổ động năm 2012  
Mức độ hoàn thành nhiệm vụ Chỉ tiêu giao /Thực hiện  
Tỷ lệ %  
Tốt  
57 lần/57 lần  
100%  
Khá  
0
0
0
Trung bình  
Yếu kém  
Tổng  
0
0
0
57/57 lần  
100  
Nhận xét: Về công tác tổ chức các buổi mit tinh cổ động mặt đường thì ở một số  
đơn vị tuyến tỉnh cũng như ở huyện, thị, xã, phường đều tổ chức các buổi mit tinh theo  
kế hoạch giao và đạt 100% chỉ tiêu.  
4.2. Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hoàn thành nhiệm vụ cuả đội ngũ  
cán bộ làm công tác truyền thông trong giai đoạn hiện nay  
Bảng 10: Đánh giá của ĐTNC về mức độ ảnh hưởng của các yêu tố đối với việc  
hoàn thành nhiệm vụ  
Rất ảnh  
hưởng  
Không ảnh  
hưởng  
Ảnh hưởng  
Các yếu tố  
Tần Tỷ lệ Tần Tỷ lệ Tần Tỷ lệ  
số  
%
số  
%
số  
%
Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác  
truyền thông của cấp uỷ, chính quyền  
Tuyển chọn đánh giá đúng cán bộ  
Chất lương và nội dung tập huấn bồi  
dưỡng  
125  
70,2  
38  
21,3  
15  
8,5  
111  
123  
62,3  
69  
55  
44  
31  
25  
12  
11  
6,7  
6
Bố trí sử dụng đúng khả năng, sở trường 114  
Ý thức tự học tập nâng cao trình độ 117  
64  
66  
52  
49  
29,3  
27,3  
12  
12  
6,7  
6,7  
68  
Nhận xét: Trong số ĐTNC, việc đánh giá về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đối  
với hoàn thành nhiệm vụ, chủ yếu cho rằng các yếu tố trên rất ảnh hưởng đến việc hoàn  
thành nhiệm vụ, tiếp theo cho rằng ảnh hưởng và số cho rằng không ảnh hưởng chiếm  
phần ít, chiếm từ 11- 15 trường hợp trong tổng số 178 ĐTNC.  
Bảng 11: Đánh giá của ĐTNC về mức độ cần thiết các tiêu chuẩn CBCNVC  
làm công tác TT GDSK  
Rất cần  
Cần  
Tỷ lệ  
Không cần  
Tiêu chuẩn và phẩm chất  
Tần  
Tỷ lệ  
%
Tần  
số  
Tần  
Tỷ lệ  
%
1,7  
0
số  
%
21,3  
23  
số  
3
Có trình độ trung cấp trở lên  
Biết tiếng dân tộc  
137  
137  
155  
77  
38  
77  
41  
0
Có kỹ năng TT GDSK và sử  
dụng các phương tiện TT  
Biết cảm thông, chia sẻ nhiệt  
tình trách nhiệm  
87  
23  
13  
0
0
140  
116  
78,7  
65,2  
37  
52  
20,7  
29,2  
1
0,6  
5,6  
Biết thu thập, phân tích số liệu,  
kỹ năng viết bài.  
10  
Nhận xét: Đánh giá về mức độ cần thiết các tiêu chuẩn của cán bộ viên chức làm  
công tác truyền thông thì chủ yếu cho rằng rất cần đối với các tiêu chuẩn trên, tiếp đó  
cho rằng là cần thiết, số đối tượng cho rằng không cần thiết chiếm rất ít, đặc biệt là kỹ  
năng truyền thông và sử dụng tài liệu truyền thông, biết tiếng dân tộc thì không một đối  
tượng nào cho là không cần thiết.  
Việc đánh giá về mức độ cần thiết đối với chuyên môn về y tế thì có tới 69% cho  
rằng những người làm công tác truyền thông GDSK rất cần có chuyên môn về y tế, tiếp  
đó là cần thiết, chiếm 27,5%; có 3,3% ý kiến cho rằng bình thường và chỉ có 2 trên tổng  
số 178 ĐTNC cho rằng không cần thiết có chuyên môn về y tế.  
Bảng 12: Mức độ ảnh hưởng của nội dung và phương thức tập huấn về mức độ  
hoàn thành nhiệm vụ của ĐTNC  
Rất ảnh  
hưởng  
Tần Tỷ lệ  
Không ảnh  
hưởng  
Tần Tỷ lệ  
Ảnh hưởng  
Tần Tỷ lệ  
Các yếu tố  
số  
114  
75  
%
số  
55  
79  
%
số  
%
Tập huấn, bồi dưỡng về nghiệp vụ  
TTGDSK  
Tập huấn, bồi dưỡng về nghiệp vụ báo  
chí, truyền hình  
64  
31  
9
5
42,1  
44,4  
24  
13,5  
Chất lượng tập huấn bồi dưỡng và  
thường xuyên được tập huấn bồi  
dưỡng  
112  
63  
57  
32  
9
5
69  
Nhận xét: Việc đánh giá về mức độ ảnh hưởng của nội dung và phương thức tập  
huấn về mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chủ yếu cho rằng các yếu tố trên rất ảnh hưởng  
đến việc hoàn thành nhiệm vụ, tiếp theo cho rằng ảnh hưởng và số cho rằng không ảnh  
hưởng chiếm phần ít.  
Bảng 13: Đánh giá của đối tượng nghiên cứu về hình thức tập huấn, bồi dưỡng đối  
với mức độ hoàn thành nhiệm vụ.  
Rất hiệu quả  
Hiệu quả  
Không hiệu quả  
Các yếu tố  
Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ %  
Nội dung giáo trình sát chuyên  
đề, sâu về kiến thức và nghiệp  
vụ TT GDSK  
Rèn luyện kỹ năng giải quyết  
tình huống  
112  
110  
63  
62  
66  
67  
37  
0
1
0
37,4  
0,6  
Rèn luyện kỹ năng TTGDSK  
109  
95  
61,3  
53,4  
67  
77  
37,4  
43,3  
2
6
1,2  
3,3  
Rèn luyện trình độ tham mưu  
cho cấp trên, hướng dẫn cho  
cấp dưới  
Rèn luyện kỹ năng nghiên cứu,  
tổng hợp, đánh giá, phân tích  
thông tin  
100  
56,1  
75  
42,2  
3
1,7  
Nhận xét: Cũng như bảng trên, việc đánh giá về hình thức tập huấn, bồi dưỡng đối  
với hoàn thành nhiệm vụ, chủ yếu cho rằng các hình thức tập huấn, bồi dưỡng trên rất  
hiệu quả đối với việc hoàn thành nhiệm vụ, tiếp theo cho rằng hiệu quả và số cho rằng  
không hiệu quả chiếm rất ít, đặc biệt là phần Nội dung giáo trình sát chuyên đề, sâu về  
kiến thức và nghiệp vụ TTGDSK thì không có ĐTNC nào cho là không hiệu quả.  
4.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác  
TT GDSK tỉnh Lai Châu trong giai đoạn hiện nay  
Nhận xét: Việc đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ  
làm công tác TTGDSK tỉnh Lai Châu trong giai đoạn hiện nay của đối tượng nghiên  
cứu chiếm nhiều nhất ở phần tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ TTGDSK  
(chiếm 83,1%); phần đào tạo nâng cao học vấn, trình độ chuyên môn và phần Bồi  
dưỡng kiến thức về y tế (Liên quan đến phòng chống dịch bệnh, CSSK ban đầu…)  
chiếm trên 70%; tiếp đó là phần Học tiếng dân tộc, chiếm 61,2%; có 58,4% ý kiến cho  
rằng cần Tuyên truyền giáo dục tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp và 45% ý kiến cần Tập  
huấn, bồi dưỡng về nghiệp vụ báo chí, truyền hình.  
5. Kết luận  
Tỷ lệ cân bằng giới trong nhóm cán bộ làm công tác TT góp phần đen lại hiệu quả  
TT của tỉnh. Tuổi tập trung chủ yếu ở nhóm trẻ năng động song kinh nghiệm còn hạn  
chế, do vậy nhu cầu đào tạo thêm đào tại lại cao.  
70  
Trình độ chuyên môn chủ yếu về y và xã hội đem lại hiệu quả cho công tác TT,  
nhưng trình độ chủ yếu là THCN nên năng lực còn hạn chế. Đội ngũ có trình độ cao lại  
chủ yếu là lãnh đạo nên người trực tiếp làm việc còn yếu và thiếu.  
Thái độ yêu thích công việc cao, trợ cấp còn hạn chế nên tỷ lệ cho rằng TT không phải  
một nghề chiếm một phân không nhỏ, Mức độ ngắn bó với nghề chưa cao.  
Đa số cán bộ làm công tác truyền thông đều cho rằng sự quan tâm của lãnh đạo  
của cấp uỷ, chính quyền, tuyển chọn đúng cán bộ vào vị trí công tác cũng như nội dung  
được tập huấn, ý thức tự giác học tập có ảnh hưởng rất lớn đến việc hoàn thành nhiệm  
vụ.  
Đánh giá về mức độ cần thiết các tiêu chuẩn của cán bộ viên chức làm công tác  
truyền thông thì chủ yếu cho rằng cán bộ truyền thông rất cần có các tiêu chuẩn như: có  
trình độ trung cấp trở kên, có kỹ năng TT và sử dụng tài liệu TT, biết tiếng dân tộc, biết  
sẻ chia  
Có tới 69% cho rằng những người làm công tác truyền thông GDSK rất cần có  
chuyên môn về y tế. Công tác này cơ bản ngành đã đáp ứng được bởi hiên tại có 89,3%  
cán bộ làm công tác TT có chuyên môn về y tế. Chỉ có TT TTGDSK tỉnh, số cán bộ  
chuyên ngành y còn ít, (chỉ có 5/19 cán bộ).  
6. Kiến nghị  
6.1. Với sở Y tế  
Trong quá trình tuyển dụng, sắp xếp dội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông cần  
có tiêu chuẩn đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ. Coi trọng người nhiệt tình, trách nhiệm,  
tâm huyết, nhanh nhẹn, biết thông cảm, chia sẻ, có sức khoẻ tốt và gương mẫu thực hiện  
tuyên truyền đúng chủ trương đường lối của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về  
lĩnh vực y tế đến với bà con nhân dân. Ưu tiên những người có chuyên môn về y tế và  
chuyên ngành về báo chí, truyền hình. Quan tâm tạo điều kiện về kinh phí cho hoạt  
động công tác TT trên địa bàn.  
6.2. Với Trung tâm TT GDSK  
Tăng cường hơn nữa công tác tập huấn về kỹ năng TT và kỹ năng viết tin, bài cho  
đội ngũ làm công tác TT từ tỉnh đến cơ sở. Bố trí, sắp xếp cán bộ phù hợp với năng lực,  
sở trường. Tăng cương công tác kiểm tra, giám sát công tác TT tuyến cơ sở.  
6.3. Các đơn vị tuyến tỉnh và TTYT các huyện  
Tạo điều kiện về thời gian cũng như các phương tiện truyền thông cho tổ truyền  
thông hoàn thành tốt nhiệm vụ, có thể bổ sung cho tổ truyền thông máy ảnh để thực hiện  
nhiệm vụ. Quan tâm nhiều hơn nữa đến các hoạt động truyền thông của đơn vị; thường  
xuyên kiểm tra, giá sát, nhắc nhở tổ truyền thông thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.  
71  
pdf 9 trang yennguyen 11540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá thực trạng và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ truyền thông ngành Y tế năm 2012", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_thuc_trang_va_tim_hieu_cac_yeu_to_anh_huong_den_cha.pdf