Đánh giá hiệu quả hoạt động truyền thông thay đổi hành vi trong phòng chống HIV/AIDS tại xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, Ninh Bình năm 2009-2010
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
TRUYỀN THÔNG THAY ĐỔI HÀNH VI TRONG PHÒNG CHỐNG
HIV/AIDS TẠI XÃ GIA SINH, HUYỆN GIA VIỄN, NINH BÌNH
NĂM 2009- 2010
Phạm Ngọc Cương, Phạm Thúy Hà
Trung tâm Truyền thông GDSK Ninh Bình
Tóm tắt nghiên cứu:
Để nâng cao nhận thức cho người dân về phòng chống HIV/AIDS, Trung tâm
TTGDSK Ninh Bình tổ chức các hoạt động truyền thông tại xã Gia Sinh, huyện Gia
Viễn. Các hoạt động can thiệp bao gồm: thành lập ban điều hành của xã, các đội hành
động của thôn, đào tạo về kỹ năng truyền thông phòng chống HIV/AIDS cho mạng lưới
truyền thông viên, cung cấp tài liệu truyền thông, bao cao su (BCS), bơm kim tiêm
(BKT) sạch; phát tin bài và thực hiện các hoạt động truyền thông trực tiếp. Sau 2 năm
can thiệp, nhận thức, thái độ và thực hành của người dân trên địa bàn xã có sự thay đổi
đáng kể. Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có nhận thức đúng về đường lây nhiễm của HIV sau
khi can thiệp đó tăng lên rõ rệt ở cả 3 đường lây chủ yếu (qua đường máu: từ 83,6% lên
98%, qua đường quan hệ tình dục (QHTD) từ: 80,6% lên 92%, từ mẹ sang con: từ 62,2%
lên 91%.). Tỷ lệ đối tượng có nhận thức đúng về các biện pháp phòng lây nhiễm đã tăng
lên: dùng riêng BKT từ 79,5 lên 100%, dùng BCS khi QHTD từ 85,7% lên 92%... Các
đối tượng nghiên cứu đã có thái độ tích cực hơn và thực hiện được các hành vi phòng lây
nhiễm HIV như: dùng BCS khi QHTD với vợ (chồng) bị nhiễm HIV (95%), sử dụng
riêng BKT khi cần tiêm chích (100% số người đó tiêm chích trong 12 tháng qua). Sau
can thiệp người dân xã Gia Sinh đã quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ, không xa lánh, kì thị,
phân biệt đối xử với người nhiễm HIV (86% cho rằng đây không phải là tệ nạn xã hội
cần lên án, 100% cho rằng cần quan tâm, giúp đỡ người nhiễm HIV).
1. Đặt vấn đề
Gia Sinh là xã miền núi nằm ở phía Nam của huyện Gia Viễn, có diện tích tự
nhiên 14,8 km2, dân số 7.019 người. Đây là xã mà đời sống của nhân dân còn nhiều khó
khăn, 75% lao động làm nông nghiệp. Trong thời gian nông nhàn, người dân nơi đây
thường đi làm ăn xa. Ngoài việc mang lại lợi ích của cải vật chất cho gia đình và xã hội,
một số người trong số đó cũng mang theo tệ nạn nghiện hút, tiêm chích về địa phương.
Những năm gần đây, trên địa bàn xã được đầu tư xây dựng Khu du lịch Tâm linh Chùa
Bái Đính, lưu lượng khách tham quan du lịch đến đây ngày một đông. Đây là điều kiện
thuận lợi cho việc phát triển kinh tế du lịch và các ngành nghề có liên quan. Điều đó đã
giúp cho hàng ngàn người dân trong và ngoài xã có thêm việc làm và thu nhập, đời sống
người dân được cải thiện và nâng cao, bộ mặt của xã được thay đổi nhanh chóng. Tuy
nhiên lượng du khách đông cũng tiềm ẩn những nguy cơ làm phức tạp an ninh trật tự và
phát sinh, phát triển các dịch bệnh nguy hiểm trong đó có HIV/AIDS. Hiện trên địa bàn
27
xã đã có 56 người nghiện chích ma túy, 32 người nhiễm HIV/AIDS trong đó tử vong 26
người. Qua khảo sát được tiến hành trước khi triển khai dự án, nhận thức, thái độ và thực
hành của người dân trong xã chưa cao, vẫn còn nhiều người chưa có hiểu biết đầy đủ về
HIV/AIDS, chưa biết cách phòng chống lây nhiễm cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
Tình trạng kì thị, phân biệt đối xử với những người nhiễm HIV vẫn còn nặng nề. Người
nhiễm HIV còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc chăm sóc sức khỏe và hòa nhập cộng
đồng. Vấn đề nâng cao nhận thức cho các tâng lớp nhân dân trong xã về HIV/AIDS là
hết sức cần thiết. Thực tế tại xã mới có 01 CBYT chuyên trách công tác phòng chống
HIV/AIDS nhưng cũng chỉ là cán bộ kiêm nhiệm, năng lực thực hành, kỹ năng truyền
thông phòng chống HIV/AIDS còn hạn chế. Đây cũng chính là lí do nhóm nghiên cứu
lựa chọn xã Gia sinh để triển khai mô hình điểm truyền thông vận động thay đổi hành vi
dựa vào cộng đồng trong phòng chống HIV/AIDS và thực hiện đề tài nghiên cứu: Đánh
giá hiệu quả các hoạt động truyền thông thay đổi hành vi trong phòng chống
HIV/AIDS tại xã Gia Sinh năm 2009 - 2010, với mục tiêu:
1. Đánh giá thực trạng nhận thức, thái độ và thực hành của người dân xã Gia Sinh
đối với việc phòng chống HIV/AIDS.
2. Triển khai các hoạt động truyền thông GDSK nhằm nâng cao nhận thức, thái độ
và thực hành của người dân xã Gia Sinh trong phòng chống HIV/AIDS.
3. Đánh giá hiệu quả các hoạt động can thiệp thông qua nhận thức, thái độ và thực
hành của người dân xã Gia Sinh đối với việc phòng chống HIV/AIDS.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Các hoạt động can thiệp đã triển khai
1. Thành lập được hệ thống điều hành trong xã: Ngay sau khi thống nhất thực hiện
dự án tại xã, Chủ tịch UBND xã đã ký Quyết định thành lập Ban điều hành gồm
12 thành viên do đồng chí Phó Chủ tịch phụ trách Văn hoá xã hội làm Trưởng
ban, đồng chí Trưởng trạm Y tế xã làm Phó ban thường trực, các đồng chí
trưởng các ban ngành đoàn thể, hiệu trưởng các trường học trong xã là uỷ viên.
2. Tại 11/11 thôn của xã đã thành lập đội hành động do đồng chí Trưởng thôn làm
đội trưởng. Thành phần của đội gồm các đồng chí Bí thư chi bộ, cán bộ mặt
trận, chi hội Phụ nữ, đoàn Thanh niên, hội Nông dân, nhân viên Y tế thôn và
trưởng các tộc họ. Quyết định thành lập do Chủ tịch UBND xã ký.
3. Mạng lưới cộng tác viên cộng đồng: Mỗi thôn đều có mạng lưới cộng tác viên
gồm những vị chức sắc tôn giáo, trưởng các họ, dòng tộc, những người có uy
tín trong thôn xóm, các chủ hộ gia đình.
4. Tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng truyền thông phòng chống HIV/AIDS.
Tổ chức 10 lớp tập huấn về kiến thức HIV/AIDS cho đội ngũ báo cáo viên
bao gồm toàn thể Ban điều hành xã và đội trưởng các đội hoạt động thôn.
28
Tổ chức 15 lớp tập huấn về kỹ năng truyền thông phòng chống HIV/AIDS
cho các truyền thông viên là thành viên các đội hoạt động.
5. Cung cấp tài liệu truyền thông bao gồm hàng nghìn áp phích, tờ rơi, sách nhỏ
để cho mạng lưới của xã, thôn hoạt động.
6. Phối hợp với Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS và Trung tâm Y tế huyện Gia
Viễn xây dựng xã Gia Sinh là một trong 3 xã của huyện triển khai hoạt động
can thiệp giảm tác hại. Cụ thể là đã cung cấp trao đổi BKT sạch cho các đối
tượng nghiện chích ma túy của xã và cung cấp bao cao su cho các nhà nghỉ đáp
ứng nhu cầu sẵn có, thuận tiện.
7. Thường xuyên phát các tin, bài có nội dung tuyên truyền PC HIV/AIDS trên hệ
thống truyền thanh xã.
8. Phối hợp lồng ghép hoạt động truyền thông thay đổi hành vi phòng chống
HIV/AIDS với các hoạt động của các chương trình khác như chương trình phòng
chống ma túy, mại dâm, phong trào xây dựng làng văn hóa, sức khỏe. Tổ chức các
buổi truyền thông trực tiếp tại cộng đồng dân cư và trong các trường học của xã.
2.2. Nhận thức, thái độ và thực hành của người dân xã Gia Sinh trước và sau khi
thực hiện dự án
Bảng 1. Số người đã được nghe hay đọc được tài liệu về HIV/AIDS
Tỷ lệ (%)
Nội dung
Trước can thiệp
Sau can thiệp
Có
98
02
100
0
Chưa
Nhận xét: Trong số 100 đối tượng được hỏi, trước khi triển khai nghiên cứu vẫn có 02
người (2%) trả lời là chưa nghe và chưa biết về HIV/AIDS. Sau 2 năm triển khai các
hoạt động truyền thông về HIV/AIDS, 100% số đối tượng đều đó biết về HIV/AIDS.
Bảng 2. Nguồn cung cấp thông tin về HIV/AIDS
Tỷ lệ (%)
Nội dung
Trước can thiệp Sau can thiệp
Báo chí
57,1
88,7
77,5
63,2
69,3
43,8
48
91
Ti vi
Loa đài (truyền thanh xã....)
Cán bộ y tế
100
92
Bạn bè
73
Tài liệu (tờ rơi, áp phích, băng rôn...)
100
29
Nhận xét: Nguồn thông tin về HIV/AIDS mà đối tượng có được, trước khi triển khai các
hoạt động truyền thông, chủ yếu là từ ti vi và đài truyền thanh xã, vai trò của CBYT
không nhiều (63,2%). Tuy nhiên sau khi triển khai các hoạt động truyền thông, nhất là
truyền thông trực tiếp, nguồn thông tin từ CBYT đã được tăng lên (92%) và đặc biệt là từ
loa truyền thanh xã, từ tài liệu là 100%.
Bảng 3. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về đường lây truyền của HIV
Tỷ lệ (%)
Nội dung
Trước can thiệp Sau can thiệp
Qua đường máu
83,6
80,6
62,2
14,2
4,0
98
92
91
0
Qua đường quan hệ tình dục
Từ mẹ sang con
Không biết
Khác (Đối tượng kể thêm các đường lây khác)
2
Nhận xét: Trong cuộc khảo sát trước can thiệp, tỷ lệ đối tượng có nhận thức đúng về
đường lây truyền của HIV/AIDS cũng khá cao, tuy nhiên vẫn còn đến 14% số đối tượng
được phỏng vấn không biết đường lây của HIV, sau can thiệp không còn đối tượng trả
lời không biết và tỷ lệ trả lời đúng tăng cao (trên 90% ở cả 3 đường lây).
Bảng 4. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về đường không lây truyền HIV
Tỷ lệ (%)
Nội dung
Trước can thiệp Sau can thiệp
Ăn chung bát đũa với người nhiễm HIV
Uống chung cốc, chén với người nhiễm HIV
Ngủ chung giường với người nhiễm HIV
Tắm chung với người nhiễm HIV
64,2
66,3
73,4
69,3
75,5
87,5
91
87
93
85
Sử dụng chung nhà vệ sinh với người nhiễm
100
96
Lao động, học tập, làm việc chung với người nhiễm
HIV
Muỗi đốt
77,5
8,1
100
0
Không biết
Khác (Đối tượng kể thêm các đường lây khác)
7,1
0
Nhận xét: Về các đường không lây nhiễm HIV, trước khi triển khai các hoạt động truyền
thông tỷ lệ người được phỏng vấn có nhận thức đúng còn tương đối thấp (từ 64,2% -
87,5% với từng hành vi), tuy nhiên sau khi được truyền thông, tỷ lệ này đó được nâng
lên rõ rệt, từ 85% đến 100%.
30
Bảng 5. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV
Tỷ lệ (%)
Nội dung
Trước can thiệp Sau can thiệp
Dùng riêng bơm, kim tiêm
79,5
62,2
83,6
68,3
100
98
Dùng riêng dao cạo, bấm móng tay, chân
Dùng riêng bàn chải răng
87
Dùng găng tay hay túi nilon, bao tay khi tiếp xúc với
81
các dịch tiết, máu của người khác
Dùng BCS khi QHTD với người không biết họ có HIV
hay mắc bệnh lây nhiễm qua đường TD không
85,7
13,2
92
0
Không biết/khác
Nhận xét: Về các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV, đối với hành vi sử dụng BKT,
trước can thiệp tỷ lệ là 79,5%, sau can thiệp là 100%, tương tự các biện pháp khác cung
tăng lên rõ rệt và có ý nghĩa thống kê.
Bảng 6. Ý kiến của đối tượng nghiên cứu về biện pháp phòng lây nhiễm khi vợ
(chồng) bị nhiễm HIV
Tỷ lệ (%)
Nội dung
Trước can thiệp Sau can thiệp
Ly hôn
17,3
54,0
14,2
53
0
47
0
Ly thân
Quan hệ tình dục bình thường
Dùng bao su khi quan hệ tình dục
Không biết/khác
95
0
6,1
Nhận xét: Bảng 6 về phòng lây nhiễm HIV trong trường hợp vợ (chồng) có HIV, trước
can thiệp có tới 17,3% đối tượng phỏng vấn trả lời sẽ ly hôn, 54% ly thân, vẫn QHTD
bình thường 14,2%, chỉ có 53% sử dụng BCS trong QHTD. Sau can thiệp nhận thức của
người dân được nâng lên nên tỷ lệ này đó thay đổi: không có đối tượng nào trả lời sẽ li
hôn, tỷ lệ li thân còn khá cao (47%), số người dùng BCS lên tới 95%.
Bảng 7. Tỷ lệ dùng BCS khi quan hệ tình dục với bạn tình trong 12 tháng qua
Tỷ lệ (%)
Nội dung
Trước can thiệp
Sau can thiệp
Không có quan hệ tình dục với ai
Không dùng bao cao su
Có dùng bao cao su
34,6
36,7
28,5
35
23
42
31
Nhận xét: Trước can thiệp và sau can thiệp, tỷ lệ người trả lời không có QHTD là tương
đương (34,6 và 35%). Số người này chủ yếu là đối tượng chưa có gia đình, cao tuổi..., ở
những đối tượng còn lại tỷ lệ không sử dụng BCS đó giảm rõ rệt từ 36,7% xuống 23%.
Số người sử dụng BCS tăng từ 28,5% lên 42%.
Bảng 8. Tỷ lệ dùng bơm kim tiêm trong 12 tháng qua, khi ốm đau hoặc tiêm truyền,
có dùng bơm kim tiêm với người khác không (kể cả dùng chung bơm kim tiêm với
người trong gia đình)
Tỷ lệ (%)
Nội dung
Trước can thiệp
Sau can thiệp
Không tiêm chích lần nào
44,8
5,2
50
45
0
Có dùng chung bơm, kim tiêm
Không dùng chung bơm, kim tiêm
55
Nhận xét: Trong 12 tháng qua, số người không tiêm chích khi ốm đau khá cao và tương
đương ở cả 2 thời điểm trước và sau can thiệp (44,8% và 45%). Ở số phải tiêm chích khi
ốm đau, trước can thiệp vẫn có 5,2% trường hợp có sử dụng chung BKT, tuy nhiên sau
can thiệp không có người sử dụng chung BKT.
Bảng 9. Ý kiến nhận xét nhiễm HIV/AIDS là tệ nạn xã hội cần phản đối không
Tỷ lệ (%)
Nội dung
Trước can thiệp
Sau can thiệp
Có
48,9
43,8
4,0
6
86
0
Không
Không biết
Không trả lời
3,0
8
Nhận xét: Trước can thiệp có tới 48,9% đối tượng được hỏi cho rằng nhiễm HIV là tệ
nạn xã hội, sau can thiệp tỷ lệ này giảm xuống chi còn 6%. Số người cho rằng đây chỉ là
một bệnh, người nhiễm HIV cần được quan tâm, thông cảm và chia sẻ chiếm tới 86%.
Bảng 10. Ý kiến về cách ứng xử nếu trong gia đình có người nhiễm HIV/AIDS
Tỷ lệ (%)
Nội dung
Trước can thiệp
Sau can thiệp
Để người nhiễm sống cách ly
Để người nhiễm sống chung với gia đình
Quan tâm chăm sóc người nhiễm
Gửi người nhiễm tới bệnh viện chăm sóc
Không biết
24,4
59,1
80,6
12,2
4,0
2
94
100
4
0
32
Nhận xét: Về việc đối xử với người nhiễm HIV, trước can thiệp có tới 24,4% đối tượng
cho rằng cần cách li, 12,2% số người muốn để người nhiễm HIV tại các CSYT. Tuy
nhiên sau can thiệp, nhận thức và thực hành của người dân đó thay đổi. Số người cho
rằng cần cách li người nhiễm HIV chỉ còn 2%, 94% đồng ý để người nhiễm HIV sống
chung cùng gia đình, 100% số người trả lời sẽ quan tâm, chăm sóc người nhiễm HIV
(trước can thiệp là 80,6%).
3. Kết luận
1. Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có nhận thức đúng về đường lây nhiễm của HIV sau
khi can thiệp đã tăng lên rõ rệt ở cả 3 đường lây chủ yếu:
-
-
-
Qua đường máu: từ 83,6% lên 98%,
Qua đường quan hệ tình dục từ: 80,6% lên 92%,
Từ mẹ sang con: từ 62,2% lên 91%.
2. Tỷ lệ đối tượng có nhận thức đúng về các biện pháp phòng lây nhiễm đã tăng lên
sau khi thực hiện các hoạt động truyền thông: dùng riêng BKT từ 79,5 lên 100%,
dùng BCS khi QHTD từ 85,7% lên 92%...
3. Các đối tượng nghiên cứu sau khi được TTGDSK về HIV/AIDS đã có thái độ
tích cực hơn và thực hiện được các hành vi phòng lây nhiễm HIV như: dùng
BCS khi QHTD với vợ (chồng) bị nhiễm HIV (95%), sử dụng riêng BKT khi cần
tiêm chích (100% số người đó tiêm chích trong 12 tháng qua).
4. Sau can thiệp người dân xã Gia Sinh đã quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ, không xa
lánh, kì thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV: 86% cho rằng đây không
phải là tệ nạn xã hội cần lên án, 100% cho rằng cần quan tâm, giúp đỡ người
nhiễm HIV.
4. Kiến nghị
Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu đã thu được, nhóm nghiên cứu đề xuất một
số kiến nghị như sau:
1. Đề nghị ngành y tế, chính quyền địa phương tiếp tục quan tâm hỗ trợ để duy trì
và củng cố kết quả và hiệu quả đã đạt được.
2. Xây dựng thêm một số mô hình này tại các địa phương khác nhằm từng bước
nhân rộng mô hình truyền thông thay đổi hành vi dựa vào cộng đồng trong
phòng chống HIV/AIDS.
33
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hiệu quả hoạt động truyền thông thay đổi hành vi trong phòng chống HIV/AIDS tại xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, Ninh Bình năm 2009-2010", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_hieu_qua_hoat_dong_truyen_thong_thay_doi_hanh_vi_tr.pdf

