Tài liệu Dinh dưỡng ngăn ngừa bệnh tật

DINH DƯỠNG  
NGĂN NGỪA BỆNH TẬT  
Biên Soạn: Tâm Diệu và Tâm Linh  
Sửa Chữa Bản In: Liên Hương  
In Lần Thứ Nhất Tại Hoa Kỳ 3500 Cuốn Tháng 6 Năm 2001  
---o0o---  
Nguồn  
Chuyển sang ebook 08-08-2009  
Người thực hiện :  
Nam Thiên - [email protected]  
Mục Lục  
CHƯƠNG 01 - THỰC PHẨM RAU ĐẬU NỀN TẢNG CỦA SỨC KHỎE  
CHƯƠNG 02 - TẠI SAO ĂN THỊT ĐỘNG VẬT CÓ NGUY CƠ BỊ  
BỆNH?  
CHUƠNG 03 - TẠI SAO ĂN RAU ĐẬU CÓ THỂ PHÒNG NGỪA ĐƯỢC  
BỆNH TẬT?  
CHƯƠNG 04 - CHỮA TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG BẰNG THỰC PHẨM  
RAU ĐẬU  
CHƯƠNG 05 - CHUYỂN SANG CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG BẰNG THỰC  
PHẨM RAU ĐẬU  
CHƯƠNG 06 - THỰC PHẨM CHÍNH TRONG CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG  
BẰNG THỰC PHẨM RAU ĐẬU  
CHƯƠNG 07 - THỰC PHẨM KHÔNG TỐT CHO SỨC KHỎE CẦN  
LOẠI BỎ  
CHƯƠNG 08 - THỰC PHẨM BIẾN CHẾ  
CHƯƠNG 09 - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶC BIỆT CẦN QUAN TÂM  
CHƯƠNG 10 - CÁC CHẤT GIA VỊ  
CHƯƠNG 11 - MỘT SỐ THỰC PHẨM CÓ DƯỢC TÍNH NGĂN NGỪA  
BỆNH TẬT  
CHƯƠNG 12 - LUYỆN TẬP THỂ DỤC  
CHƯƠNG 13 - GIỚI THIỆU CÔNG THỨC MÓN ĂN  
CHƯƠNG 14 - THỨC ĂN SÁNG  
CHƯƠNG 15 - THỨC ĂN TRƯA  
CHƯƠNG 16 - THỨC ĂN TỐI  
CHƯƠNG 17 - NHỮNG MÓN ĂN ĐẶC BIỆT BA MIỀN VIỆT NAM  
CHƯƠNG 18 - GIẢI ĐÁP CÂU HỎI  
---o0o---  
CHƯƠNG 01 - THỰC PHẨM RAU ĐẬU NỀN TẢNG CỦA SỨC  
KHỎE  
Hai căn bệnh gây chết người nhiều nhất tại Hoa Kỳ là bệnh tim mạch  
và bệnh ung thư. Bệnh tim mạch bao gồm nghẽn mạch vành tim (coronary  
artery disease), nhồi máu cơ tim (heart attack), tai biến mạch máu não (nhồi  
máu não) (stroke), suy tim (congestive heart failure), và nghẽn mạch máu  
chân. Bệnh ung thư bao gồm ung thư vú, ung thư đại tràng và trực tràng, ung  
thư dạ dày, ung thư tuyến tiền liệt và các bệnh ung thư khác.  
Cả hai loại bệnh trên, theo các nghiên cứu khoa học cho biết, đều có liên hệ  
mật thiết với thực phẩm nhiều chất đạm thịt và nhiều chất béo, bao gồm cả  
chất béo bão hòa, chất béo không bão hòa, chất cholesterol mà chúng ta ăn  
hàng ngày.  
Được biết khi chúng ta ra đời, toàn bộ hệ thống mạch máu của chúng ta sạch  
sẽ, máu luân lưu dễ dàng và trái tim bơm máu làm việc bình thường. Dần dà  
theo thời gian mạch máu chúng ta nhỏ dần lại do chất cholesterol xấu LDL  
tích tụ xung quanh bờ thành mạch máu, và do đó trái tim phải bơm mạnh  
hơn, gây áp xuất máu gia tăng, đây gọi là áp huyết cao (high blood pressure)  
và là yếu tố nguy hiểm chính trong các yếu tố nguy hiểm dẫn đến bệnh tim  
mạch.  
Lượng cholesterol trong máu được cung cấp bởi hai nguồn: (1) thực phẩm  
do chúng ta ăn từ bên ngoài, và (2) do sự chế tạo của gan qua sự kích thích  
chất béo bão hòa.  
Nếu chúng ta ăn nhiều thực phẩm chứa nhiều cholesterol như mỡ, thịt, nội  
tạng của thú vật (gan, lòng, tim, cật), tôm, cua, bơ, sữa, trứng thì sẽ dễ bị cao  
cholesterol.  
Vì gan của chúng ta chế tạo ra chất cholesterol qua sự kích thích chất béo  
bão hòa. Do đó, dầu thảo mộc hay chất mỡ động vật cũng làm tăng  
cholesterol.  
Nếu gan của chúng ta tạo ra nhiều cholesterol mặc dù chúng ta ăn ít thực  
phẩm chứa chất cholesterol hay ít dầu, mỡ thì lượng cholesterol trong máu  
cũng sẽ tăng cao.  
Gan tạo ra nhiều hay ít cholesterol sẽ tùy thuộc vào yếu tố di truyền  
(genetics). Những yếu tố khác như ít tập thể dục và mập cũng có thể làm gia  
tăng lượng cholesterol trong máu.  
Thật ra cholesterol là một chất cần thiết cho cơ thể. Tuy nhiên khi lượng  
cholesterol lên cao, nó sẽ trở thành nguy hiểm. Chúng làm các mạch máu  
nhỏ hẹp lại, để cuối cùng làm tắc nghẽn các mạch máu này. Quá trình này  
diễn tiến âm thầm, chậm chạp qua nhiều năm tháng. Tùy theo nơi bị tắc  
nghẽn mà triệu chứng thay đổi khác nhau.  
Khi mạch máu tim bị nghẹt người bệnh thường cảm thấy tức ngực phía bên  
trái. Kèm theo cơn đau là cảm giác khó thở, ra mồ hôi. Đây là dấu hiệu báo  
trước chúng ta sẽ bị nguy hiểm vì chứng nhồi máu cơ tim (heart attack) có  
thể xảy ra.  
Khi mạch máu dẫn tới bộ óc, trung tâm điều khiển mọi hoạt động của con  
người, bị tắc nghẽn thì phần cơ thể tương ứng sẽ bị tê liệt. Thường thấy nhất  
là nửa thân người bỗng nhiên bị bại xuội, đồng thời không nói được. Nhiều  
khi bệnh xuất hiện như những cơn tê nhẹ thoáng qua ở một bên người. Đây  
là dấu hiệu báo động cho một tai họa có thể xẩy ra bất cứ lúc nào. Tai họa  
này có thể là chứng bán thân bất toại như kể trên hay là một cơn hôn mê  
trầm trọng có thể nguy hiểm đến tính mạng.  
Hiện tại phương pháp chữa trị chứng cao cholesterol bằng cách uống thuốc,  
chỉ có tác dụng ngăn cản hay làm chậm lại sự tiến triển của căn bệnh. Chưa  
có phương cách nào hàn gắn các tổn hại trên các mạch máu này. Vì thế  
phòng ngừa bằng cách ăn uống đúng cách và tập luyện thể lực lẫn tinh thần  
thường xuyên là phương pháp hay nhất để chống lại các biến chứng nguy  
hiểm của bệnh cao cholesterol.  
Đối với bệnh ung thư, các nhà khoa học cũng cho biết mỡ động vật như mỡ  
heo, mỡ bò, và bơ sữa, chứa một hàm lượng lớn chất cholesterol và chất béo  
bão hòa (saturated fat), có khuynh hướng thúc đẩy một số tế bào ung thư nào  
đó phát sinh, nhất là ung thư vú. Sự chuyển hóa thành năng lượng của chúng  
có tác dụng đối với kích thích tố nữ, mà kích thích tố nữ lại có tác dụng thúc  
đẩy sinh ra ung thư vú, ung thư thân tử cung và ung thư buồng trứng.  
Các nhà khoa học ở khắp nơi trên thế giới đã mất nhiều chục năm để tìm ra  
nguyên nhân gây nên hai loại bệnh trên và họ kết luận rằng chỉ có một chế  
độ dinh dưỡng ít chất béo, nhiều ngũ cốc lứt (nguyên chất, chưa chế biến),  
rau đậu, trái cây tươi và các thức ăn giầu chất xơ khác có thể giúp ngăn ngừa  
các bệnh tim mạch và ung thư. Họ cũng khẳng định chế độ ăn nhiều thịt,  
ca,ù bơ, sữa, của người Tây Phương không thế nào không sinh ra bệnh được,  
bởi vì chức năng sinh lý của con người thích hợp nhất với một chế độ dinh  
dưỡng bằng thực phẩm từ nguồn thực vật. Báo Newsweek, trong số đầu của  
thập niên 1980 đã cảnh giác: "Thực đơn quá dồi dào của người Hoa Kỳ đã  
là nguyên nhân của nhiều chứng bệnh nghiêm trọng và sẽ còn tệ hại hơn  
nữa. Các nhà nghiên cứu nay đã được thấy rõ thực phẩm của họ trên bàn ăn  
là nguyên nhân chính của các căn bệnh tim mạch và ung thư."  
Bác sĩ Neal Barnard, M.D., bác sĩ Dean Ornish, M.D., bác sĩ McDougall,  
M.D., và bác sĩ Mitchel Gaynor, M.D., là bốn vị bác sĩ trong số các vị bác sĩ  
nổi tiếng của hậu bán thế kỷ thứ 20, đã đi tiên phong trong việc phòng ngừa  
và trị liệu bệnh tật bằng thực phẩm rau đậu, một thứ alternative foods cho  
alternative medecine. Cả bốn vị bác sĩ đã xuất bản rất nhiều sách viết về  
cách phòng ngừa bệnh tim mạch và ung thư bằng thực phẩm rau đậu. Họ  
khuyên bệnh nhân nên bỏ ăn thịt cá, chỉ nên ăn rau, đậu, ngũ cốc lứt, trái  
cây, luyện tập thể lực và tinh thần thường xuyên.  
Thực phẩm rau đậu, mà dân chúng Hoa Kỳ quen gọi là "healthy foods"  
mang lại cho chúng ta nhiều lợi ích về sức khỏe, có khả năng làm giảm chất  
cholesterol trong máu, tức giảm thiểu mức độ lâm bệnh tim mạch. Ngoài ra  
chúng cũng có khả năng ngăn ngừa các bệnh ung thư, bệnh tiểu đường, bệnh  
xốp xương cùng là các triệu chứng rối loạn tiền mãn kinh nơi phụ nữ. Các  
nhà khoa học thuộc các nghiên cứu học viện Hoa Kỳ NCI, NRC, và PCRM,  
khuyên chúng ta sáu điều: (Soạn giả tổng hợp)  
1.Không ăn nhiều chất béo nói chung, và nên loại bỏ hoàn toàn chất mỡ  
thịt động vật, vốn saün chứa nhiều chất cholesterol và chất béo bão hòa  
(saturated fat).  
2. Nên ăn nhiều và thường xuyên các thực phẩm rau, đậu, ngũ cốc lứt  
và trái cây có tiềm năng chống ung thư: Những loại rau có mầu đậm như  
xanh đậm và vàng hay đỏ, có chứa phytochemicals: beta carotene,  
carotenoids, dithiolthiones, lycopene, lutein, genistein, isoflavones; vitamin  
C, E, folic acid, calcium, và nhiều chất bổ dưỡng khác, như broccoli, bí rợ  
(kabocha), khoai lang (sweet potato, yam), cà rốt, cà chua, hột đậu nành, vân  
vân. Những thứ này đều có tác dụng nâng cao khả năng loại tế bào chống tế  
bào ung thư, chống lại sự tấn công của sự ốc xít hóa, đồng thời có tác dụng  
thúc đẩy nhu động của ruột, thải bỏ nhanh chất độc hại ra khỏi cơ thể.  
Những thức ăn khác như hành, tỏi, cần tây có chứa chất allyl sulfides cùng  
những thức ăn có chứa nhiều chất selenium, axit folic, và những loại có chứa  
nhiều chất molybdemum, như bí đỏ, rau cải trắng vân vân cũng có tác dụng  
chống ung thư.  
3. Ăn nhiều loại thực phẩm khác nhau: Trong thức ăn thiếu một thành  
phần nào đó lâu dài dễ gây ung thư như thiếu các loại viatmin A, vitamin  
B2, vitamin C, vitamin E, và chất xơ, trong thời gian dài có thể dẫn đến ung  
thư ruột và ung thư dạ dày. Vì vậy trong khẩu phần ăn hàng ngày cần phải  
làm cho cơ thể hấp thu đủ các loại chất dinh dưỡng, vitamin, chất khoáng,  
chất xơ, và nước đầy đủ mới có thể sống khoẻ mạnh, chống được bệnh tật,  
nhất là bệnh ung thư. Nên nhớ là không có bất kỳ một loại thực phẩm đơn  
độc nào bao hàm đầy đủ các chất dinh dưỡng mà cơ thể cần đến.  
4. Nên thay đổi thói quen ăn uống không hợp ly,ù như thích ăn các thức  
ăn quá cay, quá chua, quá nóng, quá lạnh hoặc quá cứng, ăn như vậy sẽ kích  
thích hệ thống ruột và niêm mạc dạ dày, dễ sinh viêm, hình thành những ổ  
loét, tạo cơ sở sinh bệnh ung thư. Tránh ăn nhanh, nuốt vội, làm cho nước  
bọt không tiết ra đầy đủ, gây trở ngại cho tiêu hoá và không phát huy được  
tác dụng chống ung thư của nước bọt. Tránh ăn nhiều và thường xuyên các  
loại thức ăn chiên, nướng, hun khói cũng như các loại dưa muối, vì những  
thức ăn này có thể sinh ra chất gây mầm mống ung thư.  
5. Những thực phẩm khô, như bắp, đậu phộng, đậu nành, gạo v...v... để  
lâu bị mốc, có thể sinh ra chất corporin. Chất này chịu được nhiệt độ cao,  
chịu được axít, khi nấu ăn, khó có thể phá huỷ được nó. Chính nó lại là chất  
gây mầm mống ung thư. Cho nên phải cẩn thận, khi bị mốc, phải vo, đãi, rửa  
nhiều lần thật sạch và nấu bằng nồi áp suất mới có thể giết chết được các  
mầm mốc, phá huỷ được chất corporin.  
6. Cần bỏ hẳn rượu và thuốc lá: Thực tế hút thuốc lá gây nên ung thư đã  
được cả thế giới công nhận. Người nghiện thuốc lá hoặc hút nhiều thuốc lá  
dễ bị ung thư phổi. Uống rượu có tác dụng kích thích trực tiếp rất mạnh đối  
với dạ dày, dễ gây viêm dạ dày. Người nghiện rượu, tỷ lệ phát sinh viêm dạ  
dày tới 80%. Lượng rượu nhiều vào cơ thể sẽ sinh xơ cứng gan, dễ phát triển  
thành ung thư gan. Đặc biệt vừa uống rượu, vừa hút thuốc là cực kỳ nguy hại  
đối với sức khoẻ con người.  
Trong sáu điều khuyến cáo trên, có hai điều quan trọng đầu tiên đã được bác  
sĩ Neal D. Barnard, M.D., khai triển thành một chính sách dinh dưỡng mới  
"The New Four Food Group" cho người dân Hoa Kỳ vào năm 1991ø. Ông  
và hội đồng y khoa gồm 3.400 bác sĩ, do ông làm chủ tịch, đã khuyên chúng  
ta nên thiết lập một kế hoạch ăn uống cho có đầy đủ chất bổ dưỡng để bảo  
vệ sức khỏe và ngăn ngừa bệnh tật bằng cách: (1) Thay thế hoàn toàn các  
thực phẩm có nguồn gốc thịt động vật (animal sources) bằng các thực phẩm  
có nguồn gốc thực vật (plant foods). (2) Thay thế các thực phẩm tinh lọc  
(refined foods) và thực phẩm biến chế (processed foods) bằng thực phẩm  
nguyên chất chưa tinh lọc (unrefined foods). (3) Giảm các thực phẩm đóng  
hộp hay thay thế hẳn các thực phẩm này bằng thực phẩm tươi (fresh), đông  
lạnh (frozen) và khô.  
Thực phẩm có nguồn gốc thịt động vật bao gồm thịt, cá, chim, tôm, cua,  
sò, ốc, hến và trứng bơ, cheese, sữa; chứa nhiều chất cholesterol, chất béo  
bão hòa, chất đạm và hầu như không có chất xơ (fiber) và chất carbohydrate.  
Trong khi đó thực phẩm có nguồn gốc thực vật, không những không có chất  
cholesterol, mà lại có rất ít chất béo bão hòa và có chứa rất nhiều chất xơ  
cũng như nhiều chất đường complex carbohydrate. Ngoài ra, lại còn có  
nhiều chất phytochemical, một loại hóa chất có tiềm năng chống ung thư.  
Thực phẩm tinh lọc và biến cheá ăn ngon miệng, nhưng giảm giá trị dinh  
dưỡng và làm mất đi rất nhiều chất xơ. Thí dụ như các loại bột, gạo trắng, và  
đường cát trắng v..v... Dầu thảo mộc cũng được xem là loại thực phẩm tinh  
chế vì nó được biến chế từ hạt bắp ngô, đậu nành, mè, olive, và các thực vật  
khác. Khi lấy chất dầu người ta đã loại bỏ nhiều chất dinh dưỡng như  
protein, chất sinh tố vitamin, và chất xơ.  
Để thực hiện điều đó, bác sĩ Neal D. Barnard đã đề ra bốn nhóm thực phẩm  
mới (Four New Food Groups), thay thế hoàn toàn cho thịt cá như sau:  
Nhóm Ngũ Cốc Nguyên Chất (whole grains), bao gồm gạo lứt tẻ (brown  
rice), gạo lứt nếp (sweet brown rice), bánh mì lát làm bằng bột lúa mì  
nguyên chất (whole wheat), bột mì nguyên chất (whole flour), yến mạch xay  
(rolled oats), hạt kê (millet) và lúa mạch (barley). Những thứ này chứa nhiều  
chất xơ, đường complex carbohydrates, và có một số chất sinh tố vitamin B,  
vitamin E, chất khoáng minerals, protein và hầu như không có chất béo.  
Một nghiên cứu mới nhất cho hay những phụ nữ ăn ngũ cốc nguyên chất (3  
servings whole grains per day) đã giảm độ nguy cơ lâm bệnh tim mạch tới  
30%. Ngũ cốc nguyên chất cũng giúp kiểm soát độ đường trong máu của  
những người bị bệnh tiểu đường. Nên nhớ gạo trắng không phải là loại ngũ  
cốc nguyên chất. Ngoài ra, đa phần thực phẩm ăn sáng cereal là loại refined  
grains, ngọai trừ Multi-grain Cheerios Plus và Quaker Oatmeal (cháo bột  
yến mạch) là loại whole grains. (Chủ yếu của nhóm này là gạo lứt, yến mạch  
và kiều mạch)  
Nhóm Đậu (Legumes), bao gồm các loại đậu khô như đậu nành, đậu xanh,  
đậu đỏ, đậu đen, đậu lentil, đậu pinto, đậu lima, đậu navy, và đậu tươi như  
đậu Hà Lan (snow peas), đậu ngọt (snap peas), đậu que, đậu đũa. Có nhiều  
loại đậu đặc biệt cho một địa phương nào đó như đậu pinto ở các quốc gia  
vùng Trung Nam Mỹ Châu, đậu đen ở Mexico, navy beans ở Anh Quốc và  
Boston. Đậu là loại thực phẩm chứa nhiều protein, chất xơ, đường  
carbohydrate, chất sắt và calcium. (Chủ yếu của nhóm này là đậu nành và  
các phó sản của đậu nành - Lời người viết)  
Nhóm Rau (Vegetables), bao gồm rất nhiều loại rau, như bông cải trắng  
(cauliflower), bông cải xanh (broccoli), bắp cải (green cabbage), cải bắp  
thảo (Chinese cabbage), cải xanh (mustard green), cải ngọt (yu choy), cần  
Tầu (Chinese celery), xà lách xanh (green leaf), xà lách búp (lettuce), xà  
lách Boston (Boston lettuce), củ sắn (jicama), bí lông (moqua), bí rợ  
(kabocha), củ cải trắng (daikon), khoai mỳ (yucca) khoai lang (sweet potato,  
yam)..v..v.., nhưng nhiều bổ dưỡng nhất vẫn là broccoli. Chỉ một cup  
broccoli cắt nhỏ cung cấp 90% hàm lượng vitamin A dưới dạng beta  
carotene cần thiết hằng ngày, 200% hàm lượng viatmin C, 25% chất xơ cần  
thiết, và một số lượng nhỏ calcium, niacin, thiamin, và phosphorus. Một cup  
broccoli cung cấp 45 calories.  
Nhóm Trái Cây, bao gồm nhiều loại khác nhau, đa số đều có chứa nhiều  
vitamin, như vitamin C, và chất khoáng. (Chủ yếu của nhóm này là cam,  
bưởi, táo, apricot và nho - Lời người viết)  
Hạt (nuts and seeds) không được sắp vào bốn nhóm thực phẩm trên vì chúng  
có chứa nhiều chất béo, nên chỉ được xem là thức ăn chơi, ngoại trừ hạt  
flaxseed, chứa một vài chất phytochemicals có khả năng ngừa các mầm  
mống ung thư vú, và có tác dụng antioxidants, đồng thời nó cũng có chất  
béo tốt loại Omega-3 fatty acids, làm giảm cholesterol xấu LDL.  
Nói tóm lại, thực phẩm rau đậu là nền tảng của sức khỏe, bởi vì chúng  
không có chất cholesterol, rất ít loại chất béo bão hòa, nhiều chất  
phytochemicals và chất xơ. Do đó chúng có khả năng làm giảm chất  
cholesterol trong máu, tức giảm thiểu mức độ lâm bệnh tim mạch. Ngoài ra  
chúng cũng có khả năng ngăn ngừa các bệnh ung thư, bệnh tiểu đường, bệnh  
xốp xương cùng là các triệu chứng rối loạn tiền mãn kinh nơi phụ nữ.  
---o0o---  
CHƯƠNG 02 - TẠI SAO ĂN THỊT ĐỘNG VẬT CÓ NGUY CƠ BỊ  
BỆNH?  
Theo các nhà khoa học, có sáu yếu tố mà những người ăn thịt có nguy  
cơ mắc bệnh, phần lớn là bệnh tim mạch và ung thư: (1) Trong thịt động vật  
và những phó sản liên hệ như trứng, bơ, pho mát và sữa có chứa nhiều chất  
cholesterol và chất béo bão hòa (2) Thịt động vật không có chất xơ và  
carbon hydrate (3) Tiêu thụ thịt động vật và các sản phẩm bơ sữa làm yếu hệ  
tiêu hóa dẫn đến nhiều dạng rối loạn đường ruột (4) Chất độc của các loại  
thức ăn do công nghiệp chế biến và phương pháp nuôi súc vật theo kiểu hiện  
đại mang lại (5) Nhiễm trùng trong thịt động vật, và (6) Chất đạm protein  
thịt động vật.  
(1)Cholesterol và chất béo bão hòa: Cholesterol chỉ có trong thịt, trong lòng  
đỏ trứng, bơ, pho mát, sữa và tôm cá, mà không có trong các thực phẩm có  
nguồn gốc thực vật.  
Do cholesterol không thể hòa tan trực tiếp vào máu, nên tự nó tìm cách gắn  
vào các protein, vốn có thể tan được, để đi vào máu. Tuy nhiên, lượng  
cholesterol cao, nhất là loại cholesterol xấu LDL luôn luôn có khuynh hướng  
tích tụ chung quanh các thành động mạch, gây ra hiện tượng co thắt động  
mạch và làm hạn chế sự lưu thông của dòng máu.  
Ngoài vấn đề sinh ra các bệnh liên hệ đến tim mạch, nhiều cholesterol và  
chất béo bão hòa còn có khuynh hướng thúc đẩy một số tế bào ung thư nào  
đó phát sinh, nhất là ung thư vú. Sự chuyển hóa thành năng lượng của chúng  
có tác dụng đối với kích thích tố nữ, mà kích thích tố nữ lại có tác dụng thúc  
đẩy sinh ra ung thư vú, ung thư tử cung và ung thư buồng trứng.  
Chất béo, nhất là chất béo bão hòa dư thừa có thể bị tích tụ ở gan, đây là  
nguyên nhân chính gây ra ung thư gan. Tưởng cũng cần nói thêm, cơ thể  
chúng ta tự sản xuất đủ lượng cholesterol cần thiết hàng ngày mà không cần  
tiêu thụ thêm các thực phẩm thịt cá từ bên ngoài đem vào.  
Bằng Chứng Y Khoa:  
- Một công trình nghiên cứu lớn nhất thế giới được thực hiện từ năm 1949  
và vẫn con đang tiếp diễn đến ngày nay với 5.000 người nam và người nữ  
tham dự ở Framingham, Massachusetts. Trong số những kết quả được công  
bố là những người đàn ông 50 tuổi có lượng cholesterol cao hơn 295 mg/dl  
có mức độ nguy cơ lâm bệnh nhồi máu cơ tim nhiều hơn 9 lần những người  
có lượng cholesterol 200 mg/dl. Ngoài ra họ không tìm thấy một người nào  
có lượng cholesterol dưới 150 mg/dl bị nhồi máu cơ tim.  
- Trong nghiên cứu thí nghiệm với 557 ca bệnh và 826 ca thí nghiệm năm  
1981 các nhà nghiên cứu đã cho biết nguy cơ liên quan đến ung thư vú tăng  
lên cùng với việc tiêu thụ thịt bò và các loại thịt khác.  
- Trong một nghiên cứu lớn khác tại Pháp năm 1986 với hàng ngàn phụ nữ  
cho thấy nguy cơ gia tăng ung thư vú là do hấp thụ những sản phẩm từ sữa  
vào cơ thể. Phụ nữ ăn pho mát thường xuyên có nguy cơ mắc bệnh cao hơn  
50% so với những người không ăn pho mát. Những phụ nữ uống sữa bò  
thường xuyên cũng có nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn 80%.  
(2)Không Có Chất Xơ Trong Thịt Động Vật: Chất xơ là một chất chỉ có  
trong thực vật, không có trong thịt động vật. Nó có nhiệm vụ giúp thực  
phẩm di chuyển dễ dàng trong hệ tiêu hóa và làm giảm lượng cholesterol dư  
thừa trong máu. Ăn ít chất xơ thường gây nên táo bón, bệnh về sự tiêu hóa  
và các rối loạn khác. Chất xơ được phân ra làm hai loại, loại hòa tan được  
(solube fiber) và loại không hòa tan được (insolube fiber). Loại hòa tan có  
nhiều trong cám gạo (rice bran) và cám yến mạch (oat bran), có khả năng  
làm giảm cholesterol; còn loại không hòa tan có nhiều trong cám lúa mì  
(wheat bran), không giúp mấy trong việc giảm cholesterol, nhưng giúp cho  
nhuận trường.  
Bằng Chứng Y Khoa  
- Trong các phòng thí nghiệm, các nhà khoa học của Tổ Chức Y Tế Hoa Kỳ,  
năm 1991 đã khám phá rằng chế độ ăn uống giầu chất xơ sẽ làm giảm nguy  
cơ gây ung thư ở chuột khoảng 50%.  
- Hai nhà nghiên cứu khoa học là Drs. E. Graft và J.W. Eaton, cho biết rằng  
nhiều thực phẩm giầu chất xơ lại có nhiều chất phytate, như đậu nành chẳng  
hạn. Họ cho rằng những loại thực phẩm này bảo vệ chúng ta khỏi bị bệnh  
ung thư kết tràng (colon cancer) không những vì chất xơ mà còn vì chất  
phytate  
- Các nhà khoa học đã báo cáo năm 1980 là sự gia tăng cả hai loại ung thư  
liên quan đến đường ruột, đều do sự gia tăng calories, cholesterol, chất béo  
và chất đạm thịt. Nguy cơ cao nhất vẫn là chất béo bão hòa.  
- Năm 1974 những nhà nghiên cứu của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ  
cho biết có sự liên hệ ung thư đường ruột với mức tiêu thụ thịt bò cao. Bằng  
chứng cho biết rằng thịt, nhất là thịt bò, là món gây nên các khối u ác tính  
trong ruột già.  
- Cuộc nghiên cứu năm 1975 cho biết những con thú trong phòng thí nghiệm  
được nuôi tới 35% mỡ bò thì có khối u ác tính đường ruột tăng lên đáng kể.  
(3)Tiêu thụ thịt động vật và các sản phẩm bơ sữa làm yếu hệ tiêu hóa dẫn  
đến nhiều dạng rối loạn đường ruột. Rau đậu và ngũ cốc không bị phân hủy  
trước khi chúng ta ăn, ngược lại chất đạm thịt động vật bị hư ngay khi con  
vật vừa bị giết. Để làm ngưng sự phân hủy, người ta đã phải ướp lạnh hay  
dùng hóa chất, nhưng sự hư rữa sẽ trở lại ngay, khi chúng ta đưa chúng vào  
bao tử và cho đến khi vào đến đại tràng thì sự thối rưã trở nên nặng và tạo ra  
những vi sinh độc hại. Đó là chưa kể đến việc tiêu hóa chúng trong hệ thống  
tiêu hóa con người rất chậm (chậm hơn rau, đậu, mễ cốc và trái cây tới bốn  
lần), nên rất dễ gây ra tình trạng độc hại, dễ ung thư đường ruột.  
(4)Chất độc của các loại thức ăn do công nghiệp chế biến và phương pháp  
nuôi súc vật theo kiểu hiện đại mang lại. Một lý do khác nữa là thịt động vật,  
nhất là thịt động vật được nuôi tại Hoa kỳ và các nước kỹ nghệ tiền tiến,  
được xử lý với nhiều chất hóa học để làm chúng mau lớn, béo nhanh, tránh  
bệnh tật. Một số chất trong những chất hóa học này không thể nào tiêu hóa  
được hết, chúng còn tồn đọng trong thịt và được phát hiện là những hóa chất  
gây ung thư. Khi phát hiện một con vật có một khối u trong một bộ phận nào  
đó của cơ thể, họ chỉ cắt bỏ phần đó mà thôi, phần còn lại có thể có tế bào  
nhiễm ung thư vẫn được tiếp tục sản xuất dưới các hình thức khác như thịt  
bầm, thịt lát hay hot dogs. Những phần cắt bỏ, tiếc thay, được tập trung lại  
với những chất phế thải khác của lò sát sinh và hàng tỷ pound phân gà lấy từ  
các xưởng chăn nuôi gà trộn lại thành thức ăn mới cho heo, bò và gà, bất kể  
những thức ăn này có nhiễm các mầm mống gây ung thư hay bệnh truyền  
nhiễm.  
(5)Nhiễm trùng trong thịt động vật: Trung tâm kiểm soát bệnh dịch CDC ở  
Atlanta ước tính mỗi năm ở Hoa Kỳ có khoảng 80 triệu trường hợp bị mắc  
bệnh do thực phẩm gây ra, trong số đó có 9000 người chết. Vi khuẩn  
salmonella gây ra 4 triệu người ngộ độc trong đó có gần 1000 người chết. Vi  
khuẩn campylobacter, loại vi khuẩn gây ra bệnh viêm cấp tính đường tiêu  
hóa, gây ra 6 triệu người bị bệnh mỗi năm và có khoảng 400 người chết. Vi  
khuẩn E-coli, một loại vi khuẩn tìm thấy trong trong thịt bò nhiễm độc của  
cơ sở sản xuất thịt Hudson Foods và Sara Lee gây ra 250 người chết và làm  
cho 20 ngàn người lâm bệnh mỗi năm. Trong năm 1994 USDA đã thăm dò  
và tìm thấy 15% thịt bò có mang vi khuẩn E-coli, 30% thịt gà có vi khuẩn  
salmonella, và 60 đến 80% thịt gà có vi khuẩn campylobacter.  
Trong các thực phẩm đồ biển cũng có một loại vi khuẩn mang tên Vibrio  
vulnificus, đã gây ít nhất cho 87 người chết từ năm 1989. Người ta cũng  
thấy có cả siêu vi khuẩn hepatitis A trong trai sò (shellfish). Chính bác sĩ  
McDougall nói rằng: "Tôi không khuyên mọi người ăn thịt gà và cá để thay  
cho thịt bò và heo, bởi vì như vậy không có thay đổi gì hết. Dinh dưỡng như  
vậy vẫn nguy hiểm vì vẫn nhiều chất béo, nhiều chất cholesterol, không có  
chất xơ và vẫn có chất độc ô nhiễm".  
(6)Chất đạm thịt động vật (animal protein): Chất đạm thịt động vật có tác  
dụng nâng cao lượng cholesterol trong máu khi so sánh với chất đạm có  
nguồn gốc từ ngũ cốc. Một nghiên cứu cho biết là chất đạm thịt bò gia tăng  
lượng cholesterol trong máu tới 19 phần trăm và áp huyết tâm thu cũng gia  
tăng theo.  
Nói tóm lại, nguyên nhân gây bệnh tật chính là do ăn thịt động vật, các nội  
tạng thú vật, ca,ù tôm, cua, so,ø ốc, hến và trứng, bơ, sữa, và cũng vì thế,  
bốn vị bác sĩ nổi tiếng trong giới y khoa thế giới mà chúng tôi đã đề cập đến  
trong chương trước, đã khuyến cáo chúng ta nên phòng bệnh hơn là chữa  
bệnh bằng cách từ bỏ ăn thịt cá và thay thế vào đó là ăn rau, đậu, ngũ cốc  
nguyên chất và trái cây, mà ngày nay người Hoa Kỳ thường gọi là "healthy  
foods". Khoa học đã chứng minh dinh dưỡng bằng cá thịt không tốt, mang  
lại nhiều căn bệnh hiểm nghèo như tim mạch, ung thư, tiểu đường, vân vân.  
---o0o---  
CHUƠNG 03 - TẠI SAO ĂN RAU ĐẬU CÓ THỂ PHÒNG NGỪA  
ĐƯỢC BỆNH TẬT?  
Trong nhiều thập niên qua, chúng ta đã biết ngũ cốc, rau đậu và trái  
cây đã cung cấp cho chúng ta nhiều chất dinh dưỡng cần thiết để duy trì sức  
khỏe, như vitamins, minerals, fiber, và complex carbohydrates. Nhiều  
nghiên cứu khoa học đã liên tục chứng minh ăn nhiều rau, trái cây và đậu hạt  
có thể giảm mức độ lâm bệnh tim mạch và ung thư. Bởi vì chúng không có  
cholesterol, ít chất béo bão hòa, và có nhiều chất xơ.  
Gần đây, các nhà khoa học đã khám phá thêm một nhóm chất mới có chứa  
trong rau, trái cây và đậu hạt, có khả năng phòng vệ cho cơ thể chúng ta  
tránh được nhiều thứ bệnh và làm chậm tiến trình lão hóa. Đó là chất  
phytochemicals.  
Phytochemical là một loại hóa chất chứa trong thực vật, nhằm giúp cho  
chúng có mầu sắc, mùi vị, và bảo vệ cho chính chúng tránh khỏi sự ác nghiệt  
của thời tiết và các tật bệnh. Đối với con người, phần lớn phytochemicals  
hoạt động chống lại sự ốc xy hóa (antioxidants), bảo vệ các mô tế bào và các  
bộ phận cơ thể chúng ta tránh bị tàn phá bởi free radicals.  
Free radicals là những độc tố (toxic oxygen molecules) tiết ra bởi khói  
thuốc, khói xe, không khí ô nhiễm, tia nắng mặt trời, tia quang tuyến x-rays,  
và phó sản của tiến trình biến hóa năng lượng (by-product of our  
metabolism) trong cơ thể chúng ta. Free radicals, tạm dịch là "gốc tự do", là  
những cấu trúc hóa học không ổn định và rất dễ gây phản ứng, vì ở lớp ngọại  
vi của nó có một điện tử đơn độc, luôn luôn đi tấn công các phân tử kế cận  
để cặp đôi với một điện tử khác, do đó phát sinh ra phản ứng hóa học "ốc xy  
hóa", và các phân tử bị tấn công lại biến thành free radical, sinh ra phản ứng  
dây chuyền. Thêm vào đó, free radical còn tấn công các enzyme và các  
protein của tế bào. Các họat động rối loạn này của free radical làm cho các tế  
bào suy yếu, do đó khả năng biến đổi năng lượng suy giảm và cuối cùng  
sinh ra bệnh tật. Tính phá hoại của free radical đối với toàn bộ các thành tố  
tế bào, đóng vai trò chủ yếu trong quá trình suy yếu con người.  
Các nghiên cứu khoa học cho biết, phytochemicals hiện diện trong mọi giai  
đoạn của tiến trình phát triển ung thư. Một số hoạt động ngay ở giai đoạn  
đầu tiên bằng cách ngăn không cho enzyme kích thích các genes ung thư  
hoặc phòng vệ không cho một số chất thành lập các mầm gây ung thư. Một  
số khác ngăn cản không cho các mầm ung thư đã phát sinh phá hoại các mô  
tế bào, các bô phận cơ thể, hay giúp cơ thể sản xuất các enzymes cần thiết để  
phá hủy các mầm ung thư.  
Phytochemicals cũng giúp cơ thể chống lại các bệnh liên hệ đến tim và  
mạch. Một vài loại phytochemicals có khả năng làm giảm áp huyết máu và  
lượng cholesterol trong máu, cũng như ngăn không cho ốc xy hóa chất  
cholesterol xấu LDL, ngăn ngừa sự hư hại hay tắc nghẽn động mạch.  
Trong thập niên 1970s, Lee Wattenberg, PhD, of the University of  
Minnesota, đã khám phá những con vật được nuôi sống bằng broccoli,  
Brussels sprouts, và các loại rau thuộc họ bắp cải (cabbage family) đã có tỷ  
lệ mắc bệnh ung thư thấp hơn nhóm những con vật khác. Cũng tương tự, các  
nhà khoa học tại John Hopkins University đã tìm thấy những con vật ăn rau  
giảm 90 phần trăm bệnh ung thư sau khi chúng được cho nhiễm ung thư.  
Cũng vậy, trong những năm 1970s, các khoa học gia người Đức đã khám  
phá ra rằng những người Nhật tiêu thụ đậu hũ và các sản phẩm biến chế từ  
đậu nành, mà trong đó có chất genistein, đã có tỷ lệ thấp bị bệnh ung thư so  
với chế độ ăn uống không có đậu hũ của người Tây phương. Dưới đây là  
những kết quả đã tìm thấy:  
Allium compounds (trong hành và tỏi): Một nghiên cứu rộng lớn với 41,000  
phụ nữ, được biết đến với tên là Iowa Women's Health Study đã tìm thấy một  
chế độ ăn uống bao gồm rau, trái cây và tỏi đã giảm mức lâm bệnh ung thư  
kết tràng (colon cancer) đến 35 phần trăm. Một nghiên cứu khác ở thành phố  
Quảng Đông, Trung Hoa cho biết những người ăn hành và tỏi thường xuyên  
giảm mức lâm bệnh ung thư dạ dầy đến 40 phần trăm.  
Lycopenes (trong cà chua và những rau quả có mầu đỏ và mầu da cam): Một  
nghiên cứu của viện y tế Ý Đại Lợi với 5.500 người, đã tìm thấy ăn cà chua  
là phương pháp hữu hiệu nhất phòng ngừa các bệnh ung thư, nhất là ung thư  
nhiếp hộ tuyến. Những người ăn cà chua ít nhất 7 lần trong một tuần đã giảm  
50 phần trăm mức nguy hiểm lâm bệnh ung thư so với những người chỉ ăn  
có một lần trong một tuần. Những nghiên cứu khác cũng cho những kết quả  
tương tự. Một nghiên cứu kéo dài sáu năm tại viện đại học Harvard Medical  
School, với 48.000 đàn ông, tuổi từ 40 đến 75, đã cho biết những người ăn  
cà chua từ bốn đến bẩy lần trong một tuần đã giảm thiểu mức độ lâm bệnh  
ung thư nhiếp hộ tuyến đến 22 phần trăm và những người ăn nhiều hơn  
mười lần một tuần giảm đến 35 phần trăm.  
Beta carotene (trong các trái cây mầu đỏ, mầu da cam và rau mầu xanh  
đậm): Nhiều nghiên cứu khoa học cho biết tiêu thụ nhiều loại rau có chứa  
chất beta carotene này, đã giảm thiểu mức độ lâm bệnh tim mạch đến 33  
phần trăm.  
Lutein and zeaxanthin (chất carotenes trong rau mầu xanh đậm): Một  
nghiên cứu gần đây đã thấy những người ăn các loại rau xanh, như spinach  
và collards, ít nhất năm lần trong một tuần đã giảm mức độ nguy hiểm của  
chứng bệnh mờ võng mạc của mắt đến 50 phần trăm, so sánh với những  
người ăn ít hay không ăn. Hai chất carotenoids, lutein and zeaxanthin, có tác  
dụng bảo vệ võng mạc mắt. The National Health and Nutrition Examination  
Survey tìm thấy ở những người ăn nhiều rau và trái cây cũng có kết quả  
tương tự.  
Genistein (trong đậu nành, đậu xanh và giá alfalfa sprouts): Nhiều nghiên  
cứu cho thấy đậu nành có chứa nhiều chất có khả năng chống ung thư rất  
cao, bao gồm các hóa chất phytates, protease inhibitors, phytosterols,  
saponins and isoflavonoids. Các nghiên cứu khoa học cho biết tiêu thụ nhiều  
thực phẩm đậu nành đã có tác dụng giảm bệnh ung thư vú và ung thư nhiếp  
hộ tuyến ở Nhật Bản. Ở Trung Hoa vùng dân số tiêu thụ nhiều thực phẩm  
đậu nành có tỷ lệ bị bệnh ung thư vú, bao tử, kết tràng, và phổi ít hơn 50  
phần trăm vùng dân số ăn ít hay không ăn. Được biết thực phẩm đậu nành  
như đậu hũ rất giầu chất isoflavones, genistein và diadzein. Những chất  
isoflavonoids này ngăn cản sự phát triển các mầm mống ung thư. Sau đây là  
bảng kê khai những nhóm thực phẩm có chứa nhiều chất phytochemicals  
nhất:  
Thực Phẩm  
Chất Chống UngTác Dụng  
Thư  
Cam, bưởi, chanhLimonene  
Chống ung thư, chống ốc xi  
hóa (antioxidant)  
Carotenoids,  
Flavonoids  
Dâu Tây, baoAnthocyanidins, Cả hai chất này đều có tác  
gồm:  
Ellagic acid  
dụng chống ốc xi hóa, giảm  
sự phát triển các u bứu  
(tumor) bằng cách cản trở  
không cho sản xuất các  
enzymes dùng bởi tế bào ung  
thư. Ellagic acid giúp phòng  
strawberries,  
bluberries,  
blacberries,  
raspberries,  
currants.  
ngừa sự thành lập các tế bào  
ung thư mới. Anthocyanidins  
cũng giúp ngăn ngừa các  
bệnh tim mạch.  
Nho bao gồm redResveratrol,  
grapes, red wine Quercetin,  
Resveratrol bảo vệ các tế bào  
khỏi bị hư hại và chế ngự sự  
Anthocyanidins, phát triển các khối u, ngăn  
Phytosterols,  
ngừa ung thư da và giảm  
cholesterol.  
Ellagic acid  
Quercetin giúp ngăn ngừa  
bệnh tim. Anthocyanidins và  
Ellagic acid tác dụng chống  
ốc xi hóa  
Nhóm trái cây vàCarotenoids nhưChống ung thư, gia tăng sức  
nhóm rau có mầubeta carotene,mạnh của hệ thống miễn  
vàng và mầu camlutein, zeaxanthin nhiễm, bảo vệ võng mạc mắt  
cùng nhóm rau lá  
xanh  
khỏi bị hư hại bởi các tia  
phóng xạ, vì thế giảm nguy  
cơ hư mắt. Nhóm trái cây và  
rau này cũng giầu vitamin C  
và fiber.  
Nhóm Rau XoắnIndoles,  
Được xem là thực phẩm  
bao  
gồm:Isothiocynates, chống  
ung  
thư.  
broccoli, broccoli(sulphoraphane), Sulphoraphane tác dụng gia  
sprouts, BrusselsCarotenoids (betatăng sự sản xuất các  
sprouts,  
cabbage,  
cauliflower  
kale,carotene)  
enzymes, ngăn cản không  
cho các mầm ung thư phá  
hoại các tế bào khác. Giúp  
làm chậm sự phát triển các u  
bứu và giảm nguy cơ lâm  
bệnh  
ung  
thư  
phổi.  
Indolesgiúp kích thích các  
enzymes, giảm sự tác dụng  
chất hormone estrogen,và cải  
thiện sự đáp ứng của hệ  
thống miễn nhiễm cơ thể.  
Giúp giảm nguy cơ lâm bệnh  
ung thư vú và buồng trứng.  
Nhóm rau này cũng giầu  
vitamin B (folic acid),  
vitamin  
carotenoids.  
Nhóm họ tỏi baoAllylic sulfides Chống các mầm ung thư và  
C,  
fiber  
và  
gồm:hành, tỏi, hẹ  
các khối u, giảm nguy cơ  
bệnh ung thư kết tràng colon,  
dạ dày và các thứ ung thư  
khác. Ngăn ngừa các bệnh  
tim mạch.  
Nhóm Đậu baoIsoflavonoids,  
gồm: đậu lima,  
Tác dụng chống ung thư,  
ngăn ngừa các bệnh liên hệ  
đến tim mạch. Phytosterols  
cũng có thể chống ung thư  
kết tràng. Nhóm đậu này  
chứa vitamin B (folic acid)  
và những chất dinh dưỡng  
khác cũng như nhiều chất xơ,  
có tác dụng giảm cholesterol.  
phytic acid,  
kidney,  
lentils...  
navy,  
saponins,  
phytosterols  
Cà Chua  
Carotenoids, phầnĐảm nhiệm chức năng  
lớn là Lycopeneantioxidant, bảo vệ cơ thể  
(cũng có mộttránh không cho sự phá hoại  
lượng nhỏ trongcủa free radical. Lycopene  
trái bưởi hồng,giúp giảm nguy cơ lâm bệnh  
dưa hấu, soài vàtim mạch, ung thư kết ràng  
red peppers)  
(colon), ung thư nhiếp hộ  
tuyến (prostate), và ung thư  
lá lách (pancreatic).Lycopene  
chiến đấu chống ung thư  
bằng nhiều phương cách  
trong đó có cách giảm sự  
hiệu nghiệm của testosterone.  
Saponins trung hòa các hóa  
Ngũ cốc nguyênSaponins,  
chất bao gồmterpenoids, phyticchất gây nên mầm ung thư  
gạo, lúa mì, lúaacid, ellagic acid,trong ruột. Terpenoids và  
mạch  
(barley),phytoestrogens phytic acid giúp giảm nguy  
yến mạch (oats)  
và rye  
cơ bệnh nhồi máu cơ tim và  
ung thư. Cũng giầu chất xơ,  
tác dụng giảm cholesterol và  
giảm nguy cơ bệnh ung thư  
kết tràng.  
Đậu Nành baoIsoflvonoids,  
gồm đậu hũ, sữa,daidzein,  
Giảm cholesterol, ngăn ngừa  
các bệnh tim mạch và bệnh  
các sản phẩm từgenistein, lignans,ung thư  
đậu nành  
saponins,  
phytosterols  
Bí, Khoai lang,Alpha-carotene, Có tác dụng làm chậm lại sự  
bắp ngô, carrots,  
peaches  
cantaloupe,  
apricots, spinach,  
kale  
phát triển các tế bào ung thư,  
giúp giảm thiểu nguy cơ lâm  
bệnh ung thư phổi. Chống sự  
ốc xy hóa. Giúp giảm thiểu  
nguy cơ lâm bệnh tim và các  
loại bệnh ung thư kết tràng  
(colon), bọng đái (bladder),  
và da, cũng như kích thích hệ  
thống miễn nhiễm cơ thể.  
Beta carotene  
(a carotenoid)  
Source: - UC Berkeley Wellness Letter, April 1999: Beyond Vitamins: The  
New Nutrition Revolution  
- The Wellness Encyclopedia of Foods and Nutrition, University of  
California at Berkeley, 1992  
Nói tóm lại, các chất phytochemicals tìm thấy đã được các nhà khoa học đặt  
tên và phân thành bốn nhóm: (1) Nhóm thanh lọc độc tố: Giúp tế bào nhận  
diện, phá hủy và thải hồi các chất độc trong cơ thể. Các độc tố này do nguồn  
thức ăn (các thứ phân bón, thuốc trừ sâu, chất thải thẩm thấu...), do nước  
uống, do khói thuốc, và do không khí ô nhiễm. Nhóm này bao gồm  
limonenes trong cam, chanh, bưởi, isothiocynates trong họ rau cải, ally  
sulfides trong tỏi, hành, hẹ. (2) Nhóm chống ốc xy hóa: là những đội quân  
tác chiến chống lại sự gây rối loạn của free radicals, không cho chúng có cơ  
hội kích thích, tác động các mầm ung thư nảy sinh. Nhóm này bao gồm  
carotenoids trong cà rốt, cà chua, bí ngô, khoai lang, lutein trong các lá rau  
có mầu xanh đậm, lycopen trong cà chua. (3) Nhóm điều hòa tế bào: kiểm  
soát sự phát triển các tế bào nảy u (tumor), ngăn cản không cho chúng tăng  
trưởng. Thí dụ như genistein trong đậu nành. (4) Nhóm điều hòa kích thích  
tố: giúp điều hòa hệ sản xuất kích thích tố, ngăn cản không cho sản xuất khi  
lượng lên cao hơn bình thường và tăng sản xuất khi lượng xuống thấp. Thí  
dụ như isoflavones trong đậu nành và indoles trong nhóm rau cải  
cruciferous vegetables  
---o0o---  
CHƯƠNG 04 - CHỮA TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG BẰNG THỰC  
PHẨM RAU ĐẬU  
Thực phẩm rau đậu có thể ngăn ngừa hữu hiệu bệnh tật, đặc biệt là  
các bệnh thuộc về tim mạch, ung thư, và tiểu đường, đồng thời làm giảm tiến  
trình lão hóa con người. Ngoài ra, thực phẩm rau đậu còn có thể chữa trị  
được bệnh tiểu đường loại II. Trong chương này chúng tôi trình bày chi tiết  
về nguyên nhân và phương pháp chữa trị căn bệnh này bằng chế độ dinh  
dưỡng với thực phẩm rau đậu.  
Được biết, bệnh tiểu đường xảy ra khi cơ thể con người không sản xuất hay  
sản xuất không đủ chất insulin, hoặc sản xuất đủ nhưng không hoạt động  
bình thường. Chất insulin là một loại kích thích tố (hormone) có nhiệm vụ  
hộ tống chất đường đi vào bên trong các tế bào. Khi vắng mặt chất này, chất  
đường không thể vào bên trong các tế bào, và vì thế đường phải được thải  
hồi ra ngoài qua đường tiểu, khi ấy con người cảm thấy mệt mỏi, khát nước  
và giảm cân.  
Có hai loại bệnh tiểu đường. Tiểu đường loại I là loại phụ thuộc insulin và  
tiểu đường loại II không phụ thuộc insulin. Tiểu đường loại I thuờng khởi  
phát ở trẻ em và người lớn trẻ tuổi, nhưng cũng có thể khởi phát ở bất kỳ  
tuổi nào, loại này do cơ thể không thể tự sản xuất, hay sản xuất rất ít insulin;  
còn loại II thường chiếm đa số các bệnh nhân tiểu đường, do cơ thể có đủ  
khả năng sản xuất chất insulin, nhưng insulin lại không hoạt động bình  
thường. Bệnh này thường xảy đến với những người mập trên 30 tuổi, và  
phần lớn gây nên bởi ăn uống và cách sống, nhưng cũng có thể do di truyền.  
Bệnh tiểu đường loại I cần phải chích insulin vào cơ thể để điều hòa lượng  
đường (glucose) trong máu, ngăn ngừa tình trạng nhiễm ketoacid do tiểu  
đường và duy trì sự sống.  
Bệnh tiểu đường loại II có thể chữa trị một cách hữu hiệu bằng cách ăn thực  
phẩm rau đậu, đặc biệt ăn những loại thực phẩm rau đậu ít chất béo, có chỉ  
số đường thấp, đồng thời luyện tập thể dục đều đặn.  
Theo bác sĩ Monroe Rosenthal, M.D., Giám đốc Y Khoa chương trình  
Pritikin Program ở Santa Monica bang California Hoa Kỳ, "chất béo là  
nguyên nhân chánh của bệnh tiểu đường, càng nhiều chất béo trong chế độ  
dinh dưỡng càng làm khó khăn cho insulin đưa đường vào trong tế bào.  
Insulin hoạt động dễ dàng trong điều kiện ít chất béo."  
Các cuộc thử nghiệm điều trị bệnh tiểu đường bằng chế độ thực phẩm rau  
đậu ít chất béo của bác sĩ Monroe Rosenthal M.D., bác sĩ James W.  
Anderson, M.D., và bác sĩ RJ. Barnard, M.D., đều cho kết quả tốt. Một  
nghiên cứu cho thấy rằng 21 bệnh nhân trong số 23 bệnh nhân loại II và 13  
trong số 17 bệnh nhân loại I đã không cần dùng thuốc để điều hòa lượng  
đường trong máu sau 26 ngày thực hiện chương trình ăn uống đặc biệt. Đặc  
điểm của phương pháp trị liệu này là tiêu thụ một số lượng thực phẩm ít chất  
béo, chỉ khoảng 10 phần trăm chất béo loại không bão hòa, 10 phần trăm  
chất đạm, nhiều chất xơ (35 phần trăm), nhiều complex carbohydrate và tập  
thể dục thường xuyên.  
Để thưc hành, có 6 điểm quan trọng cần phải thực hiện nếu muốn đạt kết quả  
tốt: (1) không ăn các thực phẩm có chất cholesterol, (2) không ăn các thực  
phẩm có chứa chất béo bão hòa (saturated fats), (3) không ăn các thực phẩm  
chế biến, các loại tinh bột, các thực phẩm đóng hộp, và các trái cây quá chín,  
(4) Không nấu carbohydrates quá chín (overcooked), (5) không uống rượu,  
hút thuốc, và (6) chọn các thực phẩm có chỉ số đường glycemic index thấp.  
Năm điều đầu trong sáu điều kể trên, quý bạn đã biết qua các chương trước.  
Trong chương này chúng tôi nói rõ hơn về điều thứ sáu, tức việc chọn lựa  
các loại thực phẩm có chỉ số đường thấp.  
Chỉ số đường trong thực phẩm cao có nghĩa thực phẩm đó tạo ra nhiều  
đường trong máu. Thực phẩm có chỉ số đường 96, như chuối chín chẳng hạn  
sẽ tạo ra chất đường trong máu nhiều gấp hai lần loại thực phẩm có chỉ số 50  
như spaghetti. Các nhà khoa học đã liệt kê hơn 200 loại thực phẩm có chỉ số  
từ thấp đến cao. Họ cũng cho biết chất béo không bão hòa thực vật có tác  
dụng làm giảm chỉ số đường khi được cho thêm vào một thực phẩm  
carbohydrate nào đó như bánh mì, có chỉ số 100, nếu thêm bơ (chất béo bão  
hòa), chỉ số tăng lên 120, trong khi đó nếu thêm dầu olive (chất béo không  
bão hòa) thì chỉ số giảm xuống còn 28. Ngoài ra, thực phẩm carbohydrate  
như gạo chẳng hạn, nấu quá chín làm tăng chỉ số đường. Các thực phẩm biến  
chế cũng làm gia tăng chỉ số đường, thí dụ như khoai tây, chỉ số 100 trong  
khi đo,ù khoai tây biến chế dạng instant potatoes là 156, gạo có chỉ số 100,  
instant rice là 178. Dưới đây là bảng liệt kê chỉ số đường được sắp loại theo  
nhóm thực phẩm. Nên chọn những loại có chỉ số thấp, càng thấp càng tốt.  
BẢNG CHỈ SỐ ĐƯỜNG GLYCEMIC INDEX  
NHÓM BÁNH MÌ  
Bánh mì Pháp  
Bánh mì lát (wheat, whole100 Spaghetti, nấu sôi 5 phút  
GI NHÓM MÌ PASTA  
131 Spaghetti, nấu sôi 15 phút  
GI  
67  
64  
meal)  
Bánh mì lát (wheat, white100 Macaroni, nấu sôi 5 phút  
bread)  
Bánh hắc mạch (rye, whole89 Pasta, nấu sôi 5 phút  
meal)  
64  
54  
Bánh hắc mạch lứt rye  
whole grain  
42 NHÓM CEREAL ĂN  
SÁNG  
Bánh mạch (barley, whole93 Rice Krispies (Kellogg's) 112  
meal)  
Bánh yến mạch lứt (oat,93 Puffed rice  
coarse)  
132  
Puffed wheat  
122  
121  
104  
NHÓM GẠO  
Gạo trắng, nấu sôi 14 phút 120 Corn Flakes (Kellogg's)  
Gạo trắng instant nấu sôi 165 40% Bran Flakes  
phút  
Gạo trắng instant nấu sôi 6121 Weetabix  
phút  
109  
Shredded Wheat (Nabisco) 97  
Gạo lứt  
Cám gạo  
NHÓM  
GRAINS  
Bắp  
81  
31 Muesli  
Porridge oats  
96  
89  
CEREAL  
80 Oat bran  
Hạt lúa mạch (barley,36 Oats, rolled  
pearled)  
85  
85  
Hạt kê (millet)  
Kiều mạch (buckwheat)  
103  
78  
Oatmeal, long cooking  
49  
NHÓM  
ĐẬU  
(LEGUMES)  
Hạt lúa mạch đen (rye47 Baked beans, canned  
kernels)  
70  
Hạt lúa mì  
63  
Black eyed peas  
33  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 138 trang yennguyen 17280 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Dinh dưỡng ngăn ngừa bệnh tật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_dinh_duong_ngan_ngua_benh_tat.pdf