Hành vi giảm sử dụng muối của sinh viên Đại học y Hà Nội năm 2020

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
HÀNH VI GIẢM SỬ DỤNG MUỐI CỦA SINH VIÊN  
ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM 2020  
Phạm Thị Thanh Hà và Phạm Bích Diệp  
Viện Y học Dự phòng và Y tế Công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 438 sinh viên (sinh viên) từ năm nhất đến năm sáu của trường Đại  
học Y Hà Nội để mô tả hành vi giảm sử dụng muối và một số yếu tố liên quan. Tỷ lệ sinh viên hiện đang  
thực hành giảm sử dụng muối là 30,6% (23,6% nam và 32,7% nữ). Tỷ lệ sinh viên thực hành các biện pháp  
giảm sử dụng muối trong 12 tháng qua từ 50,7% đến 94,1%. Sinh viên biết khuyến nghị lượng muối tiêu  
thụ của WHO có khả năng thực hành giảm muối cao gấp 1,6 lần sinh viên không biết; sinh viên nghĩ bản  
thân cần giảm sử dụng muối có khả năng thực hành giảm muối cao gấp 4,4 lần sinh viên không nghĩ đến;  
sinh viên nghĩ cần thiết phải giảm muối có khả năng thực hành giảm muối cao gấp 2,5 lần sinh viên không  
thấy cần thiết. Kết quả này cung cấp thêm bằng chứng cho lý thuyết của quá trình thay đổi hành vi là có mối  
liên quan giữa nhận thức, thái độ và thay đổi hành vi. Các chương trình truyền thông cần thực hiện nâng  
cao nhận thức để giúp đối tượng có kiến thức đúng, có thái độ quan tâm và từ đó thực hành ăn giảm muối.  
Từ khóa: Sinh viên, Trường Đại học Y Hà Nội, hành vi giảm sử dụng muối  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Bệnh không lây nhiễm (NCDs) đang là gánh  
nặng y tế lớn của hầu hết các quốc gia. Tính  
đến năm 2018 hơn 71% tương đương với 57  
triệu người tử vong mỗi năm trên toàn cầu do  
NCDs, trong đó có tới 15 triệu người chết ở độ  
tuổi từ 30 đến 69.1 Riêng năm 2016, 78% số  
ca tử vong do NCDs và 85% ca tử vong sớm  
là ở các nước có mức thu nhập thấp và trung  
bình2. Mục tiêu toàn cầu đến năm 2025 là giảm  
30% lượng muối trung bình mà người dân sử  
dụng trên toàn thế giới.2 Hiện nay, Việt Nam  
phải đối mặt với mô hình bệnh tật kép: bệnh  
lây nhiễm và bệnh không lây nhiễm trong đó  
có trên 70% trường hợp tử vong hàng năm ở  
Việt Nam là do bệnh không lây nhiễm. Ăn nhiều  
muối (ăn trên 5 gam muối/ngày/người) có lẽ  
đang là một trong những nguyên nhân chính  
dẫn đến bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam tăng  
nhanh. Tỷ lệ tăng huyết áp tại Việt Nam liên  
tục tăng trong vài thập kỷ qua, từ mức 1% năm  
1960 lên 11,2% năm 1992 và 18,9% năm 2015  
(tương đương 12 triệu người). Trong 5 người  
Việt Nam trưởng thành lại có 1 người bị tăng  
huyết áp, cứ 3 người tử vong thì có 1 người  
tử vong do bệnh tim mạch. Theo kết quả của  
điều tra toàn quốc yếu tố nguy cơ bệnh không  
lây nhiễm năm 2015 của Việt Nam trên đối  
tượng 18 đến 64 tuổi về các hành vi sử dụng  
muối và giảm sử dụng muối chỉ ra rằng trên  
90% người Việt thường xuyên ăn thừa muối;  
mức tiêu thụ muối trung bình của người Việt  
Nam trưởng thành là 9,4 gam/ngày (trong đó  
nam 10,5 g và nữ 8,3g, gấp 2 lần so với khuyến  
cáo của Tổ chức Y tế thế giới là dưới 5 gam/  
người/ngày). Tuy nhiên, mặc dù nghiên cứu chỉ  
ra rằng 90% người Việt thường xuyên ăn thừa  
muối nhưng chỉ có 69,3% đối tượng cho rằng  
bản thân ăn vừa đủ lượng muối khuyến cáo và  
chỉ có 16,1% (nam 19,7% so với nữ 12,4%) cho  
rằng bản thân tiêu thụ lượng muối nhiều hơn  
khuyến cáo.3 Như vậy, phải chăng người dân  
Tác giả liên hệ: Phạm Bích Diệp,  
Trường Đại học Y Hà Nội  
Ngày nhận: 17/05/2020  
Ngày được chấp nhận: 05/08/2020  
TCNCYH 130 (6) - 2020  
191  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
chưa có nhận thức là họ đang ăn nhiều muối  
và tác hại của ăn nhiều muối? Nếu người dân  
chưa nhận biết là bản thân họ đang ăn mặn  
thì Việt Nam cần phải lưu ý trong truyền thông  
nâng cao nhận thức để đạt được mục tiêu năm  
2025 giảm 30% mức tiêu thụ muối toàn dân.4  
Lý thuyết quá trình thay đổi hành vi chỉ ra  
rằng để giúp thay đổi hành vi có lợi cho sức  
khoẻ và nâng cao sức khoẻ, trước tiên cần phải  
để cho đối tượng nhận ra được vấn đề, để cho  
đối tượng thấy sự cần thiết phải thay đổi và khi  
đối tượng nhận ra họ đang có vấn đề và nhận  
thấy cần thiết thay đổi thì họ sẽ thực hành thay  
đổi hành vi, về lâu dài sẽ giúp nâng cao sức  
khoẻ.5  
Sinh viên ĐHYHN hệ đào tạo Đại học chính  
quy  
Thời gian và địa điểm nghiên cứu  
Thời gian nghiên cứu: Tháng 12/2019 đến  
tháng 5/2020  
Thiết kế nghiên cứu  
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, định  
lượng.  
Cỡ mẫu và chọn mẫu  
Cỡ mẫu  
Áp dụng công thức ước tính cỡ mẫu cho  
nghiên cứu mô tả ước lượng một tỷ lệ trên  
quần thể:  
p(1 - p)  
n = Z21 - α/2  
2
∆
Sinh viên Đại học Y Hà Nội (ĐHYHN),  
nguồn nhân lực y tế tương lai đã được trang bị  
các kiến thức chăm sóc sức khoẻ. Kiến thức và  
thực hành của sinh viên Y, những bác sĩ và cán  
bộ y tế tương lai sẽ có ảnh hưởng lớn đến việc  
điều trị và tư vấn cho người bệnh.6 Chính vì thế,  
việc tìm hiểu về hành vi giảm sử dụng muối của  
sinh viên ĐHYHN, những người đã được trang  
bị kiến thức chăm sóc sức khoẻ đã sử dụng  
kiến thức để thực hành hành vi lành mạnh như  
thế nào, cụ thể trong nghiên cứu này là hành vi  
giảm sử dụng muối là rất quan trọng. Kết quả  
nghiên cứu này sẽ cung cấp thêm bằng chứng  
cho lý thuyết của quá trình thay đổi hành vi, từ  
đó có những can thiệp cụ thể để giúp thay đổi  
hành vi của cá nhân.  
Trong đó:  
p: tỷ lệ đối tượng có hành vi giảm sử dụng  
muối. p = 12,5 % là tỷ lệ sinh viên Y khoaAngola  
có thực hiện hành vi ăn giảm muối;7 α = 0,05;  
chọn Δ = 0,05; cỡ mẫu tối thiểu là 169 sinh viên.  
Δ: khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ thu  
được từ mẫu (p) và tỷ lệ của quần thể (P).  
α: mức ý nghĩa thống kê.  
Do chọn mẫu theo lớp học nên cỡ mẫu  
được nhân với hệ số thiết kế là 2, dự phòng  
đối tượng từ chối không tham gia nghiên cứu  
là 10%, cỡ mẫu cần thiết là 372. Như vậy, mỗi  
khối sẽ chọn 62 sinh viên.  
Phương pháp chọn mẫu  
Phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn.  
Giai đoạn 1: chọn sinh viên từ năm thứ nhất  
đến năm thứ sáu. Giai đoạn 2: lập danh sách  
tất cả các lớp sinh viên trong mỗi khối và lịch  
học của mỗi khối (bao gồm cả hệ cử nhân và  
hệ bác sĩ). Chọn một thời điểm bất kỳ để thu  
thập số liệu trên giảng đường, chọn từ 1 đến 2  
lớp theo khối cho đủ lượng sinh viên cần thiết.  
Giai đoạn 3: Mời tất cả sinh viên trong lớp có  
mặt tại thời điểm thu thập số liệu. Do vậy, số  
lượng sinh viên tham gia vào nghiên cứu là 438  
sinh viên.  
Nghiên cứu này được thực hiện với 2 mục  
tiêu như sau:  
- Mô tả thực hành giảm sử dụng muối của  
sinh viên ĐHYHN năm 2020  
- Mô tả một số yếu tố liên quan về nhận  
thức và thái độ đến đang thực hành giảm sử  
dụng muối của sinh viên ĐHYHN năm 2020.  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
1. Đối tượng  
192  
TCNCYH 130 (6) - 2020  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu  
với người trưởng thành”; “tự nhận thức về ăn  
mặn của bản thân”, “bản thân tự nghĩ phải giảm  
sử dụng muối”; biến số về thái độ quan tâm đến  
giảm ăn mặn là “mức độ cần thiết phải giảm ăn  
mặn của bản thân”, biến số thử nghiệm hành vi  
là “đang giảm sử dụng muối”.  
Công cụ thu thập số liệu là bộ câu hỏi gồm 3  
phần. Phần 1 là thông tin chung. Phần 2 là thực  
hành giảm sử dụng muối trong đó có 2 biến số  
chính: thực hiện một trong số 13 hành vi giảm  
sử dụng muối trong 12 tháng qua (các hành vi  
này được thực hiện theo khuyến cáo WHO.8  
Sinh viên tự đánh giá bản thân có thực hành  
từng hành vi cụ thể trong 13 hành vi được nêu  
ít nhất 1 lần trong thời gian 12 tháng qua được  
tính là có thực hành. Bên cạnh đó, nghiên cứu  
sử dụng một biến số khác để đánh giá chung  
hành vi giảm sử dụng muối là “sinh viên tự đánh  
giá bản thân hiện đang thực hiện giảm sử dụng  
muối hay không” sinh viên trả lời hiện đang  
3. Xử lý số liệu  
Số liệu sau khi được thu thập sẽ được kiểm  
tra, làm sạch và nhập vào máy tính bằng phần  
mềm Epidata 3.1 sau đó được xử lý bằng phần  
mềm Stata 13.0. Thống kê mô tả được sử dụng  
để tính tần suất và tỷ lệ phần trăm. Mô hình hồi  
quy logistic được sử dụng để xác định một số yếu  
tố liên quan giữa biến độc lập (nhận thức và thái  
độ) và biến phụ thuộc (hiện đang thực hành giảm  
sử dụng muối).  
thực hiện hành vi giảm sử dụng muối được tính  
là hiện tại có thực hành giảm sử dụng muối.  
Phần 3 là một số yếu tố liên quan đến hành vi  
giảm sử dụng muối được xây dựng dựa trên lý  
thuyết về quá trình thay đổi hành vi gồm 5 câu  
hỏi (lý thuyết này chỉ ra rằng có mối liên quan  
giữa đối tượng nhận ra vấn đề, có thái độ quan  
tâm đến hành vi, thử nghiệm hành vi và thực  
hành hành vi lâu dài)5. Nghiên cứu sử dụng các  
biến số về nhận ra vấn đề: “khuyến cáo của  
WHO về lượng muối nên sử dụng trong 1 ngày  
4. Đạo đức nghiên cứu  
Đối tượng được giải thích mục đích của  
nghiên cứu và mời tham gia. Sự tham gia  
của các đối tượng nghiên cứu là hoàn toàn tự  
nguyện, các đối tượng có thể rút lui khỏi nghiên  
cứu vào bất cứ thời điểm nào mà không có bất  
cứ nguy cơ nào. Thông tin thu thập được giữ  
bí mật và chỉ phục vụ cho mục đích của nghiên  
cứu.  
III. KẾT QUẢ  
1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu  
Bảng 1. Thông tin chung về sinh viên tham gia nghiên cứu  
Đặc điểm  
Nam  
n = 438  
110  
%
25,1  
74,7  
Giới tính  
Nữ  
327  
Bác sĩ Đa khoa, Răng Hàm Mặt, Y học  
Dự phòng  
243  
195  
55,5  
44,5  
Chuyên ngành  
Nơi sinh  
Cử nhân Y tế Công cộng, Dinh dưỡng,  
Xét nghiệm, Khúc xạ  
Thành thị  
146  
292  
33,3  
66,7  
Nông thôn  
TCNCYH 130 (6) - 2020  
193  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Đặc điểm  
n = 438  
114  
87  
%
Kí túc xá  
26,0  
19,9  
54,1  
30,1  
69,8  
16,9  
83,1  
60,3  
39,7  
33,9  
66,1  
Nơi ở hiện tại  
Sống cùng gia đình  
Nhà trọ/thuê  
Biết đúng là 5 gam/ngày  
Biết sai  
237  
132  
306  
74  
Khuyến cáo sử dụng muối/  
ngày của WHO  
Ăn mặn  
Tự đánh giá mức độ ăn mặn  
Không ăn mặn  
Đã nghĩ đến  
Chưa bao giờ  
Cần thiết  
364  
264  
174  
148  
288  
Bản thân tự nghĩ phải giảm  
sử dụng muối  
Nhận thức cần thiết phải  
giảm ăn mặn  
Không cần thiết  
Trong số sinh viên tham gia nghiên cứu, khoảng gần 3/4 sinh viên là nữ giới, tỷ lệ sinh viên hệ bác  
sĩ chiếm 55,5% và hệ cử nhân là 44,5%. Chỉ có 30,1% sinh viên biết khuyến cáo lượng muối tiêu thụ  
một ngày của WHO cho người trưởng thành là 5 gam/ngày. 16,9% sinh viên tự đánh giá bản thân ăn  
mặn nhưng có đến 60,3% sinh viên đã nghĩ đến cần phải giảm sử dụng muối. 33,9% sinh viên cho  
rằng cần thiết phải giảm sử dụng muối.  
2. Thực hành giảm sử dụng muối  
Sinh viên hiện đang thực hành giảm sử dụng muối  
Bảng 2. Tỷ lệ sinh viên đang thực hành giảm sử dụng muối  
Có thực hành  
( n = 134)  
Không thực hành  
(n = 304)  
Đặc điểm  
%
n
%
Nam  
26  
107  
47  
23,6  
32,7  
32,2  
29,8  
29,8  
32,2  
30,4  
84  
220  
99  
76,4  
67,3  
67,8  
70,2  
70,2  
67,8  
69,4  
Giới tính  
Nơi sinh  
Nữ  
Thành thị  
Nông thôn  
Kí túc xá  
87  
205  
80  
34  
Nơi ở hiện tại  
Sống cùng gia đình  
Nhà trọ/thuê  
28  
59  
72  
165  
Gần một phần ba số sinh viên (30,6%) đang thực hành giảm sử dụng muối, trong đó 32,7% là nữ  
và 23,6% là nam; 32,2% sinh ra ở thành thị và 29,8% sinh ra ở nông thôn; 29,8% sinh viên đang ở  
ký túc xá; 32,3% đang sống với gia đình và 30,4% đang thuê trọ.  
194  
TCNCYH 130 (6) - 2020  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Sinh viên thực hành các hành vi giảm sử dụng muối trong 12 tháng qua  
Bảng 3. Tỷ lệ sinh viên thực hành các hành vi giảm sử dụng muối trong vòng 12 tháng qua  
Nam  
Nữ  
Tổng  
(n = 110)  
(n = 327)  
(n = 438)  
Hành vi giảm muối trong 12 tháng qua  
n
%
n
%
n
%
Không cho muối trong quá trình sơ chế đồ ăn  
Không cho muối vào nước luộc rau  
Không ăn hoa quả chấm muối  
78  
77  
91  
70,9  
70,0  
82,7  
244  
251  
291  
74,6  
76,8  
89,0  
323  
329  
383  
73,7  
75,1  
87,4  
Không chấm các món ăn đã nhiều muối (dưa  
muối, cà muối,..) vào muối  
102  
92,7  
309  
94,5  
412  
94,1  
Không thêm nước mắm, nước kho cá/ thịt hay  
nước sốt vào cơm khi ăn  
107  
101  
102  
94  
97,3  
91,8  
92,7  
85,5  
88,2  
303  
302  
295  
264  
298  
92,7  
92,4  
90,2  
80,7  
91,1  
411  
404  
398  
359  
396  
93,8  
92,2  
90,9  
82,0  
90,4  
Giảm lượng muối cho vào khi nấu ăn  
Hạn chế chấm/ chấm nhẹ tay khi ăn các đồ ăn  
cần chấm nước chấm  
Pha loãng nước chấm khi ăn  
Hạn chế sử dụng đồ ăn nhanh như mì ăn liền,  
thịt, cá đóng hộp  
97  
Tăng ăn các món luộc thay cho các món kho,  
rim hay rang  
104  
101  
103  
57  
94,5  
91,8  
93,6  
51,8  
309  
300  
288  
164  
94,5  
91,7  
88,1  
50,2  
414  
402  
392  
222  
94,5  
91,8  
89,5  
50,7  
Tăng dùng các thực phẩm tươi thay vì thực  
phẩm chế biến sẵn chứa nhiều muối (rau dưa  
muối, giò, chả, xúc xích, lạp xưởng,..)  
Tăng dùng các loại gia vị khác: tiêu, ớt, chanh...  
để tăng hương vị mà không cần muối  
Đọc hàm lượng muối (hoặc natri) trên nhãn  
thực phẩm chế biến sẵn để quyết định thêm  
muối hay không  
Trong 12 tháng qua, tỷ lệ sinh viên thực hành cao nhất là tăng ăn các món luộc thay vì kho/rim/  
rang (94,5%) và không chấm các món ăn đã nhiều muối (dưa muối, cà muối,..) vào muối (94,1%),  
tiếp đến là hạn chế sử dụng đồ ăn nhanh như mì ăn liền, thịt, cá đóng hộp là 90,4%. Thực hành ít  
được sinh viên thực hiện nhất là đọc hàm lượng muối (hoặc natri) trên nhãn thực phẩm chế biến sẵn  
để quyết định có hay không bỏ thêm muối (50,7%).  
TCNCYH 130 (6) - 2020  
195  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
3. Một số yếu tố liên quan đến hành vi giảm sử dụng muối  
Bảng 4. Mối liên quan giữa một số yếu tố (nhận thức và thái độ) với thực hành giảm muối  
của sinh viên Đại học Y Hà Nội  
Thực hành giảm muối  
Đặc điểm  
Hệ số hồi quy  
Khoảng tin cậy  
Số gam muối/ngày WHO khuyến cáo  
Trả lời không đúng  
1
Trả lời đúng là 5 gam muối/ngày  
Tự đánh giá mức độ ăn mặn  
Không ăn mặn  
1,6*  
1,0 - 2,5  
1
Ăn mặn  
0,5  
0,3 - 1,0  
Nghĩ bản thân cần giảm sử dụng muối  
Chưa bao giờ  
1
Đã từng nghĩ đến  
4,4***  
2,5 - 7,6  
Mức độ cần thiết thực hành hành vi giảm muối  
Không cần thiết  
1
Rất cần thiết  
2,5***  
1,6 - 4,1  
Ghi chú: *: có ý nghĩa thống kê ở mức p < 0,05; ***: có ý nghĩa thống kê ở mức p < 0,001;  
Mô hình hồi quy đa biến cho thấy: những  
sinh viên từng nghĩ bản thân cần giảm sử dụng  
muối thì có khả năng thực hiện ăn giảm muối  
cao gấp 4,4 lần (95% CI 2,5 - 7,6) so với nhóm  
chưa từng nghĩ đến. Những sinh viên cho rằng  
bản thân rất cần thiết thực hành giảm sử dụng  
muối có khả năng thực hành giảm sử dụng muối  
cao gấp 2,5 lần (95% CI 1,6 - 4,1) so với sinh  
viên cho rằng không cần thiết. Những sinh viên  
trả lời đúng số gam muối/ngày WHO khuyến  
cáo người trưởng thành khỏe mạnh sử dụng  
là 5 gam có khả năng thực hành giảm sử dụng  
muối cao gấp 1,6 lần (95% CI 1,0 - 2,5) nhóm  
trả lời không đúng.  
sử dụng muối cao hơn so với sinh viên sinh ra  
ở nông thôn. Kết quả này cũng tương tự như  
kết quả nghiên cứu của Trung quốc cũng có kết  
quả là thành thị thực hành giảm ăn muối cao  
hơn nông thôn (45,6% so với 34,8%).10  
Tỷ lệ sinh viên thực hành giảm sử dụng  
muối trong vòng 12 tháng qua là từ 50,7% đến  
94,1% tuỳ từng hành vi, trong đó hành vi “Đọc  
hàm lượng muối (hoặc natri) trên nhãn thực  
phẩm chế biến sẵn để quyết định thêm muối  
hay không” là thấp nhất (50,7%) và “Không  
chấm các món ăn đã nhiều muối (dưa muối,  
cà muối,..) vào muối” là cao nhất (94,1%). Tỷ lệ  
sinh viên đọc hàm lượng muối trên nhãn dinh  
dưỡng trong nghiên cứu này cao hơn nhiều  
so với kết quả nghiên cứu trong cộng đồng ở  
Moldova (8,8% đối tượng đọc lượng muối/natri  
trên nhãn thực phẩm,11 hay ở nông thôn Trung  
Quốc là 13,9%.10 Đây là một kết quả đáng  
mừng vì sinh viên y có nhiều kiến thức về chăm  
sóc sức khoẻ và dường như họ đang áp dụng  
các kiến thức đó vào thực hành chế độ ăn hàng  
IV. BÀN LUẬN  
Tỷ lệ sinh viên ĐHYHN báo cáo đang  
thực hành các hành vi giảm sử dụng muối là  
30,6%. Kết quả này thấp hơn nghiên cứu tại  
Montenegro năm 2019 là 34,3%9 và tại Sơn  
Đông Trung Quốc năm 2011 với 39%.10 Sinh  
viên ĐHYHN sinh ra ở thành thị thực hành giảm  
196  
TCNCYH 130 (6) - 2020  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
ngày. Hiện tại, ở một số nước phát triển đã  
quy định ghi nhãn dinh dưỡng trên bao bì thực  
phẩm để hướng dẫn người tiêu dùng chế độ  
ăn uống hợp lý.12 Mặc dù ở Việt Nam chưa có  
quy định bắt buộc ghi nhãn dinh dưỡng13 nhưng  
sinh viên Y đã có thói quen kiểm tra thành phần  
dinh dưỡng khi tiêu dùng thực phẩm là kết quả  
đáng mừng.  
cứu cắt ngang, và chọn mẫu thuận tiện nên kết  
quả nghiên cứu chưa thể ngoại suy ra quần thể  
được. Mô tả thực hành ăn giảm muối mới chỉ  
dựa trên khai báo của sinh viên. Tuy nhiên, sinh  
viên Y được trang bị kiến thức về y khoa nên  
việc xác định bản thân có thực hành ăn giảm  
muối có lẽ không khó khăn và không dựa trên  
cảm tính. Chủ đề nghiên cứu mới, do vậy kết  
quả nghiên cứu có giá trị tham khảo như là  
với các bằng chứng ban đầu về thực hành ăn  
giảm muối trong sinh viên Đại học Y và chỉ ra  
một số yếu tố liên quan trong quá trình thay  
đổi hành vi.  
Kết quả nghiên cứu chỉ ra mối liên quan  
trong các bước của quá trình thay đổi hành vi  
đến hành vi. Theo lý thuyết này, mỗi cá nhân  
phải nhận ra vấn đề và thực sự quan tâm đến  
vấn đề thì mới thực hiện thay đổi hành vi. Kết  
quả nghiên cứu này chỉ ra mối liên quan giữa  
cá nhân tự nhận ra vấn đề (cụ thể là biến số  
sinh viên biết bản thân đang ăn mặn, sinh viên  
biết lượng muối khuyến nghị tiêu thụ trong một  
ngày với người trưởng thành) và cá nhân thực  
sự quan tâm đến vấn đề (cụ thể là biến số sinh  
viên thấy mình cần phải giảm sử dụng muối)  
với thực hành giảm sử dụng muối của sinh viên.  
Cụ thể là những sinh viên biết khuyến nghị của  
WHO cho người trưởng thành là 5 gam muối/  
ngày thì có thực hành giảm ăn muối cao gấp  
1,6 lần sinh viên không biết khuyến nghị; sinh  
viên nghĩ bản thân cần giảm sử dụng muối có  
thực hành giảm ăn muối cao gấp 4,4 lần sinh  
viên không nghĩ đến; sinh viên nghĩ rằng bản  
thân cần thiết phải giảm ăn muối thì có thực  
hành giảm ăn muối cao gấp 2,5 lần sinh viên  
không thấy cần thiết. Như vậy, kết quả nghiên  
cứu này tiếp tục cung cấp thêm bằng chứng  
cho lý thuyết quá trình thay đổi hành vi là có  
mối liên quan giữa kiến thức, thái độ với thực  
hành hành vi của cá nhân. Một cá nhân khi đã  
nhận thức ra vấn đề và thực sự quan tâm đến  
sự thay đổi thì sẽ thực hành thay đổi hành vi.5  
Sinh viên Y đã được trang bị kiến thức và kiến  
thức đó đã được sinh viên ứng dụng để thay  
đổi hành vi lành mạnh có lợi cho sức khoẻ.14,10  
Hạn chế của nghiên cứu: Đây là một nghiên  
V. KẾT LUẬN  
Tỷ lệ sinh viên Y thực hành giảm muối là  
30,6% trong đó 23,6% là nam và 32,7% là  
nữ. Tỷ lệ sinh viên thực hành các biện pháp  
ăn giảm muối theo khuyến nghị của Viện dinh  
dưỡng trong 12 tháng qua từ 50,7% đến 94,1%.  
Nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng  
cho lý thuyết của quá trình thay đổi hành vi là có  
mối liên quan giữa nhận thức, thái độ và thay  
đổi hành vi. Các chương trình truyền thông cần  
thực hiện nâng cao nhận thức về lượng muối  
người trưởng thành và lợi ích của thực hành ăn  
giảm muối để giúp đối tượng nhận ra vấn đề, có  
thái độ tích cực và quan tâm đến vấn đề từ đó  
thực hiện thay đổi hành vi.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. World Health Organization (WHO).  
who.int/news  
-
room/fact  
-
sheets/detail/  
noncommunicable - diseases. Published 2018.  
Accessed April 16, 2020.  
2. World Health Organization (WHO).  
Noncommunicable diseases country profiles  
- profiles - 2018/en/. Published 2018. Accessed  
April 16, 2020.  
3. Cục y tế dự phòng. Công bố kết quả điều  
TCNCYH 130 (6) - 2020  
197  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
tra quốc gia yếu tố nguy cơ bệnh không lây  
- trong - nuoc/1003/cong - bo - ket - qua - dieu  
- tra - quoc - gia - yeu - to - nguy - co - benh -  
khong - lay - nhiem - nam - 2015. Xuất bản năm  
2016. Truy cập tháng 3 năm 2020.  
Behaviour Towards Salt Consumption Amongst  
Adults in Podgorica, Montenegro. Nutrients.  
2019; 11(1). doi:10.3390/nu11010160  
10.ZhangJ,XuA,MaJ,etal,.DietarySodium  
Intake: Knowledge, Attitudes and Practices in  
Shandong Province, China. PLoS ONE. 2013;  
8(3). doi:10.1371/journal.pone.0058973  
11. D’Elia L, Obreja G, Ciobanu A et al,.  
Sodium, Potassium and Iodine Intake, in  
A National Adult Population Sample of the  
Republic of Moldova. Nutrients. 2019; 11(12).  
doi:10.3390/nu11122896  
4. Bộ y tế. Chiến lược quốc gia phòng chống  
bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2015 - 2025.  
Hà Nội; 2015.  
5. Transtheoretical Model (or Stages  
of Change)  
-
Health Behavior Change.  
transtheoretical - model - of - behavior - change.  
Published 1992. Accessed April 20, 2020.  
6. Mosadeghrad AM. Factors Affecting  
Medical Service Quality. Iran J Public Health.  
2014; 43(2):210 - 220.  
12. World Health Organization (WHO).  
Nutrition Labels and Health Claims: The Global  
int/iris/bitstream/10665/42964/1/9241591714.  
pdf. Published 2019. Accessed February 28,  
2019.  
7. Magalhães P, Sanhangala EJR, Dombele  
IM, et al,. Knowledge, attitude and behaviour  
regarding dietary salt intake among medical  
students in Angola. Cardiovasc J Afr. 2015;  
26(2):57 - 62. doi:10.5830/CVJA - 2015 - 018  
8. World Health Organization (WHO), Salt  
- sheets/detail/salt - reduction. Published 2020.  
Accessed February 1, 2020.  
13. Chính phủ. Tiêu chuẩn quốc gia TCVN  
7088:2015 (CAC/GL 2 - 1985 sửa đổi 2013 và  
soát xét 2015) về Hướng dẫn ghi nhãn dinh  
dưỡng. Xuất bản năm 2015. Truy cập 2015.  
14. Grimes CA, Riddell LJ, Nowson  
CA. Consumer knowledge and attitudes  
to salt intake and labelled salt information.  
Appetite. 2009; 53(2):189 - 194. doi:10.1016/j.  
appet.2009.06.007  
9. D’Elia L, Brajović M, KlisicA, et al,. Sodium  
and Potassium Intake, KnowledgeAttitudes and  
Summary  
BEHAVIOUR OF REDUCING SALT INTAKE AMONG HANOI  
MEDICAL STUDENTS UNIVERSITY IN 2020  
Across-sectional study was conducted among first to sixth year medical students of Hanoi Medical  
University to describe the behavior of reducing salt intake and its associated factors. A total of 438  
studentswasincludedinthisstudy.Theprevalanceofstudentswhoreducesaltintakewas30.6%(23.6  
is male and 32.7 is female). The percentage of students who practiced some behavior to reduce salt  
intake during 12 previous months were from 50.7% to 94.1%. Students who know the recommended  
salt intake of WHO were 1.6 times more likely to practice reducing salt intake than those who did not;  
students who thought they need to reduce salt intake were 4.4 times more likely to practice reducing  
salt intake than those who did not; students who felt there is a need to reduce salt intake was 2.5  
198  
TCNCYH 130 (6) - 2020  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
times more likely to practice reducing salt intake. These results support the theory that the process  
of behaviour change is based on the relationship between awareness, attitudes, and practice.  
Communication programs should be designed to raise the awareness in the community, to propagate  
the right knowledge and caring attitude, and thereby stimulated the practice to reduce salt intake.  
Keywords: students, Hanoi Medical University, behaviour of reducing salt intake  
TCNCYH 130 (6) - 2020  
199  
pdf 9 trang yennguyen 15400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hành vi giảm sử dụng muối của sinh viên Đại học y Hà Nội năm 2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhanh_vi_giam_su_dung_muoi_cua_sinh_vien_dai_hoc_y_ha_noi_nam.pdf