Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hoạt động của đội ngũ nhân viên y tế thôn, bản tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, năm 2012

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO  
HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI NGŨ NHÂN VIÊN Y TẾ THÔN, BẢN  
TẠI HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI, NĂM 2012  
BSCK I. Nguyễn Linh Chi  
Trung tâm truyền thông GDSK Yên Bái  
Tóm tắt nghiên cứu  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 204 nhân viên y tế thôn bản tại  
22 xã, thị trấn của huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái với mục đích đánh giá thực trạng hoạt  
động của đội ngũ nhân viên y tế thôn bản (NVYTTB), qua đó đề xuất một số giải pháp  
nâng cao chất lượng hoạt động. Thời gian thực hiện từ tháng 02 đến tháng 10 năm 2012.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy độ tuổi của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) tập trung ở độ  
tuổi trung niên (62,3%) và chủ yếu là nữ giới (70,1%), đại đa số NVYTTB đều có trình  
độ từ trung học cơ sở trở lên (53,9%) và trên 90% được đào tạo về nghiệp vụ chuyên  
môn từ 3 tháng trở lên, ngoài hoạt động về chuyên môn thì trên 90% NVYTTB có tham  
gia kiêm nhiệm các công tác khác tại địa phương. Việc triển khai thực hiện nhiệm vụ  
chuyên môn (theo Thông tư 39/TT-BYT) cho thấy trong 09 nội dung về thực hiện nhiệm  
vụ thì việc thực hiện nhiệm vụ tuyên tuyền giáo dục sức khỏe (GDSK) cộng đồng chiếm  
tỷ lệ cao nhất với (98%), thấp nhất là vận động hướng dẫn nhân dân nuôi trồng và sử  
dụng thuốc nam tại gia đình để phòng và chữa một số chứng bệnh thông thường  
(19,6%). Tuy nhiên việc quản lý và sử dụng hiệu quả túi y tế thôn bản và thực hiện ghi  
chép, báo cáo kịp thời, đầy đủ theo quy định còn chưa cao (22,1% và 52,9%). Đặc biệt  
nghiên cứu còn cho thấy những khó khăn, vướng mắc và những tồn tại hạn chế trong  
việc triển khai nhiệm vụ như: giám sát dịch bệnh, sơ cứu ban đầu và chăm sóc các bệnh  
thông thường, chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, truyền truyền vận động sinh đẻ có kế  
hoạch, vệ sinh môi trường…còn đạt tỷ lệ thấp (5,4%;14,7%,29,4%, 32,8% và 47%).  
1. Đặt vấn đề  
Nói đến chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) là đề cập đến mạng lưới y tế cơ  
sở. Y tế thôn bản (YTTB) nằm trong hệ thống y tế cơ sở, là đơn vị kỹ thụât đầu tiên của  
ngành Y tế đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ CSSKBĐ.  
Xây dựng, củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, nâng cao năng lực hoạt động của  
đội ngũ YTTB là công việc quan trọng và cần thiết của ngành Y tế nhằm giúp người  
dân, đặc biệt là người dân ở những vùng nông thôn, vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa,  
vùng dân tộc thiểu số được tiếp cận các loại hình dịch vụ y tế cũng như được bảo vệ,  
chăm sóc và nâng cao sức khoẻ.  
Là một huyện miền núi vùng thấp của tỉnh Yên Bái, huyện Trấn Yên có 22 đơn vị  
hành chính xã, thị trấn; trong đó có 7 xã vùng cao, 1 xã đặc biệt khó khăn, 12 xã khu vực II có  
thôn bản đặc biệt khó khăn và 233 khu hành chính cấp thôn. Huyện có 6 dân tộc sinh sống  
và 100% thôn, bản có YTTB. Trong những năm gần đây, mặc dù luôn nhận được sự  
179  
quan tâm, tạo điều kiện của các cấp, các ngành trong lĩnh vực y tế, nhưng một số vấn đề  
về bệnh tật trên địa bàn có nguy cơ tăng cao: như HIV/AIDS, bệnh Dại, bệnh Tả, bệnh  
Tay chân miệng, cúm A (H5N1), cúm A (H1N1), vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường..  
Do đó rất cần người cán bộ y tế, đặc biệt là nhân viên YTTB có năng lực, kiến thức trình  
độ chuyên môn để có thể thực hiện tốt công tác tuyên truyền vận động và CSSKBĐ cho  
người dân ở cộng đồng. Câu hỏi đặt ra là: Đội ngũ YTTB triển khai hoạt động như thế  
nào? Những yếu tố liên quan nào ảnh hưởng tới hoạt động của họ? Làm thế nào để nhân  
viên YTTB làm tốt được chức năng nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe? Đó là những vấn đề  
đang đặt ra đối với ngành Y tế, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị, xã hội của  
tỉnh Yên Bái nói chung và huyện Trấn Yên nói riêng. Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi  
đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hoạt động  
của đội ngũ nhân viên YTTB tại huyện Trấn Yên tỉnh Yên Bái năm 2012”.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
1. Mô tả thực trạng hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân của nhân viên y tế thôn  
bản tại huyện Trấn Yên tỉnh Yên Bái năm 2012.  
2. Đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm tăng cường hoạt động của đội ngũ nhân  
viên y tế thôn bản và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân  
dân tại huyện Trấn Yên tỉnh Yên Bái.  
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
3.1. Đối tượng nghiên cứu  
-
Nhân viên YTTB đang hoạt động tại 22 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Trấn Yên,  
tỉnh Yên Bái.  
-
Sổ sách, báo cáo và các trang thiết bị liên quan tới công việc.  
3.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu  
-
-
Thời gian: Từ tháng 2 đến tháng 10/ 2012.  
Địa điểm: Huyện Trấn Yên -Tỉnh Yên Bái.  
3.3. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.  
3.3.1. Cỡ mẫu  
-
Toàn bộ NVYTTB đang hoạt động tại 22 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Trấn  
Yên (204 người).  
3.3.2. Phương pháp thu thập số liệu  
-
Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn đã được thiết kế sẵn.  
180  
3.2.5. Xử lý và phân tích số liệu  
-
Số liệu thu thập được làm sạch, xử lý số liệu bằng phần mềm Epidata, phân tích  
số liệu bằng phần mềm SPSS.  
4. Kết quả nghiên cứu và bàn luận  
4.1. Các thông tin chung về đối tượng nghiên cứu  
Trong 204 VNYTTB thì có tới 70,1% là nữ giới. Điều này rất phù hợp công việc  
của NVYTTB vì đặc tính của phụ nữ thường tận tình, chu đáo, tỷ mỉ hơn nam giới, về  
mặt chuyên môn như tư vấn khám thai, nuôi con bằng sữa mẹ vận động kế hoạch hóa gia  
đình thì phụ nữ làm sẽ tế nhị hơn và có nhiều thuận lợi hơn, về mặt biến động dân số do  
đi làm ăn xa, thì phụ nữ ít bị ảnh hưởng hơn.  
Độ tuổi trung niên (30-49) là chủ yếu chiếm tỷ lệ 62,3%. Đây là một trong những  
điều kiện thuận lợi vì ở độ tuổi này có khả năng làm việc tốt nhất, vừa có kinh nghiệm,  
kiến thức vừa có khả năng giao tiếp, có cuộc sống ổn định và gắn bó với công việc hơn.  
Độ tuổi dưới 30 chiếm tỷ lệ 17,6%, đây là những NVYTTB mới được bổ sung thay thế  
từ những năm gần đây do các NVYTTB trước đây đã nghỉ việc hoặc chuyển đi nơi ở  
khác, lứa tuổi thường dễ có những bíến động nhất như đi tìm kiếm việc làm, di chuyển  
chỗ ở theo gia đình, đi học. Với nhóm tuổi trên 50 (20,1%) được tuyển dụng từ những  
năm 1998-1999. Đây là độ tuổi có nhiều hạn chế về năng lực, hiệu quả công việc do  
trình độ nhận thức, do sức khoẻ. Nhóm đối tượng này vẫn chưa được thay thế theo qui  
định mới của Bộ Y tế.  
Bảng 1: Trình độ về chuyên môn của nhân viên YTTB  
Trình độ chuyên môn  
YTTB >= 3 tháng  
Tần số (n)  
Tỷ lệ (%)  
38,2  
4,5  
78  
9
Y sỹ  
Y tá  
103  
1
50,5  
0,4  
Nữ hộ sinh  
Khác hoặc chưa đào tạo  
13  
204  
6,4  
Tổng số  
100  
Kết quả nghiên cứu cho thấy 93,6% số NVYTTB đã được tham gia các khóa đào  
tạo nghiệp vụ chuyên môn, nghiệp vụ, chỉ có 6,4% chưa được đào tạo.  
Phần lớn NVYTTB đều có trình độ trung học cơ sở với tỷ lệ 53,9%, số còn lại tốt  
nghiệp trung học phổ thông và trung học chuyên nghiệp (43,1%). Đây cũng là một trong  
những thuận lợi cơ bản để NVYTTB tiếp thu kiến thức và tiếp tục học tập nâng cao trình  
181  
độ chuyên môn, đồng thời có kỹ năng giao tiếp và tuyên truyền vận động tốt hơn và khả  
năng thực hiện nhiệm vụ tốt công việc.  
Nghề nghiệp chủ yếu của NVYTTB là làm ruộng (98,5%), chỉ có 1,5% là kinh  
doanh buôn bán nhỏ. Thực tế thu nhập chính của các NVYTTB chỉ dựa vào sản xuất  
nông nghiệp, trong điều kiện khí hậu, môi trường khắc nghiệt là rất khó khăn cho đời  
sống của họ. Nghiên cứu cho thấy có 13,2% NVYTTB thu thập dưới 300.000  
đồng/tháng và có 81,9% số NVYTTB có mức thu thập bình quân đầu người khoảng  
300.000 đồng/tháng - 500.000 đồng/tháng, chỉ có 4,9 % NVYTTB có mức thu nhập từ  
trên 500.000 đồng/tháng. Như vậy nhiều NVYTTB vẫn còn sống ở mức nghèo.  
4.2. Thực trạng hoạt động của nhân viên y tế thôn bản  
27,9%  
46,6%  
< 5 năm  
5-10 Năm  
> 10 năm  
25,5%  
Biểu đồ 1: Thời gian công tác của nhân viên y tế thôn bản  
Số NVYTTB có thâm niên làm y tế thôn bản trên 10 năm chiếm tỷ lệ cao nhất  
46,6% và dưới 5 năm có tỷ lệ 27,9%.  
Nghiên cứu cũng cho thấy 99,1% NVYTTB tham gia kiêm nhiệm công việc khác  
tại địa phương. Trong đó tỷ lệ tham gia kiêm nhiệm nhiều nhất là làm cộng tác viên dân  
số (86,3%), tiếp theo là công tác viên (CTV) dinh dưỡng (83,3%); tiếp đến là tham gia  
CTV An toàn vệ sinh thực phẩm (73,5%), ngoài ra tỷ lệ NVYTTB tham gia hội phụ nữ,  
trưởng thôn chiếm tỷ lệ thấp (5,4%), chỉ có (0,9%) là không tham gia các hoạt động  
đoàn thể kiêm nhiệm nào tại địa phương. Việc NVYTTB có kiêm nhiệm trong công tác  
là một điều kiện thuận lợi cho hoạt động của họ, vì công việc của họ sẽ được thường  
xuyên hơn, thời gian làm việc nhiều hơn, kỹ năng giao tiếp và kinh nghiệm công tác  
được nâng lên và điều quan trọng là họ được cung cấp thêm một số các kiến thức chuyên  
môn và một số kiến thức xã hội khác do đó họ có thể giúp đỡ cộng đồng trong CSSK  
nhiều hơn và hiệu quả hơn.  
Về thời gian thực dành cho hoạt động chuyên môn: Theo kết quả nghiên cứu thì  
thời gian làm việc của NVYTTB từ 5-10 giờ/tuần chiếm tỷ lệ cao nhất 45,6%, như vậy  
cũng tương đương 22h-40 giờ/tháng, 16,7% số NVYTTB dành thời gian cho công việc  
trên 10 giờ/tuần (tương đương trên 40giờ/tháng). Đây cũng thể hiện sự cố gắng và tinh  
thần trách nhiệm, tận tuỵ, yêu thích công việc của các NVYTTB. Nhưng vấn đề xem xét  
ở đây là kết quả hoạt động của họ còn thấp, điều đó chứng tỏ họ đang thiếu năng lực tổ  
chức thực hiện, thiếu phương pháp làm việc, thiếu sự quan tâm hỗ trợ đồng bộ từ nhiều  
phía. Có 14,2% dành 2-5 giờ làm việc và 0,5% dành dưới 2 giờ tương đương 6h-  
182  
8h/tháng là quá thấp không đủ để giải quyết những nội dung hoạt động vì vậy khi triển  
khai nhiệm vụ khó có thể có hiệu quả.  
Bảng 2: Tỷ lệ NVYTTB thực hiện nhiệm vụ theo Thông tư 39/TT-TTg  
Tần số Tỷ lệ %  
Nội dung  
Tuyên truyền GDSK tại cộng đồng.  
200  
123  
100  
60  
97,5  
60,0  
49,2  
29,0  
34,8  
Tham gia thực hiện hoạt động thực tế tại cộng đồng.  
Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em và KHHGĐ  
Sơ cứu ban đầu và chăm sóc bệnh thông thường.  
Tham gia thực hiện các chương trình y tế tại thôn, bản.  
71  
Vận động hướng dẫn nhân dân nuôi trồng và sử dụng thuốc  
nam tại gia đình để phòng và chữa một số chứng, bệnh thông  
thường.  
40  
19,6  
80,8  
Tham gia GB định kỳ với TYTX phường, thị trấn. Tham gia  
các khoá ĐT, TH, bồi dưỡng về chuyên môn do cơ quan y tế  
cấp trên tổ chức và tự học tập để nâng cao trình độ.  
165  
Quản lý và sử dụng hiệu quả túi y tế thôn, bản.  
45  
22,1  
52,9  
Thực hiện ghi chép, BC kịp thời, đầy đủ theo quy định.  
108  
Trong 9 nội dung về thực hiện nhiệm vụ của YTTB (Thông tư 39/TT-BYT).  
Nhìn chung các nhiệm vụ đều được triển khai thực hiện nhưng không đồng đều và đạt ở  
các mức độ khác nhau. Các nhiệm vụ trong lĩnh vực truyền thông đạt tỷ lệ cao nhất.  
Tỷ lệ thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền GDSK cộng đồng chiếm tỷ lệ cao nhất  
(97,5%), tập trung tuyên truyền ở các chương trình tiêm chủng mở rộng, vệ sinh môi  
trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, chăm sóc sức khỏe bà mẹ trong thời gian mang thai,  
hướng dẫn nuôi con bằng sữa mẹ, hướng dẫn sử dụng các cây thuốc nam tại vườn, tham  
gia thăm hỏi các bà mẹ sau đẻ. Các hoạt động tuyên truyền này được lồng ghép với các  
buổi họp thôn…  
Chỉ 49,2% NVYTTB tham gia CSSK bà mẹ trẻ em và KHHGĐ, đặc biệt những  
nội dung này họ làm việc khi đứng vai trò là cộng tác viên dân số.  
Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy 60% NVYTTB tham gia thực hiện các  
chương trình y tế tại thôn, bản mặc dù hoạt động này chủ yếu là thông báo/ gửi giấy mời  
đưa trẻ đi tiêm phòng, khám thai, cân trẻ.  
Tham gia các khoá đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn do cơ quan y tế  
cấp trên tổ chức và tự học tập để nâng cao trình độ (80,8%).  
Quản lý và sử dụng túi thuốc: Việc được trang bị phương tiện làm việc giúp cho  
NVYTTB có thể thực hiện tốt các công việc, thực tế đã có 176 NVYTTB được trang bị  
túi thuốc chiếm tỷ lệ (75,5%), tuy nhiên chỉ có 22,1% túi thuốc của NVYTTB còn hoạt  
động, trong khi đó có tới 10,3% số NVYTTB đã làm mất túi thuốc; hoặc tình trạng còn  
túi nhưng hết thuốc chiếm tỷ lệ (57,3%). Nguyên nhân của tình trạng này là NVYTTB  
183  
không quản lý được túi thuốc, không biết quay vòng vốn nên sau 1 thời gian ngắn các cơ  
số thuốc trong túi thuốc đã hết mà không có nguồn bổ sung hoặc đại đa số còn trông chờ  
vào nguồn thuốc cấp miễn phí của TYT xã, TTYT huyện, nên khi không có đã không  
duy trì được. Có thể nói YTTB huyện Trấn Yên hiện nay về cơ bản không có trang thiết  
bị, dụng cụ y tế nào trong tay để họ triển khai kỹ thuật chuyên môn trong CSSK. Đây là  
vấn vấn đề đặt ra đối vói ngành Y tế trong việc qui định danh mục túi thuốc và cung cấp  
túi thuốc cho YTTB. Trong tương lai cần tiếp tục cần có nghiên cứu, khảo sát tìm hiểu  
việc sử dụng hiệu quả của việc sử dụng túi thuốc của NVYTTB, từ đó có định hướng  
tiếp tục cung cấp những dụng cụ, thuốc men, phương tiện cần thiết cho NVYTTB. Trong  
nghiên cứu này có 93,6% NV YTTB đề nghị cung cấp trang thiết bị, dụng cụ thuốc men  
cần thiết để hoạt động.  
Như vậy, đa số các NVYTTB đã ý thức được tầm quan trọng của công tác tuyên  
truyền vận động và đã có cố gắng trong triển khai các hoạt động này. Đây là những nội  
dung mang ý nghĩa quan trọng và tính cộng đồng rất cao của YTTB với phương châm  
dự phòng tích cực, chủ động trong thực hiện nhiệm vụ CSSKBĐ cho nhân dân. Ngược  
lại, các nhiệm vụ thuộc nhóm kỹ năng như: Sơ cứu ban đầu và chăm sóc bệnh thông  
thường (29%). Việc thực hiện nhiệm vụ này còn phụ thuộc vào nhu cầu thực tiễn tại  
cộng đồng, có cấp cứu, có mắc bệnh thì mới nhu cầu chăm sóc. Tuy nhiên cũng phải  
thừa nhận một thực tế là trình độ và kỹ năng chuyên môn còn nhiều hạn chế bất cập,  
người dân chưa tin vào YTTB nên có thể họ có nhu cầu nhưng không đề nghị NVYTTB  
can thiệp, hỗ trợ chăm sóc. Khi có vấn đề về sức khoẻ họ đến các cơ sở y tế tư nhân hoặc  
đến bệnh viện huyện. Ở đây phải đề cập đến vai trò của trạm y tế xã, trung tâm y tế  
huyện trong việc chỉ đạo, phân công, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ cụ thể và giám sát  
các hoạt động của họ nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác.  
Qua kết quả điều tra cho thấy một số nhiệm vụ mà NVYTTB cho là khó thực  
hiện bao gồm: sơ cứu ban đầu và chăm sóc các bệnh thông thường với các lý do được  
đưa ra là thiếu các phương tiện cần thiết như thuốc chữa bệnh, chưa được tập huấn  
chuyên môn. Tiếp đến là tuyên truyền vận động VSMT các lý do được đưa ra là: do  
chưa đủ kiến thức, năng lực và kinh tế người dân gặp nhiều khó khăn, nhận thức và quan  
điểm về dịch bệnh của người dân chưa cao; Vận động sinh đẻ có kế hoạch cũng gặp  
nhiều khó khăn do trọng nam kinh nữ, trình độ, phong tục tập quán có con trai để nối  
dõi... Cuối cùng là vận động hướng dẫn nhân dân nuôi trồng và sử dụng thuốc nam tại  
gia đình để phòng và chữa một số chứng, bệnh thông thường chiếm tỷ lệ không cao. Từ  
những khó khăn ở trên cho phép TTYT huyện Trấn Yên có những định hướng tập trung  
giải quyết, tháo gỡ những kho khăn trong các đợt tập huấn nâng cao năng lực cho  
NVYTTB nhằm đáp ứng tốt các nhiệm vụ đặt ra.  
Phân loại kết quả hoạt động: Đánh giá thực hiện nhiệm vụ chung theo Thông tư  
39/TT-BYT, có 76,6% NVYTTB thực hiện các nhiệm vụ đạt yêu cầu. Điều này phản  
ánh một thực tế hầu hết NVYTTB đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình, thể hiện tinh  
thần trách nhiệm và tính cộng đồng cao.  
184  
Đánh giá về năng lực hoạt động của YTTB: Trình độ chuyên môn còn hạn chế từ  
đó đến chất lượng công việc chưa cao, NVYTTB còn thiếu năng động, sáng tạo, làm  
việc thụ động theo chỉ đạo của trạm y tế xã hoặc trung tâm y tế huyện, kỹ năng truyền  
thông yếu nên người dân chưa ủng hộ...  
4.3. Trang bị phương tiện làm việc và kinh phí hoạt động cho NVYTTB  
Khi hỏi NVYTTB có được trang bị túi thuốc hay không thì có tới 13,8% số  
NVYTTB trong nghiên cứu trả lời không được trang bị túi thuốc; có 10,3% làm mất túi  
và 117 NVYTTB được trang bị túi thuốc nhưng hết thuốc chiếm tỷ lệ 57,3%; chỉ có  
18,6% NVYTTB còn sử dụng và duy trì được túi thuốc.  
Theo Quyết định số số 75/2009/QĐ-TTg về việc quy định chế độ phụ cấp đối với  
NVYTTB, trong thời gian công tác NVYTTB được hưởng phụ cấp hàng tháng bằng 0,5  
mức lương tối thiểu áp dụng đối với NVYTTB tại các xã vùng khó khăn và 0,3 mức  
lương tối thiểu chung áp dụng đối với NVYTTB tại các xã còn lại. Riêng khu vực thị  
trấn phụ cấp khu vực vẫn áp dụng 40.000đ/tháng theo Quyết định số 30/2007/QĐ- TTg  
ngày 5/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Với công việc kiêm nhiệm là cộng tác viên  
dinh dưỡng, dân số, trưởng thôn được thêm từ 50.000 đ/tháng trở lên. Riêng kiêm nhiệm  
công tác phụ nữ không có phụ cấp. Khi được hỏi về mức độ phụ cấp hiện nay các trưởng  
trạm y tế xã, trung tâm y tế huyện đều cho rằng: Mức phụ cấp như vậy là quá thấp,  
không tương xứng với yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra. Tại nghiên cứu này khi được hỏi mức  
lương đề xuất là 500.000 đ/tháng (2,5%) và trên 500.000 đồng/tháng (97,5%). Và 100%  
NVYTTB đề xuất cần hỗ trợ thêm phụ cấp thực hiện các hoạt động các chương trình cụ  
thể, tăng phụ cấp hoạt động YTTB (99,5%).  
4.4. Hoạt động giám sát hỗ trợ và đào tạo của NVYTTB  
100% NVYTTB được giám sát, kiểm tra công việc trong 06 tháng đầu năm  
2011. Tuy nhiên không có sự đồng đều giữa các nội dung, nhiệm vụ và không thường  
xuyên giữa các đơn vị. Các nội dung công việc mà NVYTTB được kiểm tra giám sát  
thường xuyên nhất là chương trình dinh dưỡng (93,1%), tiếp đến là truyền thông GDSK  
(89,7%); và thấp nhất là hướng dẫn người tàn tật phục hồi chức năng (39,7%).  
Có 97,5% số NVYTTB được đào tạo và tập huấn về các kiến thức và kỹ năng về  
chuyên môn. Tuy nhiên vẫn có tới (2,5%) số NVYTTB chưa được đào tạo, tập huấn về  
các kiến thức và các kỹ năng về chuyên môn. Các nội dung được đào tạo trọng tâm tại  
huyện Trấn Yên cho NVYTTB là tuyên truyền GDSK (97,2%); Vệ sinh phòng bệnh  
(96,5%); Chăm sóc sức khỏe BMTE-KHHGĐ (96,5%); Sơ cứu ban đầu và chăm sóc  
bệnh thông thường (94,3%); thấp nhất là kỹ thuật chăm sóc người bệnh (81,6%). Trong  
đó những nội dung tập huấn về chuyên môn như: Ghi chép sổ sách, thống kê báo cáo,  
185  
giám sát dịch bệnh thì chưa được triển khai hoặc có triển khai nhưng không đồng bộ ở  
các thôn bản.  
Tỷ lệ tần suất các cuộc họp giao ban giữa NVYTTB và trạm y tế xã nhiều nhất là  
1 tháng/1 lần (92,2%), 1-2 tuần/lần (7,8%). Trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm  
vụ tại địa phương có 81,7% NVYTTB đã phối hợp với ban ngành đoàn thể trong việc  
triển khai các hoạt động tại cơ sở.  
4.5. Những khó khăn gặp phải trong quá trình hoạt động của NVYTTB  
Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế: Công tác giám sát còn yếu, chủ yếu  
thông qua hội nghị giao ban hàng tháng, chưa có qui định cụ thể về chế độ làm việc, đời  
sống của đại bộ phận NVYTTB còn gặp khó khăn, chế độ phụ cấp quá thấp, chưa được  
đào tạo và đào tạo lại để nâng cao trình độ chuyên môn cho NVYTTB, trình độ nhận  
thức của người dân còn nhiều bất cập..  
Qua phân tích số liệu điều tra chúng tôi thấy những khó khăn, vướng mắc hiện  
nay của YTTB là:  
-
-
Thiếu dụng cụ y tế, thuốc men và các phương tiện làm việc khác.  
Công tác kiểm ra, giám sát của TTYT và TYTX mặc dù thường xuyên, nhưng  
chưa thực sự hiệu quả.  
-
-
Thiếu qui chế làm việc thống nhất trong ngành y tế, nhân viên YTTB chưa được  
quan tâm đúng mức.  
Kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, mức phụ cấp trả quá thấp so với thị trường  
(40.000đ/tháng đối với khu vực thị trấn). Có rất nhiều ý kiến cho rằng nếu kéo  
dài tình trạng này thì NVYTTB khu vực thị trấn sẽ không yên tâm hoặc không  
thực sự nhiệt tình làm công việc của NVYTTB.  
-
Ngành y tế huyện chưa có qui định cụ thể về chế độ làm việc cho NVYTTB,  
chưa tạo được nề nếp làm việc thống nhất trong toàn huyện. Là cơ quan quản lý  
nhưng việc chỉ đạo việc kiểm tra, giám sát hoạt động của NVYTTB chưa được  
thường xuyên liên tục, chưa đánh giá thực sự vai trò năng lực của họ và chưa  
thực sự quan tâm tới nhu cầu của NVYTTB. Các cấp chính quyền địa phương và  
các đoàn thể chưa quan tâm, hỗ trợ tạo điều kiện về vật chất và kinh phí cho  
NVYTTB hoạt động, ngành y tế và các cấp chính quyền địa phương chưa có cơ  
chế phối hợp cụ thể cho hoạt động của NVYTTB  
4.6. Kiến nghị của NVYTTB  
Hoạt động của nhân viên YTTB là một hoạt động mang tính tự nguyện và có đến  
90,7% NVYTTB vẫn muốn tiếp tục làm việc và họ coi đây là một hoạt động rất có ý  
nghĩa với một số các lý do như: Muốn được giúp đỡ mọi người trong thôn/bản; yêu thích  
công việc; có thêm thu nhập;phù hợp với sở trường/nguyện vọng; muốn được mọi người  
186  
tôn trọng; muốn có uy tín trong làng xóm; muốn có một vị trí tại địa phương…Tuy nhiên  
để hoạt động của họ có hiệu quả hơn, NVYTTB đã đưa ra một số kiến nghị.  
-
-
-
-
-
Tăng số lần tập huấn chuyên môn cho NVYTTB.  
Đào tạo/ đào tạo lại nâng cao trình độ cho nhóm nhân viên YTTB.  
Tăng cường hoạt động giám sát hỗ trợ 1 tháng/lần.  
Tăng thêm trang thiết bị, dụng cụ, thuốc men.  
Tạo điều kiện thuận lợi phối hợp các ban ngành, đặc biệt là trưởng thôn, chị hội  
phụ nữ …  
-
-
-
Miễn giảm đóng góp xã hội ở địa phương.  
Cấp bảo hiểm y tế miễn phí.  
Tăng phụ cấp/hỗ trợ thêm kinh phí trong quá trình thực hiện.  
5. Kết luận  
-
Phân bố tuổi, giới của đối tượng nghiên cứu phù hợp với chức năng nhiệm vụ  
của nhân viên YTTB.  
-
-
-
-
-
Trình độ văn hóa và chuyên môn đáp ứng nhu cầu thực tế tại địa phương.  
90,7% yêu nghề và mong muốn được tiếp tục làm việc.  
90,1% tham gia kiêm nhiệm các công việc khác tại địa phương.  
Thời gian làm việc phù hợp với nhu cầu công việc và chức vụ của họ 62,3%.  
Hoạt động của NVYTTB chủ yếu tập trung vào các nhóm nhiệm vụ được sắp  
xếp theo thứ tự cao xuống thấp là: Tuyên truyền GDSK tại cộng đồng (97,5%);  
CSSK bà mẹ trẻ em và KHHGĐ (94,6%); Tham gia giao ban định kỳ với TYTX  
phường, thị trấn. Tham gia các khoá đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về chuyên  
môn do cơ quan y tế cấp trên tổ chức và tự học tập để nâng cao trình độ (96,1%),  
Thực hiện ghi chép, báo cáo dịch kịp thời, đầy đủ theo quy định (91,7%); ngoài  
những nội dung nêu trên thì các hoạt động chuyên môn khác đều đều chiếm tỷ lệ  
khá cao từ 75% đến trên 80%. Tuy nhiên cũng phải nhận thấy khả năng hoạt  
động cũng như năng lực thực hành trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ của  
NVYTTB còn yếu, không đồng đều, số NVYTTB chưa thực sự quan tâm đến  
công việc, họ hoạt động mang tính chất thụ động, quản lý và sử dụng Túi y tế  
thôn, bản kém hiệu quả (66,1%).  
-
-
Trang thiết bị y tế sử dụng chưa hiệu quả, phù cấp hỗ trợ còn hạn chế với các thị  
trấn.  
Tần xuất giám sát hỗ trợ và đào tạo lại còn thấp.  
187  
6. Kiến nghị  
Đối với ngành y tế: cần có kế hoạch tập huấn đào tạo/ đào tạo lại cho đội ngũ  
NVYTTB theo các nội dung cụ thể mà NVYTTB còn thấy khó thực hiện trong quá trình  
triển khai thực hiện nhiệm vụ. Có kế hoạch cung cấp mới hoặc bổ xung túi y tế, tăng  
cường công tác kiểm tra, giám sát hỗ trợ giúp cho NVYTTB thực hiện tốt chức năng  
nhiệm vụ. Duy trì chế độ giao ban như hiện nay để giúp họ hoàn thành tốt nhiệm vụ  
được giao.  
Chính quyền địa phương: cần phối hợp với ngành y tế hoặc huy động sự đóng  
góp từ cộng đồng hỗ trợ thêm kinh phí hoạt động, có thể miễn giảm một số đóng góp xã  
hội nhằm khuyến khích, động viên NVYTTB tham gia hoạt động.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Y tế, Chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001-2010 (Ban hành kèm theo quyết  
định số 370/2002/QĐ-BYT ngày 07/02/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế).  
2. Bộ Y tế, Thông tư số 39/10/TT-BYT ngày 10/9/10 Qui định tiêu chuẩn, chức năng,  
nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn, bản  
3. Bộ Y tế, Quyết định số 437/QĐ-BYT ngày 20/02/2002 về việc Ban hành danh mục  
trang thiết bị y tế BVĐK tuyến tỉnh, huyện, phòng khám Đa khoa khu vực, trạm y tế  
và túi YTTB .  
4. Bộ Y tế, Quyết định số 3653/1999/QĐ-BYT ngày 15/11/1999, về việc quy định chức  
năng, nhiệm vụ YTTB..  
5. Chính phủ (1996), Nghị quyết số 37/NQ-CP về Định hướng chiến lược công tác  
chăm sóc và BVSKND giai đoạn 2000-2020.  
6. Chính phủ, Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 5/3/2007, Quyết định số  
75/2009/QĐ- TTg ngày 11/5/2009 của Thủ tướng chính phủ, “Quy định về chế độ  
phụ cấp nhân viên YTTB.  
7. UBND tỉnh Yên Bái, Quyết định số 1658/QĐ - UBND ngày 17/6/2008 của Chủ tịch  
UBND tỉnh Yên Bái về việc “Ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và  
tổ chức bộ máy của Sở y tế Yên Bái”.  
8. UBND tỉnh Yên Bái, Quyết định số 1781/QĐ-UBNDngày 03/7/2009 của UBND  
tỉnh Yên Bái về việc ban hành Đề án phát triển nhân lực y tế tỉnh Yên Bái giai  
đoạn 2009-2015 và định hướng đến năm 2020.  
9. Trung tâm y tế huyện Trấn Yên (2011), Báo cáo hoạt động công tác y tế năm 2011  
và phương hướng nhiệm vụ năm 2012.  
10. Trung tâm y tế huyện Trấn Yên (2012), Báo cáo hoạt động công tác 6 tháng đầu  
năm 2012.  
188  
pdf 10 trang yennguyen 12760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hoạt động của đội ngũ nhân viên y tế thôn, bản tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, năm 2012", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_thuc_trang_va_de_xuat_cac_giai_phap_nang_cao_hoat.pdf