Bảo vệ sức khoẻ con người trong điều kiện khắc nghiệt

Những vấn đề chung  
BẢO VỆ SỨC KHOẺ CON NGƯỜI  
TRONG ĐIỀU KIỆN KHẮC NGHIỆT  
USHAKOV I.B.(1), BUBEEV IU.A.(2)  
Sinh thái người làm nghề nguy hiểm là môn tổng hợp - một phần của sinh thái  
người, bao hàm những vấn đề về vệ sinh - sinh lý và y học - xã hội nhằm bảo vệ sức  
khoẻ, hiệu quả và độ tin cậy hoạt động của những người phải chịu rủi ro cá nhân cao  
về những hậu quả bất lợi cho sức khoẻ và cuộc sống của mình trong khi thực hiện  
nghĩa vụ lao động. Một từ đồng nghĩa được chấp nhận để làm việc là sinh lý học  
sinh thái hoạt động sống trong điều kiện khắc nghiệt.  
Sinh thái người làm nghề nguy hiểm là môn kết hợp hệ thống, không chỉ  
nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường khắc nghiệt lên cơ thể người, mà  
mọi mức độ của sự kết hợp sinh học, y học - xã hội của con người trong hệ thống  
con người - môi trường khắc nghiệt xung quanh. Những từ khoá là mối liên hệ  
tương hỗ - ngụ ý sự có mặt của mối liên hệ ngược giữa môi trường và con người, và  
chỉ số nguy cơ cá nhân, liên quan tới áp lực cao đối với thể lực tâm sinh lý người và  
những tình huống stress rất đa dạng.  
Đặc tính của khái niệm chỉ số được đưa ra theo một biểu đo còn gọi là thang  
độ tiếp nhận nguy cơ tử vong và cách phân loại điều kiện hoạt động nghề nghiệp  
tương ứng (bảng 1). Ở đây, nhóm nguy cơ thứ ba thường chuyển thành nhóm nguy  
cơ thứ hai tuỳ thuộc vào điều kiện xã hội của từng nước. Một thí dụ điển hình là  
hàng không dân dụng.  
Bảng 1. Thang độ tiếp nhận nguy cơ tử vong và phân loại điều kiện hoạt động nghề nghiệp  
Mức độ nguy cơ  
cho con người  
Đánh giá độ tiếp  
nhận nguy cơ  
Điều kiện hoạt động nghề nghiệp  
Trong  
Trong  
1 giờ  
1 năm  
Mức nguy cơ Đặc biệt nguy hiểm (Phi công thử nghiệm,  
cực kỳ cao, cần lái máy bay phản lực, trực thăng, cứu hoả,  
áp dụng các biện quyền anh, đua ngựa, đua ô tô, hoạt động  
10-3 - 10-2 > 10-2  
pháp bảo vệ  
quân sự trong chiến tranh phi hạt nhân)  
Nguy hiểm (phi công ném bom, núi lửa  
hoạt động, làm việc trên cao)  
Đua mô tô, sản xuất hơi cay, đua thuyền, leo  
núi, cứu hộ, hoạt động quân sự thời bình,  
khắc phục hậu quả tai nạn và thảm hoạ)  
Các nghề nguy hiểm không cao (hàng  
10-4 - 10-3  
10-3 - 10-2  
10-5 - 10-4  
Mức nguy cơ cao  
và rất cao, cần có  
phương tiện đảm  
bảo an toàn  
Mức độ nguy cơ không dân dụng, lái ô tô, săn bắn, trượt  
10-6 - 10-5 10-4 - 10-3  
10-7 - 10-6 < 10-4  
không cao  
tuyết vùng núi, đi xe đạp, đánh cá, khai  
mỏ, công nhân đường sắt)  
Mức độ nguy cơ Các nghề không nguy hiểm (các nghề  
thấp còn lại)  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 03, 06 - 2013  
3
Những vấn đề chung  
Chức năng dự báo khoa học kỹ thuật của sinh thái người làm nghề nguy hiểm  
đang được các vấn đề liên ngành tương ứng về sinh thái nhân chủng hiện đại và các  
quan điểm trong sinh thái người làm nghề nguy hiểm được đưa ra trong những năm  
gần đây đảm nhận (hình 1). Tất cả các số liệu khoa học thu được về sinh thái người  
làm nghề nguy hiểm được phân tích định lượng theo hai quan điểm chính của y học  
dự phòng hiện đại là sức khoẻ con người và mức độ nguy cơ phải tiếp nhận (đương  
lượng an toàn) (Agadzanhian N.A., Torsin V.I., 1994; Artamonova V.G., 1996;  
Grigoriev A.I., Baepxki R.M., Ovtrinnikov V.V., Svetailo E.N., Semenova T.D.,  
1992; Izmerov N.F., 1996, 1998; Ilin L.A., 1994; Licisưn Iu.P., 1999; Rumiansev  
G.I. và cs, 1990; Sidorenko G.I. và cs, 1998; Sidorenko G.I., Novikov S.M., 1999;  
Stupakov G.P., Ushakov I.B., 1999; Shandala M.G., 1999; Shepin O.P. và cs, 1996;  
Ecology… 1997).  
Sức khoẻ nghề nghiệp và tuổi thọ người  
làm nghề nguy hiểm  
Quan điểm dự phòng kiểu waterfall về sự tác động của  
yếu tố sản xuất - sinh thái lên sức khoẻ và khả năng lao  
động của con người  
Tuổi sinh học,  
dự trữ tâm sinh  
lý và độ tin cậy  
chức năng  
Trạng thái dạng hội  
chứng: Cách mô hình hoá  
và quy chuẩn hiệu ứng  
sinh thái “nguy hiểm”  
Chất lượng  
cuộc sống  
con người  
Nguy cơ trong đời sống hoạt động của con người, độ tin  
cậy chức năng của hành động, các phẩm chất quan trọng  
theo quan điểm nghề nghiệp  
Vấn đề tác động tổ hợp và kết hợp  
Y học thảm hoạ  
Hình 1. Mối liên hệ của các định hướng cơ bản về sinh thái nhân sinh và các  
quan điểm trong sinh thái người làm nghề nguy hiểm  
(Mũi tên chỉ hướng tương tác thực tế và lý thuyết của khái niệm tương ứng)  
4
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 03, 06 - 2013  
Những vấn đề chung  
Vấn đề quan trọng đầu tiên là sức khoẻ nghề nghiệp và tuổi thọ nghề nguy  
hiểm. Gần đây, các chuyên gia về y học hàng không - vũ trụ và y học nghề khắc  
nghiệt đã đưa ra sơ đồ nguyên tắc tương tác của các yếu tố cấu thành sức khoẻ nghề  
nghiệp và tuổi thọ (Ponamorenko V.A., 1997). Chú ý đầu tiên được dành cho tuổi  
sinh học (thành phần nền) (Voichenko V.P., 1991) và trạng thái chức năng (thành  
phần động). Chính các thành phần này có thể là tiêu chuẩn định lượng đặc thù, và có  
thể lấy làm cơ sở cho việc định lượng liều lượng hiệu dụng của một yếu tố tác động  
lên con người. Đồng thời, các thành phần nền được sử dụng chủ yếu cho đánh giá  
tác động tích luỹ trường diễn, còn thành phần động được dùng trong tác động khắc  
nghiệt vượt ngưỡng. Về nguyên tắc, trên cơ sở áp dụng tổ hợp các phương pháp  
đánh giá đã biết trong y học nghề nghiệp và vệ sinh, người ta thường không dùng  
dạng 2 yếu tố là “ốm - khoẻ”, mà dùng dạng 5 yếu tố: “Khoẻ, bình thường, yếu, tiền  
bệnh lý và bệnh lý”.  
Ở Liên bang Nga, thí dụ điển hình trong thực hiện vấn đề thứ hai hay quan  
điểm dự phòng kiểu waterfall nhằm làm tăng sức chịu đựng của con người nghề  
nghiệp nguy hiểm tới các tác động của yếu tố xã hội và sinh thái bất lợi là văn bản  
đã được Bộ Y tế Nga và ngành hàng không dân dụng Liên bang Nga phê chuẩn “Cơ  
sở y học của luật pháp về việc tăng cường đảm bảo và hưu trí sớm cho nhân viên  
hàng không dân dụng Nga do nguy cơ mất khả năng lao động nghề nghiệp do tác  
động của điều kiện lao động nguy hiểm, độc hại và căng thẳng” (1997).  
Vấn đề thứ ba là quan điểm về trạng thái dạng hội chứng: Cách mô hình hoá  
và quy chuẩn các hiệu ứng sinh thái “nguy hiểm”.  
Kết quả nghiên cứu trong nhiều năm cho thấy, tác động của đa số các yếu tố  
hoạt động của người làm nghề nguy hiểm thường đi kèm với tập hợp các biến đổi  
dạng hội chứng ở cấp độ tế bào và tế bào - phân tử (Đavưdov B.I., Ushakov I.B.  
1994; Ushakov I.B. và cs, 1998). Những biến đổi này được đặc trưng bởi sự giảm  
tính năng động và hợp lý trong trao đổi năng lượng, dẫn đến giảm khả năng thích  
nghi của con người, biểu hiện qua việc sử dụng oxy nhiều hơn ở trạng thái tĩnh, làm  
gián đoạn quá trình oxy hoá và photpho hoá, giảm dung lượng nguồn năng lượng ưa  
khí và dự trữ oxy hoá khử của ti lạp thể, tăng phần sản phẩm năng lượng kỵ khí,  
chuyển trao đổi chất sang trao đổi lipid. Hướng chuyển dịch này rất giống với sự  
thoái hóa hệ thống trao đổi năng lượng ở tuổi già và khi sức khoẻ suy sụp. Trên cơ  
sở những nghiên cứu này đã xây dựng phương pháp luận để tìm những điều tương tự  
với một yếu tố nguy hiểm nào đó cho cuộc sống.  
Luận điểm quan trọng nhất của quan điểm này là tác động càng nguy hiểm thì  
ứng với phản ứng đáp lại của cơ thể càng mạnh. “Cây phân tích” logic về các yếu tố  
khắc nghiệt đang được xem xét và mô hình dạng hội chứng của chúng gồm một số cấp  
độ: Cơ chế, triệu chứng và tổ hợp triệu chứng (triệu chứng và hội chứng rối loạn), sự  
biến đổi hoạt động và cuối cùng là ngoại suy theo nguyên tắc “mô hình - yếu tố”.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 03, 06 - 2013  
5
Những vấn đề chung  
Vấn đề thứ tư là quan điểm về tuổi sinh học, dự trữ tâm sinh lý và độ tin cậy  
chức năng của các hệ trong cơ thể người. Ví dụ, tuổi sinh học của phi công quân sự  
cũng như phi công hàng không dân dụng vượt quá tuổi sinh học của người dân  
thường từ 8 - 10 năm. Pic tuổi nghề nghiệp ở khoảng tuổi 30 - 40.  
Độ tin cậy chức năng là yếu tố động của trạng thái chức năng, phản ánh sự ổn định  
và khả năng dự trữ của các hệ chức năng trong cơ thể người trong đảm bảo khả năng tác  
nghiệp nghề nghiệp cao (sự hiệu quả và an toàn của hoạt động) trong mọi điều kiện, kể  
cả trong điều kiện nghề nghiệp khắc nghiệt (Ushakov I.B., Shalimov P.M., 1996).  
Các công trình nghiên cứu đã làm rõ những đặc điểm cấu trúc động của dự trữ  
chức năng của người làm nghề nguy hiểm thông qua đánh giá khoảng biến đổi (độ  
rộng) của các chỉ số trong kiểm tra trắc nghiệm, bao gồm chỉ số tối ưu, căng thẳng  
và kiệt sức. Dựa theo các trạng thái dự trữ chức năng này đã chế tạo thiết bị sử dụng  
tiêu chí để chẩn đoán và dự báo độ tin cậy chức năng, áp dụng các nguyên tắc về đặc  
điểm cấu trúc động của dự trữ chức năng và nguyên tắc đánh giá định lượng và mô  
hình hoá dự báo độ tin cậy chức năng. Phương pháp và thiết bị này được áp dụng  
không những cho phi công, mà còn áp dụng cho hải quân, đội cấp cứu trong tình  
huống khẩn cấp, lực lượng quân sự cơ động.  
Sự kiệt sức luôn đồng hành với hoạt động của người làm nghề nguy hiểm. Liên  
quan tới điều này, để quy chuẩn các yếu tố của môi trường khắc nghiệt và hoạt động  
thì các phương án nguyên tắc về tỷ lệ của các yếu tố “sinh lý” và “tâm lý” trong sinh  
thái người làm nghề nguy hiểm có ý nghĩa quan trọng. Phương án có phần giao nhau  
của các biến đổi sinh lý và hành vi là khả thi nhất.  
Thực tế là hoạt động nặng nhọc và công việc có “tổn hao” hay kèm theo một số  
bệnh: Bệnh sỏi tiết niệu cao hơn gấp 6 lần; loạn dưỡng cơ tim, các bệnh tim mạch, rối  
loạn chức năng hệ thần kinh, điếc cao hơn 4 lần; viêm mũi, thoái hoá cột sống cao hơn  
3 lần; bệnh suy giảm miễn dịch và tự miễn cao hơn gấp 2 lần; bệnh hệ tiêu hoá cao  
hơn gấp 1,5 lần (Ponomarenko V.A., 1995). Đây không phải là bệnh nghề nghiệp theo  
đúng nghĩa, mà là bệnh do nghề nghiệp, hay bệnh bị nặng do nghề nghiệp.  
Trong vấn đề thứ năm, mức độ y tế - xã hội của sinh thái người làm nghề nguy  
hiểm được đưa ra theo quan điểm phẩm chất quan trọng nhằm xem xét một cách  
đầy đủ hơn sự lệch chuẩn về trạng thái sức khỏe của nhóm nguy cơ cao trong số  
những người chuyên nghiệp và người thường (Đavưdov B.I. và cs, 1992; Ushakov  
I.B. và cs, 1999). Xã hội đương nhiên phải trả chi phí cho những nguy cơ cao bằng  
cách cải thiện chất lượng cuộc sống của những người chuyên nghiệp. Chất lượng  
cuộc sống con người là vấn đề nền tảng sinh thái - vệ sinh của y học dự phòng. Theo  
quan điểm của chúng tôi, yếu tố tạo hệ thống chất lượng cuộc sống là sức khoẻ con  
người (sức khoẻ cá nhân, sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ xã hội và sức khoẻ nghề  
nghiệp). Sức khoẻ nghề nghiệp là đặc biệt thiết thực đối với người làm nghề nguy  
hiểm. Chất lượng cuộc sống là khái niệm có tính vectơ; có thể soạn ra các chỉ số  
định lượng, các chỉ tiêu và các hệ số cho nó thông qua sắp xếp từ thấp đến cao các  
thành phần một cách có chủ định theo những chỉ số nào đó về sức khỏe con người.  
6
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 03, 06 - 2013  
Những vấn đề chung  
Trên cơ sở cách tiếp cận trên, ở Nga đã tạo ra hệ thống xử lý thông tin tự động  
“КВАВИФИТА” để đánh giá tình trạng sức khoẻ của những người đi khắc phục  
hậu quả và người dân sống ở vùng bị ô nhiễm môi trường sinh thái. Điểm khác biệt  
của hệ thống này là khả năng phát hiện những yếu tố tiềm ẩn đe doạ sức khoẻ theo  
một bộ các chỉ số và cho phép sắp xếp tuần tự các cá nhân theo mức độ nguy cơ  
bệnh tật. Hệ thống này sử dụng 17 nhóm chỉ số chất lượng cuộc sống (tổng cộng 265  
thông số) liên quan tới nguy cơ mắc bệnh ung thư. Các chỉ số quan trọng nhất là  
thành phần gia đình và điều kiện sống, dinh dưỡng, đời sống lao động, các yếu tố  
nguy cơ, tiền sử và triệu chứng bệnh ung thư. Chất lượng cuộc sống là tác nhân cải  
biến quan trọng nhất của sức khỏe, trong đó có sức khỏe nghề nghiệp, do đó cũng là  
tác nhân cải biến sức bền của cơ thể đối với các yếu tố bất lợi của môi trường.  
Định hướng khoa học thứ sáu là vấn đề các tác động tổ hợp và kết hợp. Việc  
nghiên cứu tác động tổ hợp của các yếu tố môi trường sống là một vấn đề quan trọng  
nhất của sức khoẻ người làm nghề nguy hiểm. Vì vậy, rất khó đánh giá tính chất ưu  
tiên của yếu tố này hay yếu tố khác trong việc làm rối loạn chức năng của cơ thể, kể  
cả khi xuất hiện bệnh lý sinh thái. Khía cạnh thực tiễn của vấn đề này trước hết liên  
quan đến việc quy chuẩn các yếu tố môi trường cùng với việc đánh giá hiệu quả của  
phương tiện và biện pháp được chỉ định để dự phòng, bảo vệ, điều chỉnh và phục hồi  
những rối loạn đó (Ushakov I.B. và cs, 1997).  
Nhóm các yếu tố tác động mạnh đến người làm nghề nguy hiểm cũng như các  
hệ thống sinh lý tham gia tiếp nhận các tác động này lên cơ thể con người là vô cùng  
đa dạng. Đó là các yếu tố âm thanh cơ học, môi trường khí và áp suất khí quyển thay  
đổi, nhiệt độ và vi khí hậu, điện từ trường, độc tố và các yếu tố khác. Tất cả các tác  
động này xảy ra trên nền của sự căng thẳng về tinh thần và thông tin của người làm  
nghề nguy hiểm.  
Cũng cần phải nói là đặc điểm tương tác của các yếu tố khắc nghiệt tác động  
lên người làm nghề nguy hiểm là rất phức tạp và chưa được nghiên cứu đầy đủ. Sức  
chịu đựng của cơ thể đối với tác động tổ hợp của một tập hợp các yếu tố mang tính  
cá biệt và không dự báo được cho từng dạng tác động.  
Trong thực tế, trong số các tổ hợp chập hai của 9 yếu tố cực hạn mới nghiên  
cứu được khoảng 49 - 53 tổ hợp. Để đánh giá tác động tổ hợp của 3 hoặc nhiều yếu  
tố hơn cần phải có những nghiên cứu dịch tễ chuyên biệt. Tình huống liên quan tới  
sự cố Trecnobin cho phép thực hiện ở mức độ nào đó những nghiên cứu loại này.  
Rõ ràng là việc hoạt động bình thường và hiệu quả trong điều kiện khắc nghiệt  
là không thể nếu không có phương tiện và biện pháp bảo vệ chống các tác nhân và  
phương tiện tối ưu hóa trạng thái hoạt động. Việc áp dụng các phương tiện và biện  
pháp đó đã đảm bảo tăng sự chịu đựng của cơ thể đối với các yếu tố môi trường và  
điều kiện làm việc lên 10 - 30%, nâng cao chất lượng và độ tin cậy trong hoạt động  
nghề nghiệp lên 25 - 30%, giảm giá thành tâm lý của công việc đi 20 - 25% và tăng  
chu kỳ khả năng làm việc hiệu quả lên 15 - 20%.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 03, 06 - 2013  
7
Những vấn đề chung  
Có thể nhận thấy là sinh thái người làm nghề nguy hiểm hiện đại là một thí dụ  
đặc thù nghiên cứu con người theo quan điểm hệ thống, không chỉ tính đến các yếu  
tố sinh học và sinh thái, mà cả yếu tố nghề nghiệp xã hội, trong đó các công việc  
đang làm để bảo vệ con người tuân thủ các tính toán nghiêm túc theo nguyên tắc cân  
nhắc “lợi và hại”.  
Các nghiên cứu đã cho thấy, phản ứng của con người đối với mức khắc nghiệt  
của tác động của nhiều yếu tố cũng tuân theo quy luật sinh học chung của phản ứng  
đối với các kích thích khó chịu (Ushakov I.B., Karpov V.N., 1997). Đồng thời, cơ  
chế chung của các phản ứng này là sự tiêu hao nguồn năng lượng của não. Đã thu  
được đẳng thức xác định quan hệ định lượng giữa các mức tác động khắc nghiệt  
tương đương của một yếu tố, và điều quan trọng là đã đưa ra đơn vị đo lường chung.  
Những mối phụ thuộc dạng hypecbon này giống với phát hiện của nhà vật lý người  
Hà Lan Chorveg vào năm 1892 giữa cường độ và thời gian kích thích tới ngưỡng  
của màng tế bào của mô bị kích thích bằng dòng điện. Trên cơ sở cách tiếp cận này  
đã đưa ra phương pháp xác định mức độ hiệu quả và tương đương của tác động khắc  
nghiệt vào thời điểm bất kỳ (Karpov V.N., Ushakov I.B., 1995).  
Đã đề xuất phương pháp đánh giá và tiên lượng thời gian dự trữ của người làm  
nghề nguy hiểm trong trường hợp tác động tổ hợp của các mức khắc nghiệt và các  
yếu tố. Với nhiều yếu tố đã thu được các chỉ số định lượng cho phép sử dụng  
phương pháp này trong giải quyết các bài toán thực tế.  
Đã soạn thảo thuật toán chuyên dụng để xác định về mặt vệ sinh - sinh thái độ  
tin cậy chức năng hoạt động người làm nghề nguy hiểm. Thuật toán xác định được  
xây dựng theo trình tự logic sau: Yếu tố sinh thái (hoặc tổ hợp các yếu tố) - nhiệm  
vụ hoạt động - hiệu quả - độ tin cậy chức năng. Tính độc lập trong đánh giá các hệ  
số của mô hình cho phép xét một lượng tùy ý các yếu tố và tiến hành nghiên cứu  
tổng hợp theo giai đoạn một tập hợp bất kỳ các yếu tố.  
Cũng đã xác định được là có thể hạn chế nguy cơ cao cho người làm nghề  
nguy hiểm bằng các biện pháp dự phòng khá hữu hiệu. Đã xác định được tính hiệu  
quả của tổ hợp dự phòng bao gồm các phương pháp tâm lý - y học và vệ sinh - sinh  
lý nhằm tăng tính bền và sự chịu đựng đối với tác động của các yếu tố bất lợi  
(Ponomarenko V.A. và cs, 1990).  
Với rating của các thành phần đã được bàn luận tới trong tài liệu này (điều  
kiện hoạt động nghề nghiệp là 29%, mức độ được chuẩn bị về tâm sinh lý chuyên  
biệt là 20%, chất lượng cuộc sống là 15%, dự trữ chức năng là 13%, sức khoẻ nghề  
nghiệp là 13%, khác là 10%) hiện đã chuyển được nguy cơ hành động mắc lỗi nguy  
hiểm từ vùng nguy cơ cao (0,22) xuống vùng nguy cơ chấp nhận được (0,15 hành  
động mắc lỗi trong 1 giờ làm việc).  
Khi tăng chi phí trợ cấp chuyên nghiệp trong lĩnh vực hoạt động nguy hiểm lên  
5 lần (thực tế là tăng chi phí cho nguy cơ, bao gồm các phí trả thêm tiền, giảm giờ  
làm việc trong ngày, tuổi nghỉ hưu thấp hơn, chi phí cho hồi phục sức khoẻ...), thì tai  
nạn giảm xuống khoảng 3 lần, lúc đó chi phí thực tế sẽ giảm xuống khoảng 2 lần.  
8
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 03, 06 - 2013  
Những vấn đề chung  
Đã có thực tế thanh toán “phí nguy hiểm”, ví dụ trong lĩnh vực vệ sinh phóng xạ,  
giá thành định hướng vào năm 1990 là từ 200 rúp đến 1.000 rúp khi chiếu ở liều 1 rem.  
Hiện nay đã nghiên cứu và áp dụng các hệ thống tự động chẩn đoán và phát  
triển phẩm chất quan trọng theo quan điểm nghề nghiệp của các chuyên gia, bao  
gồm các đặc điểm nhân cách, trí tuệ, sinh lý, thể lực và tâm sinh lý. Tính đến tình  
huống dân số phức tạp hiện nay và chất lượng cuộc sống thấp, việc bảo đảm y tế cho  
hệ thống phát triển phẩm chất nghề nghiệp là đòi hỏi của thực tiễn.  
Trong phần kết cần nhận xét rằng trong các lĩnh vực y học quân sự, y học hàng  
không - vũ trụ và y học nghề nghiệp của các cơ quan sức mạnh đã tích lũy được nhiều  
số liệu sinh thái - vệ sinh trong theo dõi những người được gọi là làm nghề nguy hiểm -  
những chuyên gia hoạt động trong điều kiện khó khăn của môi trường bên ngoài.  
Những nghiên cứu này đã cho phép trình bày phạm vi của một lĩnh vực kiến  
thức y học mới là sinh thái người làm nghề nguy hiểm và đề ra sự cần thiết của việc  
phối hợp chặt chẽ những nghiên cứu tiếp theo. Các nội dung ưu tiên trong số đó là:  
- Thành lập ngân hàng dữ liệu về sinh thái người làm nghề nguy hiểm, gồm sự  
phụ thuộc của chỉ số khả năng tâm sinh lý của con người và những hạn chế vào quá  
trình, phương tiện, điều kiện hoạt động nghề nghiệp và cả các hệ thống tiêu chuẩn và  
nguồn tra cứu thông tin cần thiết cho việc tính toán nhanh yếu tố con người trong  
các điều kiện xã hội - kỹ thuật đa dạng.  
- Soạn thảo các hệ thống tư vấn - giám định cho việc đánh giá các tham số về  
mặt sinh thái - lao động của công việc của người làm nghề nguy hiểm.  
- Luận cứ khoa học về thời gian xuất hiện tối ưu, hay ít nhất cũng là không độc  
hại của người lao động trong điều kiện biến đổi sinh thái, cũng như trong tác động  
kết hợp tác của yếu tố sinh thái và yếu tố nghề nghiệp bất lợi.  
- Soạn thảo các phương pháp chẩn đoán tình trạng sức khoẻ của người làm  
nghề nguy hiểm và dự trữ của cơ thể theo dạng của yếu tố stress sinh thái.  
- Nghiên cứu các hiệu ứng ngẫu nhiên của các tác động trường diễn của tổ hợp  
các yếu tố trên cơ sở liệu pháp liều lượng và loại trừ hệ quả xấu.  
- Đề ra cách dự báo thời gian dự trữ, hiệu quả và độ tin cậy trong các hoạt  
động nghề nghiệp của những người làm nghề nguy hiểm trong các tình huống được  
kiểm soát hay được kiểm soát một phần.  
- Nghiên cứu ảnh hưởng của những tác động riêng lẻ và tác động tổ hợp của  
các yếu tố sinh thái, các quá trình và điều kiện hoạt động bất lợi lên chất lượng và  
tính chất căng thẳng của công việc.  
- Sử dụng công nghệ thông tin để tự động đưa ra quyết định về lựa chọn và áp  
dụng các biện pháp bảo vệ người làm nghề nguy hiểm trong mọi tình huống.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 03, 06 - 2013  
9
Những vấn đề chung  
- Nghiên cứu công nghệ mới tạo ra một cách hiệu quả các phẩm chất quan  
trọng theo quan điểm nghề nghiệp, chú trọng đào tạo việc nhận biết tình thế nguy  
hiểm và tăng cường độ bền tâm lý - tinh thần đối với tác động kích động cực mạnh.  
Có thể gia tăng đáng kể độ an toàn sinh thái cho người dân bằng cách tối ưu hoá  
về mặt sinh thái và lao động học các quá trình, phương tiện và điều kiện hoạt động  
cho người làm nghề nguy hiểm, giữ gìn sức khoẻ nghề nghiệp cho họ giống như một  
một thành phần của chất lượng cuộc sống trong môi trường kỹ thuật hiện đại.  
Trong việc hoàn thiện tài liệu tiêu chuẩn kỹ thuật tiếp theo, một mặt cần  
chuyển sang việc chuẩn hoá không phải một tác động riêng rẽ, mà là tác động kết  
hợp của nhiều yếu tố bất lợi, và cùng với nó, mặt khác, tiến hành chuẩn hoá tuân  
theo nguyên tắc động “Liều lượng - thời gian - hiệu ứng” có sử dụng các chỉ số chất  
lượng và tính chất căng thẳng của công việc.  
Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, trong nhiều tình huống chúng ta không thể loại  
bỏ các yếu tố bất lợi của môi trường và sự tác nghiệp của người làm nghề nguy hiểm,  
nhưng cần phải hiểu rõ các hậu quả bất lợi tiềm ẩn và các biện pháp dự phòng cần  
thiết. Về nguyên tắc cần phải có cách tiếp cận mới tổng thể về tiêu chuẩn hóa, chế tạo  
và hoàn thiện các phương tiện bảo vệ, cứu hộ và các hệ thống sinh kỹ thuật điều hành  
các yếu tố môi trường và hoạt động của những người làm nghề nguy hiểm trong mọi  
giai đoạn, kể cả trong trường hợp tai nạn và khắc phục các trường hợp khẩn cấp.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Агаджанян Н.А., Торшин В.И., Экология человека, Избранные лекции,  
М.: Крук, 1994, c.256.  
2. Артамонова В.Г., Актуальные проблемы диагностики и профилактики  
профессиональных заболеваний, Медицина труда и промышленная  
экология, 1996, №5, c.4-6.  
3. Войтенко В.П., Здоровье здоровых. Введение в санологию, Киев: Здоровя,  
1991, c.248.  
4. Гончаров С.Ф., Ушаков И.Б., Лядов К.В., Преображенский В.Н.,  
Профессиональная и медицинская реабилитация спасателей, М.:  
ПАРИТЕТ ГРАФ, 1999, c.320.  
5. Григорьев А.И., Баевский P.M., Овчинников В.В. и др., Принципы  
построения банка данных применительно к проблеме физиологической  
нормы в космической медицине, АКЭМ., 1992, Т.26, №3, c.25-31.  
6. Давыдов Б.И., Пономаренко В.А., Балуев О.Т., Ушаков И.Б.  
Радиационный риск, здоровье, качество жизни: медико-психологические  
и социально-экологические аспекты, Авиакосмич. и экол. медицина,  
1993, Т.27, №2, c.4-12.  
10  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 03, 06 - 2013  
Những vấn đề chung  
7. Давыдов Б.И., Ушаков И.Б., Комбинированное действие экстремальных  
лучевых и нелучевых факторов среды: физиолого-биохимические  
паттерны и общие принципы построения модели, Функциональное  
состояние летчика в экстремальных условиях, М.: Полет, 1994, c.342-413.  
8. Ушакова И.Б., Турзина П.С. и Фаустова А.С., Защита и спасение  
человека в авиации (эколого-гигиенические и эргономические основы),  
Под ред, М.: Воронеж: Истоки, 1999, c.348.  
9. Измеров Н.Ф., Медицина труда в третьем тысячелетии, Медицина  
труда и промышленная экология, 1998, №6, c.4-9.  
10. Измеров Н.Ф., Волгарев М.Н., Румянцев ГИ. и др., Гигиеническая  
профилактика: проблемы и решения, Медицина труда и промышленная  
экология, 1996, №3, c.1-4.  
11. Ильин Л.А., Реалии и мифы Чернобыля, М.: ALARA, 1994, c.446.  
12. Карпов В.Н., Ушаков И.Б., Унификация эффектов воздействия  
экстремальных уровней факторов полета различной энергетической  
природы, Авиакосмич. и экол.медицина, 1995, Т.29, №1, c.19-25.  
13. Лисицын Ю.П., Теории медицины XX века, М.: Медицина, 1999, c.176.  
14. Новиков B.C., Патогенетические механизмы развития экстремальных  
состояний, Вести. Российской Воен, Mед. акад, СПб, 1999, №1, c.57-64.  
15. Новиков B.C., Смирнов B.C., Иммунофизиология экстремальных  
состояний, СПб.: Наука, 1995, c.172.  
16. Пономаренко В.А., Психология духовности профессионала, М.: РАО,  
1997, c.296.  
17. Пономаренко В.А., Страна Авиация - черное и белое, М.: Наука, 1995, c.288.  
18. Пономаренко В.А., Ступаков Г.П., Драч Л.Г, Карпов В.Н., Риск -  
категория экономическая, Авиация и космонавтика, 1990, №1, c.30-31.  
19. Румянцев Г.И., Воронцов М.П., Гончарук Е.И., Общая гигиена: Учебник,  
М.: Медицина, 1990, c.420.  
20. Сидоренко Г.И., Новиков С.М.,Экология человека и гигиена окружающей  
среды на пороге XXI века, Гигиена и санитария, 1999, №5, c.3-6.  
21. Сидоренко ГИ., Румянцев Г.И., Новиков С.М., Актуальные проблемы  
изучения воздействия факторов окружающей среды на здоровье  
населения, Гигиена и санитария, 1998, №4, c.3-8.  
22. Словарь основных понятий и определений медицины катастроф, Под  
общ. ред. С.Ф.Гончарова, М.: Всесоюзный центр медицины катастроф  
"Защита", 1997, c.246.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 03, 06 - 2013  
11  
Những vấn đề chung  
23. Ступаков ГП, Ушаков И.Б., Авиационная атропоэкология (Проблемы  
медицины авиационного труда), Воронеж: Истоки, 1999, c.480.  
24. Ушаков И.Б., Антипов В.В., Федоров В.П., Горлов В.Г., Комбинированное  
действие факторов космического полета, Космич. биол. и медицина, М.:  
Наука, 1997, Т.III, кн.2, Ч.VI, c.291-353.  
25. Ушаков И.Б., Гусев С.И., Давыдов Б.И. и др., Квалиметрия жизни и  
отдаленные радиационные последствия чернобыльской экологической  
катастрофы, Вычислительный центр РАН, 1999, c.122.  
26. Ушаков И.Б., Карпов В.Н., Мозг  
и
радиация (К столетию  
радионейробиологии), М.: ГНИИИАиКМ, 1997, c.76.  
27. Ушаков И.Б. Лапаев В.Э., Воронцова З.А., Должанов А.Я., Радиация и  
алкоголь: Очерки радиационной наркологии, или алкогольный  
"Чернобыль", Воронеж: Истоки, 1998, c.248.  
28. Ушаков И.Б., Шалимов П.М., Функциональная надежность  
функциональные резервы летчика, Вестн. РАМН, 1996, № 7, c.26-31.  
и
29. Шандала М.Г., Опыт гигиенической разработки проблемы физических  
факторов окружающей среды, Гигиена и санитария, 1999, № 4, c.3-9.  
30. Щепин О.П., Здоровье населения Российской Федерации: проблемы и  
перспективы, Вестн. РАМН, 1996, № 6, c.11-15.  
31. Н.А.Агаджанян, И.Б.Ушаков, В.И.Торшин и др., Экология человека:  
словарь справочник, М.: Крук, 1997, c.208.  
Nhận bài ngày 02 tháng 6 năm 2013  
Hoàn thiện ngày 10 tháng 6 năm 2013  
(1) Viện Hàn lâm Y học Nga  
(2) Viện nghiên cứu Y học quân sự - BQP Nga  
12  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 03, 06 - 2013  
pdf 10 trang yennguyen 19680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo vệ sức khoẻ con người trong điều kiện khắc nghiệt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_ve_suc_khoe_con_nguoi_trong_dieu_kien_khac_nghiet.pdf