Giáo trình Dược lý thú y - Nghề: Thú y

UYN Ố BẢN QUYỀN  
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI  
GIÁO TRÌNH  
MÔN HỌC: DƯỢC LÝ THÚ Y  
NGHỀ: THÚ Y  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG, TRUNG CẤP  
(Ban hành kèm theo Quyết định số:  
/QĐ – CĐLC ngày  
tháng năm  
của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Lào Cai)  
1
 
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN  
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép  
dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.  
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh  
thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.  
2
LỜI GIỚI THIỆU  
Nghề thú y là những công việc nhằm phát hiện, điều trị và phòng ngừa dịch  
bệnh cho vật nuôi đồng thời góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng.  
Do vậy, nghề thú y có tầm quan trọng đặc biệt trong việc bảo vệ vật nuôi, gắn  
liền với việc phát triển ngành chăn nuôi. Số lượng vật nuôi càng tăng thì nghề thú y  
cũng phát triển theo. Trong việc bảo vệ sức khỏe cho đàn vật nuôi thì Dược lý thú y  
góp một phần đặc biệt quan trọng.  
Giáo trình Dược lý thú y là giáo trình nội bộ, là tài liệu học tập cho học sinh học  
chuyên ngành Chăn nuôi thú y nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản về các nguyên  
tắc sử dụng thuốc trong việc phòng và trị bệnh cho vật nuôi.  
Giáo trình Dược lý thú y gồm 7 Chương. Trong mỗi chương sẽ giới thiệu về  
tính chất lý, hóa học của các nhóm thuốc, công dụng và ứng dụng điều trị của các  
nhóm thuốc trong việc phòng và điều trị bệnh cho vật nuôi.  
Chúng tôi biên soạn cuốn sách này trên cơ sở tham khảo các giáo trình Dược lý  
thú y đã được xuất bản của các tác giả trong và ngoài nước. Tuy nhiên,  
Thuốc chữa bệnh và phòng bệnh cho vật nuôi luôn luôn có sự thay đổi nhờ  
thành tựu nghiên cứu khoa học của ngành chăn nuôi – thú y. Vì vậy giáo viên nên có  
sự chủ động bổ sung các loại thuốc mới có hiệu quả cao trong việc phòng và điều trị  
bệnh cho vật nuôi để kiến thức luôn được cấp nhật. Đồng thời loại bỏ những thuốc ít  
được sử dụng có trong giáo trình.  
Trong quá trình biên soạn chúng tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ về tư liệu và  
những ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp gần xa.  
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó, xin trân trọng  
giới thiệu với bạn đọc về cuốn sách này.  
Dù đã cố gắng nhiều song cuốn sách này chắc chắn vẫn còn những khiếm  
khuyết, chúng tôi rất mong nhiều ý kiến đóng góp quý báu của các bạn để cuốn sách  
ngày càng hoàn thiện hơn.  
Lào Cai, ngày  
tháng năm 2020  
Tham gia biên soạn  
Chủ biên: Trương Thị Xuân  
3
 
MỤC LỤC  
4
5
6
7
8
CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC  
Tên môn học: Dược lý thú y  
Mã môn học: MH 09  
Thời gian thực hiện môn học: 60 giờ; (Lý thuyết: 28 giờ, Thảo luận, bài tập: 28  
giờ; Kiểm tra: 04 giờ)  
I. Vị trí, tính chất của môn học  
- Vị trí: Môn học Dược lý thú y là môn học cơ sở nằm trong chương trình đào  
tạo Cao đẳng thú y. Môn học được bố trí học sau môn giải phẫu vật nuôi và trước các  
mô đun chuyên ngành  
- Tính chất: Là môn học lý thuyết cơ sở bắt buộc thuộc khối các môn học cơ sở.  
Môn học bổ trợ kiến thức cho các môn học chuyên môn như: Chẩn đoán lâm sàng,  
phòng trị bệnh nội khoa thú y; phòng trị bệnh ngoại khoa thú y; phòng trị bệnh sản  
khoa thú y; sử dụng vacxin cho vật nuôi; chăn nuôi chuyên khoa  
II. Mục tiêu môn học  
Học xong môn học này người học đạt được  
- Về kiến thức: Trình bày được những kiến thức cơ bản về thuốc. Nhận biết các  
loại thuốc thú y, các tác dụng chính và phụ của thuốc, cách dùng, liều lượng của các  
loại thuốc thường dùng trong thú y  
- Về kỹ năng: Kê được đơn thuốc và thực hiện pha chế được các thuốc theo  
đúng nguyên tắc, đúng chuyên môn trong việc phòng và trị bệnh cho vật nuôi. Phân  
loại được các nhóm thuốc đã học và tác dụng của chúng. Đọc được tên thuốc  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm  
+ Quá trình sử dụng thuốc phải tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc chuyên môn,  
lương tâm nghề nghiệp trong sáng, tránh gây hại cho gia súc  
+ An toàn lao động, vệ sinh thú y  
9
 
CHƯƠNG I: DƯỢC LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG  
* Mục tiêu  
- Trình bày được các yếu tố ảnh hưởng đến tác dụng dược lý của thuốc, các  
đường đưa thuốc vào cơ thể vật nuôi cũng như mối liên quan giữa đường đưa thuốc  
với tác dụng dược lý của thuốc  
- Chẩn đoán và phòng, trị được các chứng ngộ độc thuốc khi vật nuôi bị trúng  
độc thuốc thú y  
- Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm  
- Sử dụng thuốc đúng mục đích, tránh lạm dụng thuốc trong điều trị bệnh  
* Nội dung chính  
1. Khái niệm về thuốc, thức ăn và chất độc  
1.1. Khái niệm về thuốc  
- Thuốc là các chất hay hợp chất được sử dụng để điều trị, phòng ngừa hoặc để  
chẩn đoán bệnh tật. Thuốc còn có tác dụng khôi phục, điều chỉnh các chức năng của hệ  
thống cơ quan trong cơ thể người và vật nuôi.  
- Với mục đích là điều tr, thuốc sẽ giúp cho cơ thể người và động vật có thể  
điều chỉnh hoặc khôi phục lại trạng thái sinh lý bình thường.  
- Với chức năng phòng bệnh, thuốc giúp cho cơ thể người và động vật không  
lâm vào trạng thái bệnh lý. Có thể dùng thuốc để hạn chế, ngăn ngừa bệnh bằng cách  
tiêu diệt các nguyên nhân gây bệnh hay các động vật môi giới trung gian truyền bệnh  
tồn tại ngoài môi trường.  
- Với chức năng chẩn đoán bệnh, thuốc giúp ta kiểm tra, xác định lại các bệnh  
truyền nhiễm ở người và động vật đang ở giai đoạn nghi ngờ ( Dùng các thuốc kháng  
sinh đặc trị sẽ giúp ta phân biệt được bệnh do vi khuẩn, virút…)  
- Với chức năng dùng thuốc để khôi phục, điều chỉnh các chức phận của hệ  
thống cơ quan trong cơ thể vật nuôi như các thuốc giảm sốt, chống thiếu máu, thuốc  
mê, thuốc tê…  
1.2. Nguồn gốc thuốc  
- Thuốc có nguồn gốc từ thực vật: Bồ công anh, bồ kết, mã tiền, mã đề…  
- Thuốc có nguồn gốc từ động vật: Mật gấu, cao hổ cốt…  
- Thuốc từ khoáng vật, kim loại: Thủy ngân, đồng, sắt…  
- Thuốc có nguồn gốc từ vi sinh vật và xạ khuẩn: Các thuốc kháng sinh  
1.3. Phân biệt giữa thuốc, thức ăn và chất độc  
- Thuốc là những chất được sử dụng để điều trị, phòng ngừa hay chẩn đoán  
bệnh. Tác dụng này của thuốc luôn đi đôi với liều lượng và cách sử dụng  
- Giữa thuốc và thức ăn nhiều khi cũng không có ranh giới rõ ràng ( Ví dụ: Như  
sử dụng các loại thức ăn dinh dưỡng trong điều trị.)  
10  
         
- Chất độc gồm những chất ở liều lượng rất thấp cũng đã gây nên trạng thái  
bệnh lý hay giết chết hàng loạt động vật, thậm chí cả người.  
Đặc biệt nguy hiểm hơn là giữa thuốc và chất độc cũng khó phân biệt  
Ví dụ: Thực tế thuốc là con dao hai lưỡi: Dùng nồng độ thấp không những  
không có tác dụng mà còn gây hại là gây nên hiện tượng quen thuốc, nhờn thuốc  
nhưng nếu sử dụng liều cao có thể gây độc thậm chí có thể gây chết cho người và  
động vật hoặc có thể để lại tồn dư của thuốc trong sản phẩm thịt, trong sữa … gây  
độc cho người tiêu dùng.  
- Trong điều trị, sự thay đổi về liều lượng đã biến thuốc thành chất độc hay  
ngược lại chuyển chất độc thành thuốc ( ví dụ: NaCl, Strychnin…)  
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tác dụng dược lý của thuốc  
2.1. Nhóm yếu tố cơ thể  
2.1.1. Loài vật, giống khác nhau có sự mẫn cảm với thuốc khác nhau  
- Do cấu tạo đặc điểm sinh lý, sinh hóa cũng như khả năng hấp thu, chuyển hóa,  
thải trừ của thuốc của các loài vật khác nhau nên sự phản ứng của cơ thể chúng đối với  
thuốc cũng khác nhau  
Ví dụ: Trong lâm sàng không dùng thuốc mê bay hơi để gây mê cho loài động  
vật nhai lại  
+ Hoặc cũng là hạt mã tiền nhưng “ Cẩu ăn cẩu tử, mã ăn mã hý” Tức là chó  
ăn sẽ chết còn ngựa ăn lại đẹp ra  
- Thậm chí ngay cả đối với cùng loài cũng có sự mẫn cảm với thuốc khác nhau  
Ví dụ: Cùng là loài lợn nhưng chỉ có giống lợn nhập ngoại siêu nạc ở nước ta  
mới cần bổ xung thêm Fe sau khi sinh  
2.1.2. Yếu tố tính biệt  
- Sự mẫn cảm với thuốc khác nhau giữa con đực và con cái là do hoạt động của  
các tuyến sinh dục. Nhìn chung con cái mẫn cảm hơn với các loại thuốc ngủ.  
2.1.3. Lứa tuổi  
- Tuổi động vật không chỉ có ảnh hưởng đến trọng lượng cơ thể vì thông thường  
khi sử dụng thuốc thường tính theo trọng lượng cơ thể. Nói chung gia súc già chịu  
đựng thuốc tốt hơn gia súc non và gia súc trưởng thành  
2.1.4. Yếu tố cá thể  
- Mỗi cá thể có phản ứng với thuốc khác nhau, những gia súc sinh ra cùng cha,  
cùng mẹ có phản ứng đối với thuốc tương đối giống nhau, đặc biệt với những con sinh  
ra cùng trứng sẽ có phản ứng đối với thuốc hoàn toàn giống nhau.  
- Việc dùng lặp nhiều lần một loại thuốc sẽ dẫn đến các hiện tượng sau:  
+ Tích lũy làm tăng độc tính của thuốc ở trong các tổ chức  
+ Hiện tượng quen thuốc gây mất tác dụng dược lý của thuốc  
+ Hiện tượng dị ứng thuốc gây sốc quá mẫn như dị ứng Penicillin ở người hay  
tiêm B – Complex dưới da của chó, mèo cũng dễ gây nên hiện tượng sốc thuốc.  
11  
           
2.1.5. Trạng thái bệnh lý  
- Các thuốc sử dụng chỉ có tác dụng dược lý khi cơ thể trong thời kỳ bệnh lý  
Ví dụ: Thuốc hạ sốt, giảm đau chỉ có tác dụng khi cơ thể đang bị sốt hoặc đau  
2.1.6. Ảnh hưởng của đường đưa thuốc đến tác dụng dược lý của thuốc  
- Cùng một thuốc, cùng một liều lượng nhưng do đường đưa thuốc khác nhau  
thì tác dụng dược lý của thuốc cũng khác nhau  
Ví dụ: Dùng MgSO4 theo đường uống thì có tác dụng nhuận tràng còn khi dùng  
dưới đường tiêm thì lại có tác dụng giảm đau, với liều thấp thì là thuốc tiền mê còn  
với liều cao lại là thuốc giết gia súc ( thuốc nhân đạo)  
2.1.8. Nhịp điệu thải trừ thuốc  
Có nhiều thuốc có tính tích luỹ do thời gian tồn tại lâu trong cơ thể, nếu dùng  
liên tục sẽ bị trúng độc. Ngược lại có thuốc hấp thu chậm nhưng lại thải trừ nhanh nên  
không đảm bảo nồng độ hữu hiệu có tác dụng chữa bệnh trong máu. Các thuốc chứa  
những kim loại nặng như Hg, Pb, As... thải trừ chậm gây tích luỹ trong cơ thể và gây  
hội quả sau này  
2.2. Nhóm yếu tố ngoài cơ thể  
2.2.1. Hóa lý tính  
- Tính tan: Thuốc tan trong nước mới được hấp thu, phân bố, di chuyển trong cơ  
thể để phát huy tác dụng dược lý cũng như độc tính của chúng. Tính tan trong nước  
của thuốc tỷ lệ nghịch với độ tan trong lipit  
- Tốc độ bốc hơi của thuốc mê bay hơi qua đường hô hấp, thuốc nào bốc hơi  
nhanh sẽ nhanh được hấp thu, khi sử dụng động vật sẽ nhanh mê hơn  
2.2.2. Liên quan giữa cấu trúc và tác dụng  
- Chỉ cần một thay đổi nhỏ trong cấu trúc hóa học cũng đã có ảnh hưởng đến  
hoạt tính của thuốc  
2.2.3. Dạng thuốc  
- Dạng thuốc, cách thức bào chế, điều kiện bảo quản có ảnh hưởng sâu sắc đến  
tác dụng dược lý của thuốc  
- Thuốc có độ tán nhỏ, mịn, tốc độ hòa tan càng lớn thì thuốc càng dễ hấp thu,  
hoạt tính càng cao  
- Thuốc ở dạng bột dễ tan hơn dạng rắn  
- Cùng một loại thuốc nhưng tốc độ hấp thu ở đường tiêu hóa khác nhau do  
chúng có dạng bào chế khác nhau. Tốc độ hấp thu giảm dần tùy theo các dạng bào chế  
sau đây:  
Dung dịch > Nhũ tương > viên nang > viên nén > viên bao.  
- Thuốc ở dạng lỏng có tác dụng nhanh hơn thể rắn  
2.2.4. Liều lượng  
- Liều lượng của thuốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, đồng thời liều  
của thuốc còn phụ thuộc vào mục đích điều trị của người kê đơn  
12  
             
- Liều lượng cũng như nồng độ của thuốc trong cơ thể quyết định tác dụng dược  
lý của thuốc, liều thấp thì thuốc không có tác dụng còn liều cao gây độc, thậm chí còn  
gây chết đối với người và vật nuôi, người ta chia liều lượng thuốc thành các khái niệm  
như sau:  
+) Liều tính theo thời gian: Liều một lần, liều một ngày, liều một đợt điều trị  
( liệu trình)  
+) Liều tối thiểu tác dụng (liều ngưỡng). Đó chính là lượng thuốc tối thiểu có  
trong cơ thể để thuốc có tác dụng chữa bệnh, khi mức thấp dưới nồng độ này thì thuốc  
không có tác dụng nữa  
+) Liều trung bình điều trị: Thường thì liều điều trị cao hơn liều ngưỡng, với  
liều này thuốc có tác dụng phòng trị hay khôi phục lại chức năng sinh lý cho vật nuôi,  
không gây nên những rối loạn bệnh lý nào  
+) Liều tối đa nếu vượt quá sẽ gây độc cho vật nuôi  
+) Liều độc: Cao hơn liều điều trị tức là khi cơ thể tiếp nhận thuốc sẽ có những  
biểu hiện bệnh lý độc hại. Liều độc bao gồm liều bắt đầu gây chết ( Liều gây chết là  
khi sử dụng sẽ gây chết từ 50 – 100 % động vật thí nghiệm)  
- ý nghĩa của chỉ số điều trị cho ta biết độ an toàn của thuốc. Thuốc nào có liều  
tác dụng nhỏ và khoảng cách giữa liều độc với liều điều trị càng xa tức chỉ số điều trị  
lớn thì thuốc đó càng an toàn và ngược lại  
2.2.5. Liệu trình dùng thuốc  
- Liệu trình dùng thuốc là số lần dùng thuốc trong ngày và dùng trong bao nhiêu  
ngày thì tạm ngừng hay ngừng hẳn. Thông thường khi kê đơn thuốc nên ghi giữa liều  
trung bình và liều tối đa.  
- Muốn thuốc có hiệu lực phòng bệnh và điều trị bệnh cao, triệt để cần tuân theo  
đúng chỉ định khi sử dụng thuốc như: Dùng đúng liều lượng, đủ liệu trình, tuy nhiên  
tùy từng loài động vật thì liệu trình điều trị là khác nhau  
Ví dụ: Khi dùng Strychnin trị bại liệt cho động vật  
+ Với chó không được dùng quá 4 ngày  
+ Lợn không quá 7 ngày  
+ Trâu, bò, ngựa không quá 10 ngày  
Ngoài thời gian điều trị trên nếu động vật chưa khỏi ta tạm dừng thuốc 7 ngày  
rồi lại tiếp tục điều trị đợt khác.  
2.2.6. Các yếu tố ngoại cảnh khác  
- Chế độ chăm sóc, ăn uống, quản lý động vật bệnh  
- Thời gian dùng thuốc: Tối hay ban ngày, trước hay sau bữa ăn…  
- Hiện tượng cảm ứng với các thuốc dùng trong thời gian điều trị bệnh.  
13  
   
3. Đường đưa thuốc vào cơ thể  
3.1. Hấp thu qua da  
- Thuốc sát trùng, thuốc ghẻ, nấm ( thuốc ở dạng mỡ), thuốc xoa bóp khi bị  
viêm cơ, viêm khớp (cao dán). Thuốc đưa qua đường da gồm các cách sau: Xoa bóp,  
chườm nóng, chườm lạnh, bôi, rắc, đắp, tắm, phun khí dung…  
- Thuốc qua da được hấp thu qua các lỗ chân lông và tuyến mồ hôi  
- Muốn thuốc hấp thu tốt nên làm sạch da trước khi bôi thuốc, đồng thời cũng  
chà sát, xoa bóp mạnh để mạch quản dưới da giãn giúp thuốc hấp thu nhanh. Bôi thuốc  
trên da thường đơn giản, dễ thực hiện nhưng không thể tính liều chính xác và không  
dùng khi cấp cứu gia súc được  
3.2. Hấp thu qua đường tiêu hóa  
- Có một số thuốc bị biến đổi khi cho uống như Penicillin cổ điển, khi đó thuốc  
sẽ bị mất tác dụng  
3.2.1. Hấp thu ở dạ dày  
- Do pH ở dạ dày có độ axít cao do vậy dạ dày chỉ hấp thu các thuốc có tính axít  
yếu. Do đó khi sử dụng các thuốc gây kích ứng dạ dày nên uống sau khi ăn  
3.2.2. Hấp thu ở ruột  
- Phần lớn các thuốc được hấp thu ở ruột, đặc biệt là ruột non  
3.3. Hấp thu theo đường tiêm  
- Tiêm thuốc thì thuốc sẽ được hấp thu hoàn toàn, phát huy tác dụng nhanh. Các  
phương pháp tiêm bao gồm: Tiêm dưới da, tiêm tĩnh mạch, tiêm bắp. Do vậy yêu cầu  
về thuốc đối với các vị trí tiêm cũng khác nhau  
3.4. Hấp thu qua niêm mạc  
- Hấp thu qua niêm mạc mắt, mũi, nhỏ hoặc bôi, thụt rửa cổ tử cung, âm đạo,  
đường sinh dục bị viêm, bơm thuốc kháng sinh, kháng nấm ở đường sinh dục con cái.  
- Bơm thuốc thẳng vào bầu vú khi bò bị viêm vú.  
4. Các tác dụng của thuốc  
4.1. Tác dụng cục bộ và toàn thân  
- Tác dụng cục bộ là thuốc có tác dụng tại nơi bôi thuốc  
Ví dụ: Bôi thuốc để điều trị nấm, vết thương ngoại khoa, thuốc sát trùng, thuốc  
nhỏ mắt, nhỏ mũi…  
- Tác dụng toàn thân: Là những thuốc có cơ chế tác dụng trên những hệ cơ quan  
điều khiển hoạt động sống của toàn cơ thể như: Hệ tuần hoàn, thần kinh, hô hấp…  
Ví dụ: Tiêm Strychnin, Cafein, Adrenalin…  
- Thuốc có tác dụng tại chỗ cũng chỉ có giới hạn nhất định. Khi sử dụng thường  
xuyên một loại thuốc có tác dụng cục bộ, hoặc sử dụng với liều cao thì từ tác dụng cục  
bộ có thể sẽ chuyển thành tác dụng toàn thân  
Ví dụ: Bôi thuốc đỏ lâu ngày cho vật nuôi sẽ gây trúng độc thủy ngân, đặc biệt  
đối với ngựa và chó.  
14  
                 
4.2. Tác dụng chính và tác dụng phụ  
- Tác dụng chính là mục đích cần đạt được của một loại thuốc nào đó, tác dụng  
chính thường xảy ra trước và mạnh  
- Tác dụng phụ thường là hậu quả của tác dụng chính, tác dụng phụ thường gây  
hại đối với cơ thể  
Ví dụ: + Để điều trị bệnh thấp khớp thường dùng Aspirin, Corticoid… nhưng  
khi sử dụng thuốc này lại có tác dụng phụ chung là gây tổn thương niêm mạc dạ dày  
nên khi sử dụng cần sử dụng ngay sau khi ăn  
+ Các thuốc kháng sinh thuộc nhóm Aminoglycoid như: Streptomycin,  
Kanamycin, Neomycin…có tác dụng phụ là gây ngừng thở, cho nên trong điều trị  
không được kết hợp các loại thuốc trên với thuốc mê, hoặc không được sử dụng cho  
các động vật có hiện tượng mềm cơ, nhược cơ, đi đứng, vận động kém.  
- Trong điều trị nên tìm cách giữ các tác dụng chính và hạn chế các tác dụng  
phụ của thuốc điều trị.  
4.3. Tác dụng hồi phục và không hồi phục  
- Tác dụng hồi phục: Phần lớn các thuốc dùng trong điều trị như thuốc ngủ,  
thuốc tê, thuốc mê, thuốc giảm đau… đều là thuốc có tác dụng hồi phục ở liều điều trị.  
Những thuốc này chỉ có tác dụng nhất thời khi thuốc khuếch tán hay đào thải hết thì  
mọi chức năng sinh lý của tổ chức lại hoạt động trở lại bình thường  
- Tác dụng không hồi phục: Gồm các thuốc có tác dụng lâu dài đã làm biến đổi  
các tổ chức không thể trở lại trạng thái ban đầu  
Ví dụ: Tetracyclin làm cho men răng bị biến đổi  
4.4. Tác dụng đặc hiệu và không đặc hiệu  
- Tác dụng đặc hiệu (chọn lọc) là tác dụng của thuốc với một cơ quan nào đó  
mặc dù khi được hấp thu vào máu vẫn được phân bố khắp cơ thể  
Ví dụ: Oxytocin với cơ tử cung  
- Tác dụng đặc hiệu là tác dụng dược lý của thuốc thông qua sự kết hợp đặc  
trưng giữa thuốc với Receptor ( Giống như khóa với chìa, chìa nào khóa đấy)  
- Tác dụng không đặc hiệu gồm những thuốc có tác dụng dược lý do đặc tính  
vật lý hay phản ứng hóa học  
4.5. Tác dụng đối kháng  
4.5.1. Đối kháng cạnh tranh  
Tức chất chủ vận – Agonist và chất đối kháng Antagonist cạnh tranh nhau trên  
cùng một nơi là recepter  
Ví dụ: Pilocarpin cạnh tranh với Atropin tại Recepter M  
4.5.2. Đối kháng không cạnh tranh  
Chất đối kháng tác dụng lên Recepter nhưng ở vị trí khác với chất chủ vận làm  
cho Recepter bị biến dạng khi đó sẽ giảm ái lực với chất chủ vận. Ví như Strychnin  
làm hưng phấn tủy sống còn thuốc mê lại tác dụng trực tiếp làm mềm cơ vân.  
15  
           
Các thuốc kháng sinh thuộc nhóm B – Lactamin có tác dụng ở pha phân bào  
của vi khuẩn (ức chế sự tạo màng).  
Các thuốc kháng sinh như Tetracyclin, Sulphamid... lại là thuốc kìm khuẩn, làm  
chậm sự phân bào.  
4.5.3. Đối kháng chức phận  
Cả hai chất đều là chất chủ vận, chúng có tác dụng dược lý đối kháng nhau  
ngay trên cùng một cơ quan. Nguyên nhân là do Recepter của chúng tồn tại trên các vị  
trí khác nhau  
Ví dụ:  
- Pilocacpin ( recepter M) làm co cơ vòng mắt, gây co đồng tử mắt.  
- Adrenarlin ( recepter ) làm co cơ tia gây dãn đồng tử mắt.  
4.5.4. Đối kháng hóa học hay còn gọi là tương tác thuốc  
Có hai loại tương tác thuốc, khác nhau ở nơi và cách thức mà các chất tương tác  
với nhau.  
- Tác dụng tương hỗ xảy ra trong môi trường Invivo, kết quả do tương tác sinh  
học giữa các thuốc có các Protein, Recepter... tham gia.  
- Tác dụng tương kỵ là tương tác thuần túy lý hóa không cần có sự tham gia của  
các tổ chức sống. Tương kỵ là đối kháng hóa học như acid gặp bazơ, vitamin C.  
Penicillin đối kháng với Peniciliinaza của vi khuẩn đường ruột, hoặc các protein khi  
gặp muối kim loại nặng sẽ bị kết tủa.  
Trong điều trị, hay ứng dụng tương kỵ để giải độc khi gia súc bị trúng độc các  
Ancaloid như : Quinin, Atropin, Strychnin... và các muối kim loại như : Zn, Hg, Pb,  
Ni... bằng than hoạt tính hoặc tanin.  
4.5.5. Đối kháng do ảnh hưởng tới dược động học  
Cản trở sự hấp thu qua đường tiêu hóa : Các thuốc chống toan dạ dày chứa Ca,  
Mg, Al hay Fe tạo phức với Tetracycline làm giảm sự hấp thu của nhiều loại kháng  
sinh. Các kháng sinh diệt khuẩn cản trở sự tổng hợp vitamin E, K. Các thuốc tẩy,  
thuốc nhuận tràng đều làm giảm sự hấp thu của nhiều loại thuốc.  
- Cảm ứng enzym chuyển hóa thuốc ở gan. Một số loại thuốc như :  
Phenothiazin, Doxycyclin gây cảm ứng làm nhiều thuốc bị chuyển hóa nhanh ở tế bào  
gan, nhanh thải trừ làm mất tác dụng của thuốc.  
- Cản trở sự hấp thu thuốc qua ống thận. Natribicarbonat tăng thải các loại  
thuốc an thần, thuốc ngủ thuộc nhóm Phenobarbital qua thận  
4.6. Tác dụng hiệp đồng  
- Khi phối hợp hai hay nhiều loại thuốc với nhau sẽ làm tăng tác dụng của nhau  
hay nói cách khác là tăng hiệu quả điều trị. Tác dụng hiệp đồng của thuốc do  
+ ảnh hưởng đến sự hấp thu: Phối hợp Adrenalin với Novocain trong gây tê  
+ Hiệp đồng tăng tiềm lực: Thuốc an thần chống nôn kết hợp với các thuốc ngủ,  
thuốc tê, thuốc mê, giảm đau  
16  
       
+ Hiệp đồng vượt mức: Phối hợp các thuốc hóa học trị liệu có cơ chế tác dụng  
khác nhau nhưng trên cùng một quá trình sống của vi khuẩn gây bệnh  
5. Cơ chế tác dụng của thuốc  
5.1. Tác dụng dược lý do thay đổi sinh hóa  
- Thuốc ức chế enzym: Các thuốc chống viêm phi Steroid khi vào cơ thể sẽ ức  
chế enzym làm giảm sự tổng hợp Prostaglandin nên có tác dụng hạ sốt, giảm đau.  
- Thuốc hoạt hóa enzym: Các thuốc thuộc nhóm Phenobarbital gây cảm ứng  
enzym của tế bào gan nên làm tăng phản ứng glucoro – hợp của sắc tố mật và  
Bilirubin, dùng trong điều trị bệnh vàng da.  
- Các thay đổi khác: Các thuốc ngủ làm tăng lượng glycocol trong não.  
- Các thuốc kháng sinh có cơ chế tác dụng mang tính đặc hiệu khá cao, chỉ tác  
dụng lên những đích cụ thể trên tế bào vi khuẩn. Thuốc kháng sinh có ái lực với tế bào  
vi khuẩn hơn tế bào vật chủ cho nên thường ít độc hoặc không độc cho người và vật  
nuôi. Cơ chế tác dụng của thuốc kháng sinh như sau:  
+ Nhóm kháng sinh tác dụng lên tế bào vi khuẩn: Thuốc tác động lên quá trình  
tạo vách tế bào, thuốc tác dụng lên màng tế bào gây rối loạn tính thẩm thấu của vỏ và  
của màng nguyên sinh chất của tế bào vi khuẩn làm cho chức năng hàng rào bảo vệ  
của màng bị phá hủy. Kết cục là vi khuẩn bị rối loạn quá trình đồng hóa, dị hóa.  
+ Nhóm kháng sinh tác dụng lên hệ phi bào làm rối loạn các hoạt động trong  
nguyên sinh chất của tế bào vi khuẩn. Thuốc sẽ làm rối loạn và ức chế tổng hợp  
Protein và ức chế tổng hợp các Acid Nucleotic.  
5.2. Tác dụng dược lý do cấu tạo màng sinh học  
Các thuốc tê ngăn cản sự xâm nhập của ion Na+ vào trong tế bào làm ổn định tế  
bào thần kinh tại synap, do đó xung động không được truyền đi.  
5.3. Cơ chế Chelat  
Hiện nay hay dùng các chất tạo Chelat ( chất càng cua). Các chất này đều chứa  
các nhóm có cực như: - OH, - NH2 hay các chất ion hóa do đó khi vào cơ thể nó sẽ  
tham gia phản ứng tạo phức mới, các phức mới này sẽ không qua được màng sinh học,  
dễ thải, giảm độc như Canxi – Dinatri với Pb. Hoặc một số thuốc kháng sinh cũng có  
cơ chế Chelat hóa như Tetracyclin và một số thuốc thuộc nhóm Quinolon.  
5.4. Tác dụng dược lý không cần sự tham gia của Recepter  
- Thuốc tác dụng do tính chất lý hóa không đặc hiệu: Các thuốc tẩy, than hoạt  
tính, Tanin, thuốc lợi tiểu.  
- Thuốc tác dụng do tính bazơ hay tính acid  
- Thuốc mê bay hơi gây mê do tính chất vật lý.  
17  
         
6. Dược động học của thuốc  
6.1. Sự vận chuyển thuốc qua màng sinh học  
- Thuốc được đưa vào cơ thể qua nhiều con đường khác nhau. Trong quá trình  
hấp thu, phân bổ, chuyển hóa và thải trừ, thuốc phải vượt qua nhiều màng sinh học để  
sang vị trí mới. Do vậy cần phải nắm được cách vận chuyển thuốc qua màng sinh học  
6.1.1. Khuếch tán thụ động  
- Màng bào tương có bản chất là Lipoprotein, do vậy thuốc muốn khuyếch tán  
qua màng cần được ion hóa, tức là thuốc sẽ khuyếch tán từ nới có nồng độ cao sang  
nơi có nồng độ thấp. Những thuốc nào vừa tan trong nước vừa tan trong lipit sẽ có  
hằng số thấm qua màng cao  
Ví dụ: Parafin chỉ tan trong lipit, không tan trong nước sẽ không qua được  
niêm mạc đường tiêu hóa  
6.1.2. Lọc  
- Trên màng sinh học đều có các lỗ lọc, các lỗ lọc này có kích thước to, nhỏ  
khác nhau  
6.1.3. Vận chuyển chủ động  
- Hình thức này được thực hiện nhờ chất vận chuyển, chất vận chuyển có nhiệm  
vụ vận chuyển thuốc từ bên này sang bên kia  
6.1.4. Ẩm bào  
- Đó là sự vận chuyển thuốc nhờ các tế bào đại thực bào  
6.2. Hấp thu  
- Đường đưa thuốc có liên quan chặt chẽ với tác dụng dược lý của thuốc. Nếu  
đưa thuốc vào cơ thể không đúng sẽ dẫn đến tác dụng dược lý của thuốc bị mất, bị  
giảm thậm chí còn gây hại  
Ví dụ: + Penicillin G không bao giờ được uống  
+ CaCl2 duy nhất chỉ được tiêm tĩnh mạch  
Nguyên nhân của sự sai khác trên là do dược động học của thuốc  
6.2.1. Hấp thu thuốc qua da  
- Gồm những thuốc dùng ngoài da như: Thuốc mỡ, cao dán, thuốc xoa bóp,  
thuốc sát trùng, thuốc nấm…  
- Thuốc dùng ngoài da sẽ khuyếch tán thụ động qua lớp biểu bì, tuyến mồ hôi  
và chân lông  
- Khi da bị tổn thương sẽ làm thuốc và các chất độc thấm qua da nhanh hơn nên  
dễ gây độc. Iod và các muối kim loại nặng dễ hấp thu qua da  
- Khi dùng thuốc qua đường này xoa bóp mạnh hay dùng thuốc dãn mạch tại  
chỗ gây xung huyết, làm tăng nhiệt độ da thì sẽ tăng khả năng hấp thu thuốc qua da.  
6.2.2. Cho thuốc qua đường tiêu hóa  
- Có thể cho thuốc qua đường tiêu hóa cho vật nuôi bằng cách trộn lẫn thuốc  
với thức ăn hoặc hòa tan với nước uống. Phương pháp đưa thuốc này tương đối đơn  
18  
                 
giản, bằng cách này thuốc được hấp thu một cách từ từ, ít gây độc và ít nguy hiểm hơn  
so với tiêm. Nhìn chung thuốc đưa qua đường tiêu hóa có giá thành rẻ hơn thuốc tiêm  
nhiều  
- Sự hấp thu thuốc ở đường tiêu hóa phụ thuộc nhiều vào lượng thức ăn, dạng  
bào chế và đặc tính lý hóa của thuốc, trong đường tiêu hóa, tốc độ hấp thu của thuốc bị  
giảm dần theo các dạng bào chế sau của thuốc: Dung dịch > nhũ tương > viên nang >  
viên nén > viên bao.  
a) Hấp thu thuốc ở dạ dày  
- Sự hấp thu thuốc phụ thuộc vào nhu động của dạ dày, muốn thuốc được hấp  
thu tốt ở dạ dày cần phải làm giảm nhu động, giảm lượng thức ăn. Do vậy với các  
thuốc không gây kích ứng niêm mạc hoặc các dạng thuốc bổ nên uống trước khi ăn,  
các thuốc kích ứng niêm mạc nên uống sau khi ăn.  
b) Hấp thu thuốc ở ruột non  
- Ruột non là nơi hấp thu chủ yếu của thức ăn và thuốc, cũng giống như các  
chất dinh dưỡng, thuốc được hấp thu từ niêm mạc dạ dày, ruột vào mao mạch ruột về  
tĩnh mạch cửa đổ vào gan  
c) Hấp thu thuốc ở ruột già  
- Về cơ bản cũng giống như ruột non nhưng chậm hơn nhiều  
d) Hấp thu thuốc qua trực tràng  
- Trước khi đưa thuốc qua trực tràng hãy lấy hết phân ở đoạn ruột cuối cùng rồi  
đặt hoặc bơm dịch thuốc vào  
Ví dụ: Khi bị viêm trực tràng phải đặt thuốc hoặc thụt Chloranhydrat – thuốc  
mê qua trực tràng. Bằng cách này thuốc cũng có tác dụng tại chỗ (khi bị viêm).  
- Theo đường này, trước khi phát huy tác dụng dược lý, thuốc không qua gan  
nên không bị phân hủy một phần ở gan. Như vậy liều dùng thường ít đi chỉ khoảng 2/3  
so với liều uống  
6.2.3. Đường tiêm  
- Tiêm cho gia súc thì thuốc tiêm sẽ được hấp thu hoàn toàn, không bị ảnh  
hưởng bởi các yếu tố khác như ở đường tiêu hóa, súc vật ít phản ứng, thuốc hấp thu  
nhanh và có tác dụng nhanh. Ngược lại thuốc tiêm thì lại nguy hiểm hơn thuốc uống  
- Yêu cầu của thuốc tiêm khắt khe hơn so với thuốc uống, thuốc phải đảm bảo  
độ tinh khiết, vô trùng dẫn đến giá thành thường cao hơn  
- Khi tiêm bắt buộc phải tính toán liều lượng chính xác tránh gây hại cho vật  
nuôi  
- Có nhiều cách tiêm:  
a) Tiêm dưới da  
- Thuốc được đưa vào dưới da của vật nuôi, những nơi tập trung nhiều mao  
quản, mạch quản dãn to thì thuốc sẽ hấp thu nhanh hơn, thông thường sau khi tiêm 10  
– 15 phút thì thuốc sẽ phát huy tác dụng. Với cách tiêm dưới da này thì thuốc sẽ được  
hấp thu toàn bộ và ít bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác.  
19  
 
Chú ý: Đối với Lợn không nên sử dụng kim tiêm dưới da để tiêm bắp vì lớp mỡ  
dưới da của lợn dày kim không qua được lớp mỡ thuốc sẽ vào hết lớp mỡ dưới da do  
vậy thuốc sẽ không hoặc được hấp thu rất ít.  
b) Tiêm bắp  
- Cách tiêm này thuốc ít gây đau, khi tiêm bắp nên tiêm sâu, tránh đường đi của  
dây thần kinh và mạch máu. Bằng cách tiêm này, thuốc được hấp thu tốt và phát huy  
tác dụng sau 15 phút  
c) Tiêm tĩnh mạch  
- Vị trí tiêm: Đại gia súc thì tiêm tĩnh mạch cổ  
Chó, mèo tiêm tĩnh mạch khoeo  
Lợn, thỏ tiêm tĩnh mạch tai  
- Cách tiêm này thuốc sẽ phát huy tác dụng cực nhanh, hiệu quả điều trị cao.  
Chỉ sau 2 – 5 phút thuốc đã được phân tán khắp cơ thể.  
- ưu điểm: Cách tiêm này sẽ tiêm được một lượng thuốc lớn theo yêu cầu  
Ví dụ: Khi đại gia súc bị mất nước có thể truyền tới 2 – 5 lít  
- Có thể tiêm được các thuốc gây kích thích  
- Nhược điểm: Cần có tay nghề cao vì vật nuôi rất khó cố định để đưa kim vào  
đúng tĩnh mạch. Khi truyền tĩnh mạch cần có sự theo dõi liên tục tránh gây sốc  
* Chú ý: Nhiệt độ của dịch truyền phải ngang với nhiệt độ cơ thể là 370 C  
- Không được tiêm vào tĩnh mạch các thuốc gây ảnh hưởng đến hoạt động của  
tim  
- Khi đưa thuốc vào tĩnh mạch tránh để rớt ra ngoài sẽ gây viêm hoặc tắc tĩnh  
mạch.  
d) Tiêm động mạch  
- Chỉ dùng trong nghiên cứu trong phòng thí nghiệm vì động mạch ở sâu dễ gây  
tổn thương và xuất huyết.  
- Tiêm động mạch, thuốc không về tim ngay nên ít ảnh hưởng đến hoạt động  
của tim.  
e) Tiêm xoang phúc mạc ( xoang bụng)  
- Khi gia súc bị bệnh khó tìm tĩnh mạch nhưng rất cần thiết phải tiếp nước để bổ  
xung điện giải, đường. Do vậy cần phải tính toán liều lượng chính xác, những chất như  
trên được hấp thu qua mao quản và xoang phúc mạc rất nhanh.  
f) Tiêm vào tủy sống  
- Vị trí tiêm vào màng cứng tủy sống khu vức hông – khum hay khum - đuôi  
- Dùng phương pháp này trong các trường hợp gây tê để phẫu thuật các khí  
quan nằm ở xoang chậu như: Thận, bàng quang, buồng trứng, tử cung  
- Dùng để ức chế cơn rặn khi gia súc bị động thai, rặn đẻ quá sớm  
6.2.4. Các đường đưa thuốc khác  
20  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 84 trang yennguyen 519011 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Dược lý thú y - Nghề: Thú y", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_duoc_ly_thu_y_nghe_thu_y.pdf