Báo cáo nghiên cứu Một số rủi ro chính của ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập - Thực trạng và giải pháp chính sách

Báo cáo Nghiên cứu  
MỘT SỐ RỦI RO CHÍNH CỦA NGÀNH CHẾ BIẾN GỖ  
XUẤT KHẨU TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP  
Thực trạng và Giải pháp chính sách  
Nhóm Nghiên cứu  
Tô Xuân Phúc  
Nguyễn Thị Thu Trang  
Nguyễn Thị Thùy Dung  
Hà Nội, tháng 12 năm 2016  
Lời cảm ơn  
Nghiên cứu “Một số rủi ro của ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong bối cảnh hội  
nhập – Thực trạng và giải pháp” được thực hiện trong khuôn khổ Dự án “Tăng  
cường vai trò của các Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam trong tham vấn xây  
dựng chính sách phát triển ngành” của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt  
Nam (VCCI), do Đại sứ quán Úc tài trợ, Quỹ Châu Á quản lý.  
Nhóm tác giả trân trọng cảm ơn hoạt động điều phối, quản lý hiệu quả và thực  
chất của Trung tâm WTO và Hội nhập VCCI, Đại sứ quán Úc và Quỹ Châu Á.  
Trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ quý báu và thường xuyên trong suốt quá trình thực  
hiện nghiên cứu của Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam (VIFORES), Hiệp hội gỗ  
và lâm sản Bình Định (FPA), Hội gỗ mỹ nghệ và chế biến gỗ thành phố Hồ Chí  
Minh (HAWA). Chân thành cảm ơn Forest Trends đã hỗ trợ tích cực về mặt kỹ  
thuật cho nghiên cứu này.  
Nhóm nghiên cứu xin trân trọng cảm ơn các ý kiến đóng góp sâu sắc và hữu ích  
trong quá trình nghiên cứu và với dự thảo báo cáo từ các chuyên gia, đặc biệt là  
Ông Nguyễn Tôn Quyền - Tổng thư ký, Phó Chủ tịch VIFORES, Ông Trần Lê  
Huy - Tổng thư ký FPA, Ông Huỳnh Văn Hạnh HAWA, Ông Nguyễn Mạnh  
Dũng - Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối, Bộ Nông nghiệp và Phát  
triển nông thôn, Bà Phạm Chi Lan – Chuyên gia kinh tế cao cấp, Ông Vũ Thành  
Tự Anh - Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright.  
MỤC LỤC  
Danh mục các Bảng  
Danh mục các Hình  
Danh mục các Hộp  
Một số rủi ro chính của ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập  
1. GIỚI THIỆU  
Trong gần một thập kỷ trở lại đây, với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ấn tượng,  
ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam là một trong những ngành năng động  
và thành công nhất trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nếu như năm 2004  
xuất khẩu gỗ mới lần đầu tiên lọt vào danh sách “ngành xuất khẩu tỷ đô” thì 10  
năm sau kim ngạch xuất khẩu gỗ đã tăng gấp 6 lần, đạt 6,2 tỷ USD. Ngành đã về  
đích trước 5 năm khi hoàn thành mục tiêu mà Chiến lược phát triển ngành này  
bằng thành tích 6,9 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu cho đến năm 20201.  
Sự phát triển ấn tượng của ngành gỗ không chỉ mang lại lợi ích trực tiếp cho các  
chủ thể sản xuất, chế biến, thương mại gỗ xuất khẩu mà còn góp phần quan  
trọng vào việc cải thiện nguồn thu nhập, nâng cao mức sống của hàng triệu lao  
động tham gia các khâu trong chuỗi cung, bao gồm nhiều hộ gia đình trồng  
rừng, cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến.  
Một trong những đặc trưng cơ bản của ngành chế biến gỗ là sử dụng nguyên liệu  
gỗ đầu vào. Do vậy, định hướng và phương thức phát triển của ngành này có tác  
động trực tiếp tới các mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ và thân thiện với môi  
trường.  
Ngành gỗ hiện đang hội nhập sâu rộng với thị trường thế giới. Hội nhập trong  
đang đặt ngành gỗ trước những cơ hội và thách thức lớn.  
Việt Nam tham gia một loạt các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đặc biệt  
là Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại tự  
do với EU (EVFTA), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Á Âu  
(FTA VN-EUEA). Các đối tác FTA (trong đó đáng chú ý là Hoa Kỳ, EU, Nhật  
Bản, Nga…) đã có những cam kết mở cửa mạnh mẽ thị trường của mình. Ngành  
chế biến gỗ đang đứng trước cơ hội lớn để tiếp cận các thị trường lớn nhất, tiềm  
năng nhất với các điều kiện ưu tiên. Nói cách khác, hội nhập giúp ngành gỗ có  
cơ hội tiếp cận và mở rộng thị trường; hội nhập cũng tạo động lực thúc đẩy quá  
1 Quyết định 18/2007/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020: Xuất  
khẩu lâm sản đạt trên 7,8 tỷ USD (bao gồm 7 tỷ USD sản phẩm gỗ và 0,8 tỷ USD sản phẩm lâm sản  
ngoài gỗ).  
1
 
Một số rủi ro chính của ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập  
trình sản xuất kinh doanh của toàn ngành, từ đó tạo đà cho ngành phát triển theo  
hướng bền vững trong tương lai.  
Tuy nhiên, việc tăng cường các yêu cầu về tăng trưởng xanh, bao gồm các yêu  
cầu về nguồn gốc gỗ hợp pháp đang trở thành xu hướng chủ đạo ở nhiều thị  
trường. Luật Lacey của Hoa Kỳ, Chương trình Thực thi Luật lâm nghiệp, Quản  
trị rừng và Thương mại Lâm sản (FLEGT) của EU, Luật Chống khai thác gỗ lậu  
của Úc là các ví dụ điển hình về các yêu cầu liên quan đến tính hợp pháp của  
nguồn gỗ nguyên liệu trong các sản phẩm gỗ ở các thị trường xuất khẩu. Các  
yêu cầu này đang tạo ra những thách thức lớn đối với sự phát triển của ngành  
chế biến gỗ xuất khẩu. Bên cạnh đó, ngành chế biến gỗ xuất khẩu còn phải đối  
mặt với các rào cản dưới dạng các biện pháp kỹ thuật, kiểm dịch thực vật …  
hiện đang được sử dụng ngày càng phổ biến ở nhiều thị trường xuất khẩu. Rủi ro  
của ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong việc không đáp ứng được các yếu cầu  
mới của thị trường vì vậy đang ngày càng lớn.  
Ngành gỗ có thể làm gì để một mặt tận dụng các cơ hội từ hội nhập để tiếp tục  
phát triển bền vững mặt khác có thể nhận diện và chuẩn bị đầy đủ cho mình để  
vượt qua những rủi ro này? Đây là những câu hỏi quan trọng cần được trả lời  
càng sớm càng tốt. Việc tìm ra các giải pháp để ngành gỗ tận dụng được cơ hội,  
giảm thiểu rủi ro là rất quan trọng nhằm giúp ngành gỗ duy trì được động lực  
tăng trưởng, thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành trong tương lai.  
Tận dụng cơ hội, giảm thiểu rủi ro trước hết phụ thuộc vào các yếu tố nội tại của  
doanh nghiệp, bao gồm các tính toán và chiến lược kinh doanh. Môi trường  
thuận lợi hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là những chính sách hỗ trợ hợp  
lý từ Nhà nước cũng là yếu tố không thể thiếu giúp doanh nghiệp để doanh  
nghiệp phát triển ổn định, hiện thực hóa các cơ hội và vượt qua những rủi ro  
này.  
Báo cáo này tập trung nhận diện các rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh  
mà nhóm các doanh nghiệp trực tiếp tham gia chế biến và xuất khẩu các sản  
phẩm gỗ đang phải đối mặt. Báo cáo đặc biệt quan tâm tới các rủi ro ở các thị  
2
Một số rủi ro chính của ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập  
trường xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam. Báo cáo cũng đánh giá bối cảnh  
chính sách trong nước và quốc tế liên quan tới hoạt động sản xuất, chế biến gỗ  
xuất khẩu và các rủi ro tiềm ẩn có liên quan tới các khâu của chuỗi cung trong  
bối cảnh các chính sách này đang được thực thi. Trên cơ sở đó Báo cáo sẽ tập  
trung đưa ra các kiến nghị chính sách của Nhà nước để giảm thiểu các rủi ro  
này.  
Phần 2 của Báo cáo mô tả các phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong quá  
trình thu thập số liệu. Phần 3 trình bày một số thông tin cơ bản về ngành gỗ của  
Việt Nam. Phần 4 mô tả các thị trường xuất khẩu trọng điểm, bao gồm Hoa Kỳ,  
EU và Úc cũng như các quy định của các thị trường này về các sản phẩm gỗ  
được tiêu thụ tại đây. Phần 5 tập trung vào các rủi ro, được phân tích ở hai mức  
độ (a) dữ liệu thống kê xuất nhập khẩu và (b) doanh nghiệp. Dựa trên kết quả  
của các phần này, Phần 6 thảo luận về các cơ hội cũng như rủi ro của ngành chế  
biến gỗ xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập, đặc biệt là TPP và EVFTA. Phần 7  
đánh giá hiện trạng khung khổ chính sách liên quan tới ngành và đưa ra một số  
kiến nghị về chính sách.  
3
Một số rủi ro chính của ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Báo cáo có sử dụng nguồn thông tin thứ cấp và sơ cấp. Nguồn thông tin thứ cấp  
được thu thập từ các ấn phẩm từ các tổ chức nghiên cứu, bao gồm các ấn phẩm  
của Tổ chức Forest Trends và các Hiệp hội Gỗ có sử dụng nguồn số liệu thống  
kê xuất nhập khẩu của Tổng cục Hải quan Việt Nam2 và một số báo cáo của các  
cơ quan quản lý. Nguồn thông tin này cung cấp các dữ liệu về đặc điểm của  
ngành gỗ, bao gồm nguồn nguyên liệu, lao động, hoạt động xuất nhập khẩu và  
thị trường. Nguồn thông tin này cũng cho phép xác định các yêu cầu cơ bản tại  
một số thị trường xuất khẩu và từ đó giúp định hình một số rủi ro có liên quan  
đến các khâu khác nhau của chuỗi cung.  
Trong nghiên cứu này, Hoa Kỳ và EU là hai thị trường được lựa chọn để nghiên  
cứu sâu. Đây là các thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam và cũng  
là các thị trường có các yêu cầu khắt khe có liên quan đến các yêu cầu về xã hội  
và môi trường của sản phẩm gỗ được tiêu thụ tại các thị trường này. Bên cạnh  
đó, thị trường Úc cũng được lựa chọn, không phải bởi tầm quan trọng của thị  
trường này đối với các sản phẩm gỗ của Việt Nam mà bởi tiềm năng mở rộng thị  
trường này trong tương lai cũng như các quy định về tính hợp pháp của gỗ vừa  
được Chính phủ Úc ban hành.  
Trong Báo này, rủi ro có liên quan đến hội nhập được xác định ở hai mức độ.  
Thứ nhất, rủi ro được xác định thông qua các phân tích dữ liệu thống kê xuất  
khẩu các sản phẩm gỗ của Việt Nam được xuất khẩu vào các thị trường quan  
trọng, đặc biệt vào Hoa Kỳ, EU và Úc. Dữ liệu thống kê này được thu thập từ  
Tổng cục Hải quan. Thông tin từ nguồn này cho phép xác định một số rủi ro có  
liên quan đến tính hợp pháp của nguồn gỗ nguyên liệu sử dụng trong các sản  
phẩm xuất khẩu. Thứ hai, rủi ro được xác định thông qua nguồn thông tin sơ  
cấp, được thu thập từ khảo sát các doanh nghiệp trực tiếp tham gia xuất khẩu.  
2
Từ 2012 Tổ chức Forest Trends (Hoa Kỳ) phối hợp với Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam  
(VIFORES), Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định (FPA Bình Định) và Hội Mỹ nghệ và Chế biến Gỗ  
Thành phố Hồ Chí Minh (HAWA) thực hiện nhiều phân tích ngành gỗ, đặc biệt là các hoạt động có  
liên quan đến xuất nhập khẩu. Các báo cáo có liên quan có thể tham khảo tại địa chỉ:  
4
 
Một số rủi ro chính của ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập  
Thông tin thu thập từ doanh nghiệp cho phép xác định các rủi ro có liên quan  
đến tính hợp pháp của nguồn gỗ nguyên liệu cũng như các rủi ro có liên quan  
đến sử dụng lao động, hệ thống quản lý chuỗi cung, tiếp cận thông tin thị trường  
và khả năng đáp ứng của doanh nghiệp với các yêu cầu của thị trường xuất khẩu.  
Khảo sát doanh nghiệp được thực hiện thông qua bảng hỏi được tiến hành từ  
tháng 1 đến tháng 4 năm 2016. Bảng hỏi được thiết kế nhằm thu thập cả thông  
tin định lượng và định tính. Chi tiết bảng hỏi được trình bày trong Phụ lục 1 của  
Báo cáo này.  
Với sự hỗ trợ của Hiệp hội gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES) và Hiệp hội  
Gỗ và Lâm sản Bình Định, bảng hỏi được gửi trực tiếp đến doanh nghiệp. Các  
doanh nghiệp được lựa chọn dựa trên danh sách khuyến cáo của hai Hiệp hội.  
Lựa chọn các doanh nghiệp không dựa trên phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên và  
chưa mang tính chất đại diện cho toàn bộ các doanh nghiệp của ngành chế biến  
gỗ xuất khẩu. Thông tin khảo sát từ doanh nghiệp chỉ phản ánh một phần mà  
chưa phản ánh được toàn diện các rủi ro của các doanh nghiệp khi tham gia thị  
trường xuất khẩu..  
Tổng số đã có 154 doanh nghiệp phản hồi phiếu khảo sát, trong đó có 16 doanh  
nghiệp chỉ bán sản phẩm tại nội địa mà không tham gia thị trường xuất khẩu.  
Toàn bộ 16 doanh nghiệp nằm ngoài phạm vi quan tâm của nghiên cứu do vậy  
dữ liệu từ các doanh nghiệp này được loại bỏ khỏi bộ dữ liệu của nghiên cứu.  
Các doanh nghiệp còn lại (138) là các doanh nghiệp trực tiếp tham gia thị trường  
xuất khẩu. Trong số 138 doanh nghiệp này có 68 doanh nghiệp (49,2%) vừa  
tham gia thị trường nội địa vừa tham gia thị trường xuất khẩu; 70 doanh nghiệp  
còn lại (50,8%) là các doanh nghiệp chỉ chuyên xuất khẩu. Dữ liệu sử dụng  
trong báo cáo dựa trên thông tin cung cấp từ 138 doanh nghiệp này.  
Trong số các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu có nhiều doanh nghiệp tham gia  
nhiều thị trường cùng một lúc. Ví dụ dữ liệu khảo sát cho thấy hiện có 33 doanh  
nghiệp được khảo sát vừa xuất khẩu sản phẩm của mình sang EU vừa xuất khẩu  
sang Hoa Kỳ; 16 doanh nghiệp vừa xuất khẩu vào Hoa Kỳ, vừa xuất khẩu vào  
5
Một số rủi ro chính của ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập  
Úc. Bảng 1 chỉ ra sự đa dạng của doanh nghiệp trong việc tham gia các thị  
trường xuất khẩu. Thông tin từ Bảng 1 không thể hiện số lượng các doanh  
nghiệp cùng một lúc tham gia nhiều hơn 2 thị trường.  
Bảng 1: Doanh nghiệp khảo sát tham gia thị trường xuất khẩu  
Thị trường  
xuất khẩu  
Hoa  
EU  
Úc  
Trun Nhật Hàn Khác  
Kỳ  
g
Bản Quốc  
Quốc  
8
33  
16  
7
33  
6
16  
17  
3
6
7
15  
12  
4
6
4
17  
12  
7
Hoa Kỳ  
EU  
17  
6
2
1
Úc  
2
4
10  
2
6
5
Trung Quốc  
Nhật Bản  
Hàn Quốc  
Khác3  
15  
6
12  
4
4
10  
6
11  
3
12  
8
1
11  
12  
17  
12  
7
6
8
11  
Nguồn: Khảo sát doanh nghiệp  
Phiếu khảo sát bao gồm 3 phần chính với nhiều phần nhỏ (câu hỏi) trong mỗi  
phần. Trong quá trình phân tích dữ liệu các câu trả lời không hợp lý của doanh  
nghiệp (ví dụ trả lời thiếu thông tin) được loại bỏ khỏi bộ dữ liệu. Điều này có  
nghĩa rằng số tổng lượng phản hồi của các doanh nghiệp cho các câu hỏi khác  
nhau có thể khác nhau.  
Trong phạm vi của Báo cáo này, các doanh nghiệp xuất khẩu đi Hoa Kỳ bao  
gồm toàn bộ các doanh nghiệp khảo sát trực tiếp tham gia xuất khẩu sản phẩm  
của mình vào thị trường Hoa Kỳ. Nhiều doanh nghiệp này trong số này cũng có  
sản phẩm xuất khẩu đi các thị trường khác; một số doanh nghiệp có sản phẩm  
3 Các thị trường xuất khẩu khác đa dạng, bao gồm các quốc gia như Canada, các Tiểu vương quốc Ả  
Rập, Thổ Nhĩ Kỳ, v.v.  
6
 
Một số rủi ro chính của ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập  
tiêu thụ tại thị trường nội địa. Tương tự như vậy đối với các doanh nghiệp xuất  
khẩu đi EU và Úc.  
Thông tin thu thập từ các doanh nghiệp được mã hóa và phân tích theo mục tiêu  
của nghiên cứu. Bảng 2 mô tả các đặc điểm chính của các doanh nghiệp khảo  
sát.  
Bảng 2: Một số đặc điểm chính của doanh nghiệp xuất khẩu tham gia khảo  
sát  
Một số đặc điểm chính của các doanh nghiệp được  
khảo sát  
Số DN  
phản hồi  
%
Theo loại hình sở hữu của doanh nghiệp  
Tổng số doanh nghiệp khảo sát trả lời, trong đó  
Doanh nghiệp 100% vốn tư nhân trong nước  
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài  
137  
109  
19  
100  
79,6  
13,9  
3,6  
5
Doanh nghiệp có vốn nhà nước chiếm chỉ lệ  
chi phối  
3
1
2,2  
0,7  
Doanh nghiệp có một phần vốn đầu tư trực  
tiếp nước ngoài  
Loại hình khác  
Theo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh  
nghiệp  
Tổng số doanh nghiệp khảo sát trả lời, trong đó4  
Số doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội thất ngoài  
138  
100  
44  
31,9  
4
Một doanh nghiệp thường tham gia sản xuất kinh doanh một số nhóm mặt hàng khác nhau, do vậy  
tổng số lượt trả lời của các doanh nghiệp về nhóm hoạt động sản xuất kinh doanh lớn hơn tổng số  
doanh nghiệp tham gia khảo sát. Cụ thể, trong tổng số doanh nghiệp trả lời câu hỏi này có 82 doanh  
nghiệp tham gia sản xuất một nhóm mặt hàng (chiếm 59,4% trong tổng số số các doanh nghiệp 138  
doanh nghiệp), 35 doanh nghiệp sản xuất hai nhóm mặt hàng (25,4%), 19 doanh nghiệp sản xuất ba  
nhóm mặt hàng (13,8%) và hai doanh nghiệp sản xuất 4-5 nhóm mặt hàng (1,4%).  
7
 
Một số rủi ro chính của ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập  
trời  
68  
36  
17  
53  
49,3  
26,1  
12,3  
38,4  
Số doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội thất gia  
đình  
Số doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội thất văn  
phòng  
Số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đồ mỹ  
nghệ  
Số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các sản  
phẩm gỗ khác  
Theo thị trường đầu ra sản phẩm  
138  
100  
Tổng số doanh nghiệp trả lời, trong đó  
70  
Số doanh nghiệp tham gia thị trường xuất  
khẩu  
68  
Số doanh nghiệp tham gia thị trường xuất  
khẩu và nội địa  
Theo doanh thu của các doanh nghiệp khảo sát  
127,4  
27,6  
99,8  
100  
21,7  
78,3  
Doanh thu bình quân hàng năm của mỗi doanh  
nghiệp (tỉ đồng/doanh nghiệp/năm), trong đó  
Doanh thu bình quân từ thị trường nội địa (tỉ  
đồng/doanh nghiệp/năm)  
Doanh thu từ thị trường xuất khẩu (tỉ  
đồng/doanh nghiệp/năm)  
Theo lao động trong các doanh nghiệp xuất khẩu  
Tổng số doanh nghiệp khảo sát trả lời, trong đó  
Số doanh nghiệp có 10 lao động trở xuống  
133  
100  
4
3
8
Một số rủi ro chính của ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập  
84  
10  
35  
63,2  
7,5  
Số doanh nghiệp có số lao động từ 10 đến 200  
Số doanh nghiệp có số lao động từ 200 đến 300  
Số doanh nghiệp có trên 300 lao động  
26,3  
Nguồn: Khảo sát doanh nghiệp  
Báo cáo này chỉ tập trung vào các rủi ro có liên quan đến tính hợp pháp của  
nguồn gỗ nguyên liệu, sử dụng lao động và hệ thống quản lý chuỗi cung, nhập  
thức của doanh nghiệp về các quy định của thị trường. Các rủi ro khác có liên  
quan đến mức độ tuân thủ của doanh nghiệp về các yêu cầu liên quan tới môi  
trường (ví dụ bụi, ô nhiễm, tiếng ồn), sử dụng hóa chất trong sản phẩm, bản  
quyền và sở hữu trí tuệ không nằm trong khuôn khổ của Báo cáo này.  
Phần 3 dưới đây giới thiệu một số đặc điểm chính về ngành chế biến gỗ của Việt  
Nam.  
3. VÀI NÉT TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHẾ BIẾN GỖ VIỆT NAM  
Về các chủ thể kinh doanh trong ngành chế biến gỗ xuất khẩu, số liệu thống  
kê của Tổng cục Lâm nghiệp cho thấy năm 2015 Việt Nam có khoảng 4000  
doanh nghiệp chế biến và kinh doanh lâm sản (Tổng cục Lâm nghiệp, 2016).5  
Trong số này có khoảng 3000 doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào khâu chế  
biến; số còn lại (khoảng 1000) là các doanh nghiệp chuyên về thương mại.  
5
Đến nay số liệu về số lượng doanh nghiệp tham gia chế biến, thương mại gỗ không  
thống nhất nhau giữa các nguồn. Trong Báo cáo Việt Nam nhập khẩu gỗ tròn và xẻ:  
Tổng quan do Forest Trends, VIFORES, HAWA (Hội Gỗ mỹ nghề và chế biến gỗ  
Thành phố Hồ Chính Minh), FPA Bình Định (Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định)  
soạn thảo năm 2016, tổng số doanh nghiệp nghiệp chế biến gỗ được thống kê là 4200.  
Con số này trùng với con số mà Hiệp hội gỗ và Lâm sản đưa ra (xem chi tiết trong bài  
trình bày của ông Nguyễn Tôn Quyền tại Hội thảo Công nghệ gỗ - Cơ hội việc làm và  
Phát triển tại Hà Nội ngày 9 tháng 4 năm 2016). Sự khác nhau về số lượng các doanh  
nghiệp tham gia chế biến và thương mại giữa các nguồn có thể phản ánh một số hạn  
chế trong việc quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngành gỗ  
hiện nay.  
9
 
Một số rủi ro chính của ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập  
Nguồn thống kê này không cho phép xác định trong số 3000 doanh nghiệp chế  
biến có bao nhiêu doanh nghiệp trực tiếp tham gia xuất khẩu.  
Thống kê cùng nguồn của Tổng cục Lâm nghiệp cũng cho thấy 80% doanh  
nghiệp trong ngành chế biến là sở hữu tư nhân; phần còn lại là các doanh nghiệp  
có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) (khoảng 14%) và doanh nghiệp có vốn sở hữu  
nhà nước (4%). Mặc dù số lượng các doanh nghiệp FDI chiếm tỷ lệ nhỏ, giá trị  
kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp này rất lớn, chiếm khoảng 50% tổng  
kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ của cả nước (Nguyễn Thị Thu  
Trang, 2015). Thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy trong Quý 1 năm 2016,  
tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của các doanh nghiệp FDI đạt 720  
triệu USD, chiếm 47,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của  
cả nước (Tổng cục Hải quan, 2016).  
Về các thị trường, các sản phẩm gỗ Việt Nam hiện đang được tiêu thụ tại trên  
100 quốc gia và vùng lãnh thổ (Tô Xuân Phúc và cộng sự, 2016a). Năm 2015,  
kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành đạt 6,9 tỉ USD, tăng 10% so với kim ngạch  
của năm 2014 và 23% so với kim ngạch năm 2013 (Tổng cục Hải quan, 2016).  
Kim ngạch từ xuất khẩu nhóm các mặt hàng gỗ (Chương HS 44) đạt 2,11 tỉ  
USD, chiếm 30,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi kim ngạch xuất  
khẩu các mặt hàng thuộc nhóm sản phẩm gỗ (Chương HS 94) đạt 4,97 tỉ USD,  
tương đương 69,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu (cùng nguồn trích dẫn).  
Năm 2015 ngành chế biến gỗ xuất khẩu chiếm vị trí thứ 6 về kim ngạch trong số  
những nhóm mặt hàng xuất khẩu của quốc gia (cùng nguồn trích dẫn).  
Hội nhập của ngành gỗ Việt Nam không chỉ thể hiện qua tính đa dạng về các thị  
trường mà các doanh nghiệp đang xuất khẩu các sản phẩm gỗ mà còn qua số  
lượng các quốc gia mà Việt Nam nhập khẩu gỗ nguyên liệu. Năm 2015 Việt  
Nam nhập khẩu khoảng 4,79 triệu m3 gỗ nguyên liệu quy tròn, tương đương với  
gần 1,7 tỉ USD về kim ngạch (Tô Xuân Phúc và cộng sự, 2016a). Lượng gỗ nhập  
khẩu có nguồn gốc từ 70-90 quốc gia và vùng lãnh thổ, với 160-170 loài khác  
nhau. Hiện Chính phủ Việt Nam đang thực hiện chính sách đóng cửa rừng tự  
10  
Một số rủi ro chính của ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập  
nhiên. Gỗ rừng trồng trong nước ngày càng trở thành quan trọng cho ngành chế  
biến, tuy nhiên khoảng 80% sản lượng gỗ rừng trồng trong nước được khai thác  
là gỗ có đường kính nhỏ và được đưa vào chế biến dăm (Tô Xuân Phúc và cộng  
sự, 2016b). Trong bối cảnh này, nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu đã và đang có  
vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của ngành chế biến.  
Về năng suất và chất lượng lao động, hiện ngành chế biến gỗ đang thu hút  
khoảng 300.000 lao động, với 50% trong số đó là ở miền Đông Nam Bộ, nơi tập  
trung nhiều cơ sở chế biến nhất trong cả nước (Nguyễn Tôn Quyền, 2016).  
Lượng lao động làm việc trong ngành gỗ thuộc các vùng khác ít hơn. Cụ thể  
Duyên hải Miền trung và Tây Nguyên có 80.000 lao động, Miền Bắc 40.000 lao  
động, Bắc Trung Bộ 30.000 lao động (cùng nguồn trích dẫn). Nhìn chung, chất  
lượng lao động trong ngành gỗ không tốt. Chỉ có khoảng 1-2% lượng lao động  
trong tổng số là lao động có trình độ đại học, 20-30% trong tổng lao động được  
đào tạo bài bản, còn lại (70-80%) là lao động phổ thông (cùng nguồn trích dẫn).  
Điều này dẫn đến chất lượng và năng suất lao động của ngành gỗ tương đối  
thấp: Năng suất lao động trong ngành gỗ của Việt Nam chỉ bằng 50% năng suất  
lao động trong ngành gỗ của Philipin, 40% của Trung Quốc và 20% của EU  
(Nguyễn Thị Thu Trang, 2015).  
Chênh lệch về năng suất lao động cũng thể hiện rõ giữa các loại hình doanh  
nghiệp chế biến cùng hoạt động tại Việt Nam. Cụ thể, năng suất lao động của  
các doanh nghiệp có vốn sở hữu tư nhân chỉ bằng khoảng 50% năng suất của các  
cơ sở FDI (Báo cáo của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định năm 2013, trích  
trong Báo cáo của Nguyễn Thị Thu Trang, 2015). Báo cáo của Tổng cục Lâm  
nghiệp (2016, trang 5 cũng đưa ra nhận xét:“[…] giá nhân công rẻ, các ưu đãi  
chưa thỏa đáng, nên chưa phát huy được tối ưu tiềm năng con người trong quá  
trình sản xuất.” . Đây có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến năng suất  
lao động trong ngành gỗ đặc biệt trong các cơ sở có vốn sở hữu tư nhân còn  
thấp. Điều này cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh  
lệch rất lớn về kim ngạch xuất khẩu giữa các công ty FDI và công ty tư nhân.  
11  
Một số rủi ro chính của ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập  
Về quy mô doanh nghiệp, Bảng 2 đưa ra các tiêu chí phân loại quy mô của  
doanh nghiệp khu vực nông lâm thủy sản dựa trên hai khía cạnh là vốn và lao  
động, được quy định trong Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ.  
Bảng 3: Tiêu phí phân loại doanh nghiệp khu vực nông lâm thủy sản  
Doanh  
nghiệp siêu  
nhỏ  
Doanh nghiệp nhỏ  
Doanh nghiệp vừa  
Tổng số  
nguồn vốn  
Số lao động  
Tổng số  
nguồn vốn  
Số lao động  
20 tỉ đồng trở >10 đến 200 >20 đến 100 tỉ >200 đến300  
10 người trở  
xuống  
xuống  
người  
người  
Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP  
Áp dụng tiêu chí này cho các doanh nghiệp chế biến gỗ nói chung hiện nay ở  
Việt Nam cho thấy hầu hết các doanh nghiệp đều là các doanh nghiệp nhỏ và  
vừa (Bảng 44).  
Bảng 4: Quy mô ngành chế biến gỗ phân theo vốn và lao động  
Theo tổng số nguồn vốn6  
Theo số lao động  
46% doanh nghiệp siêu  
nhỏ  
93% doanh nghiệp siêu  
nhỏ và nhỏ  
49% doanh nghiệp nhỏ  
1,7% doanh nghiệp vừa  
2,5% doanh nghiệp lớn  
Nguồn: Tổng cục Lâm nghiệp, 2016  
5,5% doanh nghiệp vừa  
1,2% doanh nghiệp lớn  
Số liệu Bảng 2 thể hiện các con số về doanh thu và lao động trong các doanh  
nghiệp xuất khẩu tham gia khảo sát trong nghiên cứu này. Về lao động, 63,2%  
6
Trong Báo cáo Tình hình xuất, nhập khẩu gỗ, sản phẩm gỗ, những thuận lợi và khó khăn, đề  
xuất, kiến nghị chỉ đạo tăng nhanh, bền vững kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ năm 2016  
và những năm tới của Tổng cục Lâm nghiệp (2016) cho thấy số doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ hơn  
1 tỉ chiếm 16%, doanh nghiệp có vốn từ 1-5 tỉ chiếm 48%, 5-10 tỉ (13%), 10-15 tỉ (16%), 50-200 tỉ  
(5%), trên 200 tỉ (2%).  
12  
   
Một số rủi ro chính của ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập  
số doanh nghiệp xuất khẩu được khảo sát là các doanh nghiệp nhỏ. Tuy nhiên,  
về doanh thu bình quân, các doanh nghiệp thuộc vào nhóm các doanh nghiệp  
vừa. Điều này có thể cho thấy so với các doanh nghiệp nói chung của ngành gỗ,  
các doanh nghiệp xuất khẩu được khảo sát có lượng lao động nhỏ tuy nhiên  
doanh thu lớn hơn. Điều này có thể phần nào phản ánh sự khác nhau về hiệu quả  
sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp xuất khẩu và các doanh nghiệp của  
ngành gỗ nói chung.  
Về trình độ công nghệ trong ngành chế biến, Báo cáo của Tổng cục Lâm  
nghiệp (2016: trang 4) cho thấy “Đa số các cơ sở chế biến gỗ trong nước ở quy  
mô nhỏ có trình độ công nghệ thấp, máy móc thiết bị lạc hậu nên sản phẩm sản  
xuất đạt chất lượng thấp, không có khả năng cạnh tranh trên thị trường mà đa  
số chỉ thực hiện gia công ở công đoạn sơ chế.” Có sự khác nhau về trình độ  
công nghệ trong các doanh nghiệp chế biến (Nguyễn Tôn Quyền, trích trong  
Nguyễn Thị Thu Trang 2015). Cụ thể:  
Nhóm các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp lớn thường sử dụng  
công nghệ hiện đại với thiết bị nhập khẩu chủ yếu từ EU, Đài Loan.  
Nhóm các doanh nghiệp sản xuất ván nhân tạo (ví dụ MDF, ván thanh,  
ván dán) chủ yếu sử dụng công nghệ chế biến của EU  
Nhóm các doanh nghiệp chế biến đồ gỗ tiêu thụ nội địa chủ yếu sử dụng  
công nghệ của Đài Loan và Trung Quốc  
Nhóm các doanh nghiệp chế biến đồ gỗ mỹ nghệ chủ yếu sản xuất theo  
công nghệ thủ công với công cụ truyền thống như xẻ tay, đục, chạm khắc  
bằng tay.  
Nhìn chung các doanh nghiệp thuộc nhóm chế biến xuất khẩu có năng lực công  
nghệ cao hơn mặt bằng công nghệ chung của các doanh nghiệp ngành gỗ. Thông  
tin từ Hiệp hội Gỗ cũng cho thấy các doanh nghiệp nhóm này thời gian qua vẫn  
đang tiếp tục cải thiện công nghệ.  
13  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 111 trang yennguyen 29860 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo nghiên cứu Một số rủi ro chính của ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập - Thực trạng và giải pháp chính sách", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_nghien_cuu_mot_so_rui_ro_chinh_cua_nganh_che_bien_go.pdf