Hiệu quả kinh tế sản xuất rừng trồng ở một số xã huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 2 (2020)  
HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT RỪNG TRỒNG  
Ở MỘT SỐ XÃ HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ  
*
Trần Ánh Hằng , Trần Thị Tiểu Như  
Khoa Địa lý – Địa chất, trường Đại học Khoa học, Đại học Huế  
Ngày nhận bài: 17/6/2020; ngày hoàn thành phản biện: 6/7/2020; ngày duyệt đăng: 02/10/2020  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu nhằm xác định hiệu quả kinh tế sản xuất rừng trồng tại 3 xã Cam  
Chính, Cam Nghĩa, Cam Thành thuộc huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Bài báo sử  
dụng công thức xác định hiệu quả kinh tế của rừng trồng thông qua giá trị thu  
nhập hỗn hợp mà các hộ gia đình đạt được. Thông qua nghiên cứu và phỏng vấn  
đối với những người dân tham gia trồng rừng đã xác định bình quân mỗi ha rừng  
trồng sau mỗi chu kỳ kinh doanh kéo dài 5 năm, tại xã Cam Chính thu nhập hổ  
hợp đạt 80,280 triệu đồng, xã Cam Nghĩa đạt 50,833 triệu đồng và xã Cam Thành  
đạt 74, 806 triệu đồng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở cho các phân tích tiếp  
theo về hiệu quả của việc trồng rừng tại khu vực huyện Cam Lộ đối với phát triển  
kinh tế cho người dân trong những giai đoạn hiện nay.  
Từ khoá: Hiệu quả kinh tế, sản xuất rừng trồng, Cam Lộ, Quảng Trị.  
1. MỞ ĐẦU  
Huyện Cam Lộ là một huyện vùng gò đồi với tổng diện tích tự nhiên 34.420,7  
ha. Trong đó, diện tích đất rừng có 17.379,2 ha, rừng tự nhiên khoảng 1.972,1 ha, rừng  
trồng hơn 14.521,2 ha chiếm 83,5% tổng diện tích đất có rừng, diện tích đất không có  
rừng quy hoạch cho lâm nghiệp khoảng 4.800 ha [4]. Cho đến những năm gần đây,  
huyện Cam Lộ đã triển khai công tác thực hiện quản lý rừng dựa vào cộng đồng, việc  
này đã góp phần rất quan trọng trong việc phát triển rừng. Tình trạng khai thác rừng  
trái phép, đốt rừng bừa bãi, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng đã hạn chế đi phần  
nào ở khu vực này. Bên cạnh đó, việc sản xuất rừng trồng giúp cải thiện sinh kế người  
dân, giải quyết việc làm cho những người thất nghiệp. Tuy nhiên, diện tích rừng tăng  
nhưng chất lượng rừng ngày càng suy giảm, làm giảm đáng kể các động vật rừng và  
nhiều tài nguyên liên quan khác. Mặt khác còn nhiều khó khăn trong năng lực quản lý,  
bảo vệ rừng do rừng xa khu dân cư sinh sống và sự giám sát, hỗ trợ của chính quyền  
địa phương, lực lượng kiểm lâm khó để đảm bảo thực hiện thường xuyên trong thời  
159  
Hiệu quả kinh tế sản xuất rừng trồng ở một số xã huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị  
gian qua. Do đó, cần có đánh giá cụ thể về hiệu quả kinh tế của rừng trồng nhằm mục  
đích nâng cao hiệu quả quản lý rừng trồng và tạo thuận lợi cho xu thế phát triển kinh  
tế - xã hội, bảo vệ môi trường trong tình hình mới.  
2. DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Giới thiệu khu vực và đối tượng nghiên cứu  
Nghiên cứu chủ yếu tiến hành ở 3 xã có diện tích rừng tương đối lớn và vị trí  
liền kề nhau để thuận lợi cho việc đánh giá chính xác hiệu quả kinh tế của rừng, tập  
trung vào các xã, thôn như: Cam Chính (Thôn Mai Đàn, Thôn Mai Lộc 1, Thôn Mai Lộc  
3, Thôn Thiết Xá); Cam Nghĩa (Thôn Phương An 2, Thôn Hoàn Cát, Thôn Bảng Sơn 3,  
Thôn Cam Lộ Phường) và Cam Thành (Thôn Cam Phú 1, Thôn Phường Cội, Thôn Tân  
Mỹ, Thôn Phan Xá).  
Đối tượng nghiên cứu trong bài báo tập trung vào rừng trồng và cộng đồng  
dân cư sử dụng rừng trên địa bàn khu vực.  
160  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 2 (2020)  
Hình 1. Sơ đồ hiện trạng rừng tại các khu vực nghiên cứu năm 2018  
2.2. Dữ liệu  
Các số liệu, dữ liệu được dùng để phân tích trong bài báo liên quan đến số liệu  
trồng rừng trên địa bàn nghiên cứu. Nguồn số liệu được thu thập sơ cấp thông qua  
niên giám thống kê các năm, các báo cáo nông nghiệp, báo cáo phát triển kinh tế - xã  
hội…  
Ngoài ra, dữ liệu sử dụng để tính toán hiệu quả kinh tế là kết quả khảo sát các  
câu trả lời của người dân bằng phương pháp phỏng vấn với phiếu câu hỏi điều tra  
soạn sẵn để thu thập thông tin cơ bản về hộ gia đình, thông tin liên quan đến các hoạt  
động sản xuất của hộ gia đình... Đối với khu vực nghiên cứu, bài báo đã tiến hành  
phỏng vấn ngẫu nhiên với số lượng 850 phiếu cho các hộ gia đình trồng rừng trên địa  
bàn.  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
a. Phương pháp điều tra xã hội học  
Phỏng vấn trực tiếp chủ hộ bằng các câu hỏi đã được chuẩn bị trước và in sẵn.  
Để thực hiện đánh giá, bài báo đã phỏng vấn số mẫu được chọn ngẫu nhiên ở 3 xã  
(Cam Chính, Cam Nghĩa, Cam Thành) là 850 phiếu điều tra. Dựa vào tỷ lệ mẫu đạt ≥  
50% để tính toán số phiếu điều tra ở mỗi xã nhằm đảm bảo được mức độ chính xác khi  
tiến hành đánh giá và cho ra kết quả nghiên cứu.  
Tổng hợp từ 850 phiếu điều tra các hộ gia đình có rừng của 3 xã với tổng số  
nhân khẩu trung bình là 4,99 người trong đó tổng số lao động trung bình là 3,28 người.  
Nhìn chung, có thể thấy khu vực các hộ có nguồn lao động tương đối dồi dào phục vụ  
161  
Hiệu quả kinh tế sản xuất rừng trồng ở một số xã huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị  
cho công tác quản lý rừng trồng dựa vào cộng đồng ở hiện tại cũng như trong tương  
lai.  
Đối tượng tiến hành phỏng vấn là cán bộ huyện bao gồm: 1 cán bộ Hạt Kiểm  
Lâm, 1 cán bộ phòng tài nguyên và môi trường, 1 cán bộ phòng nông nghiệp và phát  
triển nông thôn, 1 cán bộ UBND xã để thu thập các thông tin về tình hình quản lý rừng  
trên địa bàn huyện, kế hoạch giao rừng và cấp giấy chứng nhận quy hoạch quyền sử  
dụng đất – sử dụng rừng cho cộng đồng…  
Bên cạnh đó, đối tượng được phỏng vấn chính là hộ gia đình của thôn hoặc của  
xã, ưu tiên phỏng vấn các hộ có diện tích rừng tương đối lớn.  
b. Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế  
Để tính toán hiệu quả kinh tế trên một ha rừng dựa vào một số chỉ tiêu sau:  
- Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được  
sản xuất ra trong thời gian nhất định (một vụ, một năm). Công thức tính:  
GTSX= Qi * Pi  
Trong đó: Qi là khối lượng sản phẩm loại i  
Pi là đơn giá sản phẩm i  
- Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ chi phí vật chất quy ra tiền sử dụng  
trực tiếp cho quá trình khai thác, bảo vệ rừng. Đối với các hộ trồng rừng thì chi phí  
trung gian là yếu tố quan trọng quyết định đến kết quả sản xuất và doanh thu sau này  
của các hộ. Đó là các khoản chi phí cho phát thực bì, đào hố, bón phân, cây giống…  
Việc sử dụng vốn đầu tư hợp lý để chi trả cho các chi phí này ít hay nhiều phụ thuộc  
vào điều kiện, đất đai, thổ nhưỡng, trình độ, khả năng tài chính của mỗi hộ.  
- Giá trị gia tăng (GTGT): Là hiệu số giữa giá trị sản xuất và giá trị trung gian, là  
giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó.  
GTGT = GTSX – CTTG  
- Thu nhập hỗn hợp (TNHH): Là phần thu nhập thuần túy bao gồm cả công lao  
động của gia đình tham gia sản xuất.  
TNHH = GTGT – Khấu hao – Thuế  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Đối với hoạt động trồng rừng sản xuất trên địa bàn xã thì những loại cây được  
trồng là cây keo tai tượng, keo lai hom, keo lai … nhưng keo lai chiếm 90% tổng diện  
tích lâm nghiệp vì đây là loại cây sinh trưởng và phát triển nhanh, thích hợp với nhiều  
loại đất, đặc biệt là có thể sống được với điều kiện khí hậu khắc nghiệt, đất đai khô cằn  
162  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 2 (2020)  
nhưng lại cho năng suất cao hơn các loại cây khác. Do đó, cây keo lai được áp dụng  
trồng thay thế những cây trồng năng suất thấp và đã tiến hành khai thác keo lai hiệu  
quả mang lại năng suất cao và đáp ứng nhu cầu cộng đồng tại khu vực.  
Xét trên một đơn vị diện tích (ha), một ha rừng trồng 5 tuổi tại khu vực nghiên  
cứu, có giá thu mua gỗ là 1.250.000đ/tấn. Chi phí đầu tư cho canh tác rừng thể hiện:  
Bảng 1. Chi phí đầu tư cho một chu kỳ trồng và khai thác rừng (tính bình quân cho 1 ha)  
ĐVT: 1000đ  
CAM CHÍNH  
Cơ cấu  
(%)  
100  
CAM NGHĨA  
Cơ cấu  
(%)  
100,0  
CAM THÀNH  
Cơ cấu  
(%)  
100  
CHI PHÍ  
Số lượng  
Số lượng  
Số lượng  
TỔNG CHI PHÍ  
I. Chi phí trồng  
1. Chi phí trung gian  
33,631.8  
12,926.3  
10,476.5  
450.5  
34,578.6  
13,020.6  
10,621.8  
450.9  
35,603.5  
13,802.5  
11,267.5  
463.2  
38,4  
78,4  
4,3  
37,6  
81,5  
4,2  
38,7  
81.6  
4,1  
-
-
-
-
-
-
Phát thực bì  
Trồng  
Giống  
Phân bón  
Thuê lao động  
Phí khác  
880.3  
8,4  
890.0  
8,3  
890.3  
7,9  
1,494.1  
3,320  
2,586  
14,2  
31,6  
24,6  
16,6  
1,614.0  
3,322.7  
2,545  
15,1  
31,2  
23,9  
16,5  
1,524.3  
3,458.2  
2,686  
13,5  
30,6  
23,8  
16,2  
1,745.6  
1,760.8  
1,830.8  
2. Chi phí tự có (bảo  
vệ, công chăm sóc, phí  
khác)  
2,449.8  
18,9  
2,398.8  
18,4  
2,235  
16,1  
II. Tổng chi phí khai  
thác  
20,705.5  
61,5  
21,558  
62,3  
21,801.1  
61,2  
1. Chi phí trung gian  
19,655.2  
1,455.2  
8,117  
94,9  
7,4  
41,2  
51,3  
20,008  
1,412  
8,564  
92,8  
7,0  
42,8  
50,1  
20,746.1  
1,200  
8,996  
10,250.1  
95,1  
5,7  
43,4  
49,4  
-
-
-
Làm đường  
Khai thác  
Vận chuyển  
10,083  
10,032  
2. Chi phí tự có (Phí  
khác, bảo vệ)  
1,050.3  
5,0  
1,550  
7,1  
1,355  
6,5  
(Nguồn: Điều tra phỏng vấn)  
Quan sát quá trình trồng có thể thấy, các cây lâm nghiệp có thời gian từ lúc  
trồng đến khi thu hoạch tương đối dài, vì vậy chi phí cho cả chu kỳ này rất lớn. Tổng  
chi phí trồng rừng và chi phí khai thác gỗ ở xã Cam Chính là 33, 631 triệu đồng/hộ;  
Cam Nghĩa là 34.578,6 triệu đồng/hộ; Cam Thành 35.603,5 triệu đồng/hộ bình quân cho  
một ha keo trong thời gian 5 năm. Khoản chi phí này bao gồm hai giai đoạn chính là  
giai đoạn trồng và giai đoạn khai thác.  
Tại xã Cam Chính, chi phí trồng rừng được nhận thấy ít nhất là 12,926.3 triệu  
đồng chiếm 38,4% tổng chi phí; còn xã Cam Nghĩa và Cam Thành với tổng chi phí  
trồng rừng trung bình tiêu tốn tương đương nhau. Trong khi đó, chi phí khai thác gỗ  
163  
Hiệu quả kinh tế sản xuất rừng trồng ở một số xã huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị  
tại xã Cam Thành nhiều nhất với trung bình 21,801.1 triệu đồng chiếm 61,2% tổng chi  
phí.  
Chi phí trung gian trong quá trình trồng rừng, gồm có chi phí phân bón chiếm  
nhiều nhất ở cả 3 xã, xã Cam Thành 3,458.2 triệu đồng chiếm 30,6% tổng chi phí, xã  
Cam Nghĩa là 3,322.7 triệu đồng chiếm 31,2% tổng chi phí và xã Cam Chính là 3,320  
triệu đồng, chiếm 31,6% tổng chi phí trung gian. Điều này, có thể được giải thích bởi  
giai đoạn trồng thông thường thì nông dân phải bón phân nhiều. Tại khu vực, quá  
trình canh tác người dân thường bón phân lúc bắt đầu trồng và bón thêm một lần nữa  
vào thời kỳ chăm sóc nên làm cho chi phí này cao hơn. Còn các khoản chi phí như xử  
lý thực bì, đào hố, giống, thuê lao động tương đối đồng đều nhau.  
Chi phí khai thác cũng là một khoản phí khá lớn, tổng chi phí để khai thác một  
ha keo ở mỗi xã: Cam Chính là 20,705 triệu đồng chiếm 61,5% tổng chi phí; xã Cam  
Nghĩa là 21,558 triệu đồng chiếm 62,3% tổng chi phí và xã Cam Thành là 21,801 triệu  
đồng, chiếm 61,2% tổng chi phí. Trong đó, chi phí trung gian trong khai thác của xã  
Cam Nghĩa là nhiều nhất 20,746 triệu đồng, chiếm 95,1% tổng chi phí trung gian, lý do  
giải thích ở đây là nơi sản xuất khá xa các nhà máy chế biến và nơi tiêu thụ sản phẩm,  
nên người dân phải tốn nhiều chi phí cho việc làm đường, khai thác và vận chuyển các  
sản phẩm. Bên cạnh đó, giá xăng dầu tăng mạnh cũng là một trong những nguyên  
nhân làm cho chi phí vận chuyển cao hơn. Khi cây trồng đã đến thời kỳ thu hoạch để  
cho ra khối lượng sản phẩm gỗ keo thì khâu khai thác cũng rất quan trọng, khâu này  
bao gồm các giai đoạn: cưa cây, cắt khúc, bóc vỏ, vận chuyển lên xe. Hoạt động trồng  
keo diễn ra ở những vùng gò đồi, giao thông đi lại khó khăn, do đó để thuận lợi cho  
khai thác thì cần mở đường cho các phương tiện vận chuyển có thể đến tận nơi để chở  
hàng. Đối với những vườn keo ở xa hoặc nằm ở những vùng khó khăn đi lại thì phải  
thuê máy múc để mở đường. Chi phí làm đường tại xã Cam Thành 1,200 triệu đồng,  
chiếm 5,7% chi phí trung gian.  
Trong quá trình trồng ngoài việc phải thuê thêm lao động thì hộ đã sử dụng lao  
động sẵn có của gia đình vào việc trồng cây và chăm sóc nên được tính vào phần chi  
phí tự có. Chi phí tự có ở giai đoạn trồng tiêu tốn nhiều hơn chi phí tự có ở giai đoạn  
khai thác, phần chi phí tự có ở giai đoạn trồng của xã Cam Chính tiêu tốn nhiều nhất  
trong khu vực nghiên cứu là 2,449.8 triệu đồng, chiếm 18,9% trong tổng chi phí trồng,  
điều này có nghĩa là công bỏ ra của hộ gia đình để trồng cây, chăm sóc, bảo vệ và các  
tư liệu sản xuất có sẳn trong gia đình ở xã này là tiêu tốn nhiều nhất. Khoản chi phí  
này càng lớn, việc sử dụng lao động tự có làm giảm khoản chi phí mà hộ phải thuê lao  
động. Phần chi phí tự có giai đoạn khai thác của xã Cam Thành tốn nhiều nhất 1,550  
triệu đồng, chiếm 7,1% tổng chi phí khai thác, trong khai thác các hộ chủ yếu sử dụng  
hình thức khoán lao động nên chi phí tự có này là chi phí quản lý khai thác, phí bảo vệ  
sản phẩm.  
164  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 2 (2020)  
Năm 2019, với diện tích khai thác gỗ tính trung bình của mỗi xã là 1 ha và mức  
thuế canh tác rừng mà mỗi hộ gia đình canh tác phải nộp cho cơ quan Nhà nước là  
150.000đ/ha/năm. Hiệu quả kinh tế được tính toán và thể hiện thông qua bảng sau:  
Bảng 2. Hiệu quả kinh tế của rừng trồng tại khu vực nghiên cứu năm 2019  
Trữ lượng  
khai thác  
Giá trị sản  
xuất  
(1000đ/ha)  
112.500  
87.500  
Giá trị trug  
gian  
(1000đ/ha)  
30,131.7  
34,578.6  
35,603.5  
Giá trị gia  
tăng  
(1000đ/ha)  
82,368.3  
52,921.4  
76,896.5  
Thu nhập  
hỗn hợp  
(1000đ/ha)  
80,280.3  
50,833.4  
74,808.5  
Xã  
(tấn)  
90  
70  
90  
Cam Chính  
Cam Nghĩa  
Cam Thành  
112.500  
(Nguồn: Tính toán và tổng hợp từ phiếu điều tra)  
Nhìn vào bảng 2 có thể thấy rằng, bình quân mỗi ha rừng trồng sau mỗi chu kì  
kéo dài 5 năm, tại xã Cam Chính thu nhập hỗn hợp đạt 80,280.3 triệu đồng; xã Cam  
Nghĩa đạt 50,833.4 triệu đồng và tại xã Cam Thành đạt 74,808.5 triệu đồng. Có thể nói  
kết quả và hiệu quả trồng rừng ở đây tương đối cao, mang lại nguồn thu nhập cao, góp  
phần giải quyết việc làm, cải thiện cuộc sống đặc biệt là góp phần xóa đói giảm nghèo  
cho những hộ đặc biệt khó khăn. Điều này được thể hiện rõ qua bảng kết quả và hiệu  
quả trồng rừng bình quân hộ.  
Đối với xã Cam Nghĩa, trữ lượng khai thác 70 tấn ít hơn trữ lượng khai thác của  
hai xã Cam Chính và Cam Thành, do đó giá trị sản xuất đạt được thấp chỉ 87,500 triệu  
đồng trên ha. Chi phí trung gian xã Cam Thành bỏ ra để thuê và mua dịch vụ vật chất  
trực tiếp lớn nhất đạt 35,603.5 triệu đồng; xã Cam Chính chi phí trung gian tiêu tốn  
30,131.7 triệu trên ha và xã Cam Nghĩa chi phí trung gian tiêu tốn 34,578.6 triệu đồng  
trên ha, chi phí này tương đối cao nếu đối với các hộ gia đình hộ nghèo việc đầu tư  
vốn như vậy rất khó để trả trong thời gian ngắn. Tại xã Cam Chính việc tiêu tốn chi  
phí trung gian thấp nhất cho nên giá trị gia tăng của xã đạt đến 82,368.3 triệu đồng,  
dẫn đến thu nhập hỗn hợp xã Cam Chính đạt lớn nhất là 80,280.3 triệu đồng trên ha.  
Do đó, diện tích trồng rừng không quyết định đến lượng gỗ khai thác và cũng như thu  
nhập hỗn hợp đạt được. Nhưng thu nhập hỗn hợp từ rừng phụ thuộc vào trữ lượng gỗ  
khai thác, cũng như phụ thuộc chi phí trung gian và giá trị gia tăng.  
165  
Hiệu quả kinh tế sản xuất rừng trồng ở một số xã huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị  
120  
100  
80  
60  
40  
20  
0
1000đ/ha  
1000đ/ha  
1000đ/ha  
1000đ/ha  
GTSX  
GTTG  
GTGT  
TNHH  
Cam Chính  
Cam Nghĩa  
Cam Thành  
Hình 2. Hiệu quả kinh tế bình quân theo xã  
Như vậy có thể rút ra rằng trồng rừng là một trong những giải pháp giúp  
những hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu có thu nhập cao và cuộc sống ổn định trong  
tương lai. Tuy nhiên, với thực tế thiếu vốn đầu tư và sự biến động giá cả của các yếu tố  
đầu vào như giá cả phân bón, giá cây giống và công lao động trên thị trường đã ảnh  
hưởng đến tâm lý đầu tư của các hộ điều tra. Mặt khác, thời gian chờ đợi thu hoạch dài  
cũng là một trong những nguyên nhân khiến các chủ rừng có thể khai thác rừng sớm  
do thiếu vốn hoặc không có nguồn thu để trang trải cho cuộc sống.  
4. KẾT LUẬN  
Hiệu quả kinh tế trong quản lý rừng dựa vào cộng đồng được thể hiện qua giá  
trị thu nhập hỗn hợp mà các hộ gia đình đạt được. Tại xã Cam Chính thu nhập hỗn  
hợp đạt được 79,632.3 triệu đồng/ha với trữ lượng gỗ 90 tấn, trong thời gian 5 năm  
bình quân các hộ trồng rừng đã thu được số tiền khá lớn. Khoản thu này phản ánh  
rừng trồng do cộng đồng quản lý đã mang lại hiệu quả thiết thực, đóng góp vào tài  
chính gia đình, góp phần cải thiện đời sống của người dân.  
166  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 2 (2020)  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Hạt Kiểm Lâm huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị (2018), Báo cáo công tác giao rừng tự nhiên cho  
hộ gia đình, cá nhân giai đoạn 2012-2018.  
[2] Đinh Hữu Hoàng, Đặng Kim Sơn (2007), Giao đất và giao rừng ở Việt Nam – Chính sách và thực  
tiễn, Viện chính sách và phát triển Nông Nghiệp và Nông Thôn.  
[3] Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cam Lộ tỉnh Quảng Trị (2018), Phương án giao rừng  
Cam Chính, Cam Nghĩa, Cam Thành.  
[4] UBND huyện Cam Lộ tỉnh Quảng Trị (2013), Đề án giao rừng tự nhiên cho hộ gia đình, cá nhân  
đến năm 2015 định hướng 2020 huyện Cam Lộ, Quảng Trị, Việt Nam.  
[5] UBND huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị (2014), Đề án nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển rừng  
bền vững giai đoạn 2014-2020.  
ECONOMIC EFFICIENCY OF PLANTATION FORESTS IN SOME COMMUNES  
OF CAM LO DISTRICT, QUANG TRI PROVINCE  
*
Tran Anh Hang , Tran Thi Tieu Nhu  
Faculty of Geology and Geography, University of Sciences, Hue University  
ABSTRACT  
The study is aimed to determine the economic efficiency of production forest in  
three communes namely Cam Chinh, Cam Nghia and Cam Thanh of Cam Lo  
district, Quang Tri province. The paper uses a formula to determine the economic  
efficiency of plantation forests through the income that households had achieved.  
Through the results of research and interview for people participating in  
afforestation, it was determined that the average income is 80,280 millions VND  
for Cam Chinh, 50,833.4 millions VND for Cam Nghia and 74,808.5 millions VND  
for Cam Thanh on each hectare of production forest after 5 years of business cycle.  
This results provide a foundation for further analysis of the effects of afforestation  
in the Cam Lo district and economic development for people in the current  
periods.  
Keywords: Cam Lo, Economic efficiency, plantation forest, , Quang Tri.  
167  
Hiệu quả kinh tế sản xuất rừng trồng ở một số xã huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị  
Trần Ánh Hằng sinh ngày 15/9/1990 tại TP. Huế. Năm 2012, bà tốt nghiệp  
Cử nhân ngành Địa lý tài nguyên và môi trường tại Trường Đại học Khoa  
học, Đại học Huế. Năm 2014, bà nhận học vị Thạc sĩ ngành Địa lý tài  
nguyên và môi trường tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. Từ  
năm 2013 đến nay, bà công tác tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Biến đổi khí hậu, tai biến thiên nhiên và sinh khí hậu,  
tài nguyên môi trường, những tác động và phát triển bền vững.  
Trần Thị Tiểu Như sinh ngày 26/3/1997 tại Quảng Trị. Năm 2019, bà tốt  
nghiệp Cử nhân ngành Địa lý tài nguyên và môi trường tại Trường Đại  
học Khoa học, Đại học Huế. Từ năm 2020 đến nay, bà công tác liên quan  
đến thực phẩm sạch tại thành phố Đà Nẵng.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Tài nguyên rừng, môi trường và những tác động.  
168  
pdf 10 trang yennguyen 41460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả kinh tế sản xuất rừng trồng ở một số xã huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_kinh_te_san_xuat_rung_trong_o_mot_so_xa_huyen_cam_l.pdf