Một số nguyên nhân chính gây suy giảm diện tích rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát ven biển tỉnh Thanh Hóa

TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 49.2020  
MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN CHÍNH GÂY SUY GIẢM DIỆN TÍCH  
RỪNG PHÒNG HỘ CHẮN GIÓ, CHẮN CÁT  
VEN BIỂN TỈNH THANH HÓA  
Nguyễn Hữu Hảo1, Vũ Thị Thu Hiền2  
TÓM TẮT  
Quá trình đô thị hóa, khai thác, và chuyển đổi mục đ ch sử dụng đất ven biển cho nhu  
cầu phát triển kinh tế xã hội trong những năm gần đây đang làm giảm sút nghiêm trọng  
nguồn tài nguyên rừng ven biển, đặc biệt là rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay từ biển  
vào đất liền. Giống như nhiều vùng đang phát triển trên cả nước, việc suy giảm diện tích  
rừng phòng hộ do việc chuyển đổi mục đ ch sử dụng đất cho nhu cầu mở rộng diện tích nông  
nghiệp, xây dựng các khu dân cư, phát triển các khu du lịch, dịch vụ, và các mục đ ch sử  
dụng đất phi lâm nghiệp khác của vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa là một ví dụ điển hình.  
Nghiên cứu này tập trung đánh giá một số nguyên nhân chính gây suy giảm diện tích rừng  
phòng hộ chắn gió, chắn cát bay ven biển tỉnh Thanh Hóa nhằm cung cấp thông tin một  
cách tổng quan về thực trạng rừng phòng hộ ven biển tỉnh Thanh Hóa. Kết quả nghiên cứu  
cũng là thông tin khoa học cơ bản để đưa ra kiến nghị, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao  
hiệu quả sử dụng đất góp phần bảo vệ và phát triển diện tích đất rừng phòng hộ ven biển.  
Từ khóa: Rừng phòng hộ, vùng ven biển, tỉnh Thanh Hóa.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Đất cát ven biển Việt Nam bao gồm các dải cát h p, chạy dọc theo bờ biển từ Bắc  
vào Nam với hơn 500.000 ha, tập trung chủ yếu ở ven biển miền Trung, nhiều nhất ở các  
tỉnh từ Quảng Bình đến Bình Thuận [1]. Thanh Hoá có tổng chiều dài bờ biển khoảng 102  
km, thuộc địa bàn của 6 huyện, thị xã ven biển là Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, thành  
phố Sầm Sơn, Quảng Xƣơng và Tĩnh Gia; bờ biển chạy dài từ cửa Càn, huyện Nga Sơn  
đến Hà Nẫm, huyện Tĩnh Gia. C  56 x  tiếp giáp bờ biển và các xã chịu ảnh hƣởng trực  
tiếp của sóng biển, triều cƣờng và hiện tƣợng cát bay hàng năm. Theo báo cáo của Sở  
Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn hiện trạng các loại rừng ven biển của tỉnh Thanh  
H a đến năm 2012 là 3.481 ha. Trong đ : diện tích có rừng là 2.084 ha diện tích rừng ngập  
mặn là 1.174 ha, diện tích rừng chắn gió, chắn cát là 910 ha và diện tích chƣa c  rừng là  
1.397 ha. Diện tích đất rừng phòng hộ ven biển có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ  
đất nông nghiệp cũng nhƣ ngăn sự xâm mặn từ nƣớc biển vào đất liền.  
Với bờ biển kéo dài nên việc khai thác và sử dụng dải đất cát ven biển phải đối mặt  
với rất nhiều kh  khăn bởi ảnh hƣởng của cả yếu tố từ thiên nhiên và các hoạt động của  
con ngƣời [5]. Vùng ven biển luôn hứng chịu những tác động nặng nề của thảm họa tự nhiên [6],  
nơi đây đang đối mặt với những thách thức nhƣ sự đ i nghèo, khai thác lạm dụng, lũ lụt, và  
sự xâm nhập mặn hàng năm từ nƣớc biển nhƣng lại thiếu những biện pháp để bảo vệ và phục  
1,2 Khoa Nông - Lâm - Ngư nghiệp, Trường Đại học Hồng Đức  
52  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 49.2020  
hồi đất sau khi sử dụng. Việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp, khai thác các nguồn lợi khác  
từ rừng phòng hộ nhƣ lấy gỗ, lấy củi cũng nhƣ việc thay đổi các chính sách và mục đích sử  
dụng đất cho phát triển du lịch, xây dựng các công trình nhƣ khách sạn, nhà hàng, bãi tắm đ  
làm cho diện tích đất rừng phòng hộ ven biển ngày một suy giảm. Hơn nữa, việc đầu tƣ cho  
trồng rừng ven biển thấp, kinh phí đầu tƣ từ ngân sách Nhà nƣớc có hạn, các dự án đầu tƣ từ  
các tổ chức trong và ngoài nƣớc chƣa tập trung về một đầu mối quản lý, việc thực hiện kiểm  
tra giám sát, đánh giá các dự án còn nhiều yếu kém và hạn chế [2]. Tuy nhiên, có rất ít công  
trình, dự án nghiên cứu về những nguyên nhân gây suy giảm diện tích đất rừng phòng hộ ven  
biển trên địa bàn tỉnh Thanh H a. Do đ , việc nghiên cứu, đánh giá nguyên nhân suy giảm  
diện tích rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát ven biển do các hoạt động của con ngƣời là một  
biện pháp hữu hiệu nhằm cung cấp tới các chủ sử dụng đất và các nhà làm quy hoạch cái nhìn  
tổng quan về thực trạng rừng phòng hộ ven biển, từ đ  đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao  
hiệu quả trong công tác quản lý, phát triển nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng này.  
2. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU VÙNG NGHIÊN CỨU  
Vùng ven biển Thanh Hóa có giới hạn vị trí địa lý từ 190 23 - 20023 vĩ độ Bắc;  
106015 - 106030 kinh độ Đông (Hình 1). Địa hình tƣơng đối bằng phẳng, nghiêng từ Tây  
Bắc xuống Đông Nam. Dọc theo bờ biển từ Nga Sơn đến Tĩnh Gia chủ yếu là vùng đất cát ven  
biển, địa hình lƣợn s ng, độ cao trung bình 3m đến 6 m, gồm các cồn cát khá phổ biến và hình  
thành dải cát h p nhƣng không liên tục, phần lớn rộng từ 0,5 - 1,0 km. Riêng vùng biển Nga  
Sơn rộng tới 6 đến 7 km. Theo tài liệu khí hậu thủy văn Thanh H a, vùng ven biển nằm trong  
vùng khí hậu nhiệt đới gi  mùa. Mùa đông không lạnh lắm, sƣơng muối ít xảy ra, c  rét đậm;  
mùa hè nóng vừa phải, c  gi  Tây Nam khô n ng, mƣa nhiều. Tổng nhiệt độ năm khoảng  
8.6000C, với tổng lƣợng mƣa trung bình năm từ 1456 mm đến 1762 mm. Độ ẩm không khí  
tƣơng đối trung bình năm thƣờng cao, vào khoảng 85 - 86% và hiếm khi ở mức dƣới 60%.  
Hình 1. Vị trí địa lý và ranh giới vùng nghiên cứu  
53  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 49.2020  
3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
3.1. Phƣơng pháp thu thập thông tin thứ cấp  
Thu thập các loại tài liệu, số liệu, báo cáo, kết quả nghiên cứu khoa học có liên quan  
đến việc suy giảm diện tích rừng phòng hộ ven biển do các hoạt động của con ngƣời từ  
phòng Tài nguyên và Môi trƣờng các huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng  
Xƣơng, Tĩnh Gia và thành phố Sầm Sơn. Báo cáo về diện tích rừng phòng hộ ven biển tỉnh  
Thanh H a đƣợc thu thập, tham khảo từ Chi cục Lâm Nghiệp - Sở Nông nghiệp và Phát  
triển Nông thôn Thanh Hóa. Ngoài ra, nghiên cứu còn kế thừa, tham khảo số liệu khoa học  
liên quan đến vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nƣớc.  
3.2. Phƣơng pháp điều tra số liệu sơ cấp  
Điều tra, thu thập thông tin về tình hình sử dụng đất lâm nghiệp (loại đất rừng, diện  
tích đƣợc giao, loại cây trồng trên đất...), các hoạt động khai thác, sử dụng nguồn tài  
nguyên rừng, các văn bản, chính sách về bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ ven biển và  
những thuận lợi, kh  khăn trong công tác bảo vệ, phát triển nguồn tài nguyên rừng phòng  
hộ. Điều tra khảo sát theo 3 tuyến dọc ven biển, vùng giữa và vùng giáp nội đồng để nắm  
tình hình chung của đối tƣợng nghiên cứu và xác định nguyên nhân gây suy giảm diện tích  
đất rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát ven biển.  
3.3. Phƣơng pháp phỏng vấn nhanh có sự tham gia của ngƣời dân  
Phỏng vấn bán định hƣớng đến từng hộ về hiện trạng thực thi các chính sách về phục  
hồi và phát triển rừng phòng hộ ven biển; Hiểu biết của ngƣời dân về vai trò của rừng  
phòng hộ ven biển, diễn biến biến đổi khí hậu tại địa phƣơng; Ý kiến của ngƣời dân về các  
quy định trong bảo vệ, phục hồi và phát triển hiện nay.  
3.4. Phƣơng pháp phân tích xử lý số liệu  
Số liệu đƣợc thống kê, phân tích và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2013.  
Mapinfo 15.0, ArcGIS 10.4 để tính toán và xử lý số liệu và thể hiện qua bảng biểu, sơ đồ,  
bản đồ, đồ thị biểu diễn số lƣợng và tỷ lệ.  
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN  
4.1. Đánh giá chung về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội  
Kết quả từ quá trình điều tra, khảo sát thực địa và thu thập, phân tích số liệu tại vùng  
đất cát ven biển tỉnh Thanh Hóa, có thể rút ra một số nhận định về những thuận lợi và khó  
khăn của vùng nghiên cứu nhƣ sau:  
Thuận lợi: các xã ven biển có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội,  
mật độ dân số đông với nguồn lao động dồi dào. Nền kinh tế khu vực ven biển đang phát  
triển với nhịp độ tăng trƣởng kinh tế nhanh, an ninh lƣơng thực và an ninh chính trị, xã hội  
ổn định. Nhà nƣớc và Tỉnh đ  c  những chính sách quan trọng thu hút đầu tƣ xây dựng  
khu công nghiệp, cảng biển, các khu du lịch nghỉ dƣỡng, hỗ trợ vốn thúc đẩy kinh tế - xã  
hội phát triển. Đời sống vật chất, văn h a - xã hội đƣợc quan tâm, cơ sở hạ tầng đƣợc tăng  
cƣờng và củng cố, giao thông đƣợc nâng cấp, các tuyến đƣờng quốc lộ, tỉnh lộ các trục  
chính đƣợc nhựa h a, giao thông đƣờng biển, bến cảng phát triển mạnh tạo điều kiện giao  
lƣu kinh tế - xã hội với mọi vùng trong nƣớc và quốc tế.  
54  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 49.2020  
Khó khăn: khí hậu, thời tiết bất thƣờng đ  ảnh hƣởng rất lớn đến phát triển sản xuất  
nông lâm ngƣ nghiệp nói chung. Trong nhiều năm qua khu vực ven biển luôn hứng chịu  
nhiều cơn b o, áp thấp nhiệt đới với cƣờng độ mạnh và diễn biến phức tạp đ  ảnh hƣởng  
trực tiếp đến ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản của Tỉnh gây thiệt hại về đời sống, tính  
mạng, tài sản của ngƣời dân trong vùng. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao, đời sống của ngƣời dân  
còn nhiều kh  khăn. Nguồn nhân lực dồi dào nhƣng chất lƣợng thấp, thừa lao động phổ  
thông nhƣng lại thiếu lao động kỹ thuật, tình trạng thiếu việc làm và việc làm không ổn  
định, nhất là ở khu vực nông thôn. Đội ngũ cán bộ quản lý x , phƣờng còn nhiều bất cập cả  
về số lƣợng và chất lƣợng so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trƣờng và hội nhập  
quốc tế. Việc xây dựng và phát triển các khu sinh thái, du lịch nhƣ: Khu du lịch biển Hải  
Tiến, FLC, Hải Hòa đ  tác động làm giảm diện tích rừng phòng hộ ven biển do chuyển đổi  
mục đích đất lâm nghiệp sang đất phát triển du lịch. Do vậy, để diện tích rừng ven biển  
đƣợc phát triển bền vững, chúng ta cần làm gì? đề xuất các mô hình phát triển kinh tế xã  
hội, dịch vụ du lịch sinh thái biển gắn với bảo vệ môi trƣờng, bảo tồn đa dạng sinh học.  
4.2. Diện tích rừng phòng hộ theo đơn vị hành chính vùng ven biển  
Kết quả rà soát diện tích đất có rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát vùng ven biển tỉnh  
Thanh H a năm 2016 thể hiện qua bảng 1. Sơ đồ phân bố diện tích rừng phòng hộ chắn  
gió chắn cát thể hiện qua sơ đồ 2.  
Kết quả từ bảng 1 cho thấy, toàn vùng có tổng diện tích đất rừng phòng hộ chắn  
gió, chắn cát là 378,86 ha, chiếm 11,46% tổng diện tích đất lâm nghiệp có khả năng sử  
dụng vào mục đích trồng rừng phòng hộ. Đất bãi cát trống chƣa c  rừng phòng hộ là  
141,72 ha, chiếm 4,28%, đây là phần diện tích có khả năng trồng rừng phòng hộ chắn gió  
chắn cát ven biển trong tƣơng lai.  
Bảng 1. Hiện trạng rừng phòng hộ ven biển tỉnh Thanh Hóa  
Đơn vị: ha  
Phân theo đơn vị hành chính  
Nga Hậu Hoằng Sầm Quảng Tĩnh  
Sơn Lộc Hóa Sơn Xƣơng Gia  
Tổng  
(ha)  
Tỷ lệ  
(%)  
TT Loại đất, loại rừng  
Tổng  
3.306,80 440,00 614,59 396,04 50,85 169,21 1.636,11 100  
2.282,61 120,00 250,79 290,88 27,66 165,73 1.427,55 69,03  
I Rừng phòng hộ  
1 Rừng PH chắn sóng  
2 Rừng PH chắn gió-cát 378,86  
3 Rừng PH môi trƣờng 1.346,01  
557,74 120,00 238,09 55,62  
-
7,43 136,60 16,87  
12,70 64,27 20,99 158,30 122,60 11,46  
170,99 6,67 1.168,35 40,70  
-
-
-
II Đất chƣa c  rừng PH 1.024,19 320,00 363,80 105,16 23,19 3,48 208,56 30,97  
Đất rừng trồng NM  
1
396,45 223,30 105,80 36,67  
-
-
30,68 11,99  
chƣa thành rừng  
1 Đất ngập mặn  
2 Đất bãi cát  
486,02 96,70 258,00 45,30  
-
-
86,02 14,70  
91,86 4,28  
141,72  
-
-
23,19 23,19 3,48  
Nguồn: số liệu điều tra năm 2017  
55  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 49.2020  
Hình 2. Vị trí phân bố rừng phòng hộ chắn gi , cát năm 2016  
4.3. Diện tích rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bị suy giảm do các hoạt động  
của con ngƣời  
Quá trình phỏng vấn chuyên gia và điều tra thực tế tại vùng nghiên cứu chỉ ra rằng,  
rừng phi lao phòng hộ ven biển có tác dụng rất lớn trong việc phòng ngừa thiên tai.  
Nhƣng trên thực tế, tại vùng ven biển các tỉnh Thanh Hóa, do nhu cầu mở rộng phát triển  
kinh tế - xã hội, rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát đ  và đang suy giảm diện tích một  
cách rõ rệt. Do đ , sau mỗi mùa mƣa b o, ngƣời dân ven biển phải đối mặt với tình trạng  
sạt lở, nƣớc biển xâm thực và cát bay.  
Biến động diện tích rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát năm 2016 giảm so với năm  
2014 là 146,91 ha, giảm so với năm 2010 là 522,14 ha. Việc suy giảm diện tích này xảy ra  
do một số nguyên nhân chủ yếu nhƣ phát triển du lịch - dịch vụ, khai thác nguồn lợi thủy sản  
ven biển, thay đổi chính sách giao đất, sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thiếu  
kỹ thuật lâm sinh và khai thác lâm sản phục vụ cuộc sống hàng ngày của nhân dân địa  
phƣơng. Diện tích rừng suy giảm trong giai đoạn 2010 - 2016 đƣợc tổng hợp qua bảng 2 và  
thể hiện qua biểu đồ 1.  
Bảng 2. Một số nguyên nhân chính gây suy giảm diện tích rừng phòng hộ chắn gió - chắn cát  
Nguyên nhân suy giảm diện tích rừng Tổng diện tích suy giảm  
Diện tích  
suy giảm cụ thể  
147,64  
phòng hộ chắn gió - chắn cát  
Phát triển Du lịch - dịch vụ (DL-DV)  
Mở rộng diện tích đất nông nghiệp (NN)  
Khai thác lâm sản  
từ năm 2010 - 2016  
68,57  
55,42  
Nuôi trồng thủy sản (TS)  
522,14 (ha)  
124,36  
Đô thị hóa  
96,17  
Ô nhiễm môi trƣờng  
10,14  
Thiếu các thiết bị kỹ thuật lâm sinh (KTLS)  
19,84  
Nguồn: số liệu điều tra năm 2017  
56  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 49.2020  
3.72%  
1.94%  
Phát triển DL - DV  
Mở rộng DT đất NN  
28.27%  
18.41%  
23.89%  
Khai thác lâm sản  
Nuôi trồng TS  
Đô thị h a  
13.08%  
Ô nhiễm môi trƣờng  
Thiếu các thiết bị KTLS  
10.69%  
Biểu đồ 1. Tỷ lệ diện tích rừng phòng hộ bị suy giảm bởi một số nguyên nhân chính  
Số liệu từ Bảng 2 và Biểu đồ 1 cho thấy nguyên nhân làm suy giảm diện tích đất rừng  
phòng hộ chắn gió, chắn cát nhiều nhất là do sự phát triển ngành nghề du lịch - dịch vụ tại  
vùng ven biển. Việc phát triển ngành nghề này đ  làm mất đi 147,67 ha từ năm 2010 đến  
năm 2016, chiếm 28,27% trên tổng số diện tích rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát vùng ven  
biển bị suy giảm trong giai đoạn này. Nguyên nhân tiếp theo là nuôi trồng thủy sản. Để mở  
rộng diện tích nuôi trồng thủy sản nhƣ xây dựng mới các đầm nuôi tôm và các bãi nuôi ngao,  
khoảng 124 ha diện tích đất rừng phi lao trên cát bị chặt bỏ, chiếm tỷ lệ khoảng 23,89%. Bên  
cạnh đ  tốc độ đô thị hóa nhanh phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển cũng  
góp phần không nhỏ vào việc làm suy giảm diện tích đất rừng phi lao trên bãi cát ven biển,  
với khoảng 96,17 ha chiếm 18,41%. Một trong những nguyên nhân tiếp theo là việc chuyển  
đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang sản xuất nông nghiệp đ  làm mất khoảng 55,42 ha  
đất rừng phi lao trên cát, chiếm 13,08%. Việc khai thác lâm sản, cho phép và trái phép cũng  
làm mất khoảng 55,42 ha, chiếm tỷ lệ 10,69% đất rừng phi lao của vùng ven biển tỉnh Thanh  
Hóa. Bên cạnh đ , việc gây ô nhiễm môi trƣờng và thiếu các thiết bị kỹ thuật lâm sinh cũng  
là một trong những nguyên nhân làm giảm diện tích đất rừng phi lao chắn gió, chắn cát từ  
năm 2010 đến năm 2016 lần lƣợt là 10,14 ha và 19,84 ha, chiếm tỷ lệ 1,94 và 3,72 % trong  
tổng số nguyên nhân làm suy giảm diện tích đất rừng phi lao ven biển.  
Tình trạng suy giảm diện tích đất rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát của vùng ven  
biển tỉnh Thanh H a đang diễn biến phức tạp và c  xu hƣớng gia tăng cả về phạm vi lẫn  
quy mô. Tuy nhiên, diện tích và tốc độ phục hồi, trồng mới là không đáng kể so với việc  
chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang mục đích khác và các nguyên nhân gây  
ra bởi áp lực về sinh kế của ngƣời dân vùng biển. Do đ , để ngăn chặn suy giảm rừng  
phòng hộ ven biển nói chung và rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát nói riêng, Ủy ban nhân  
dân Tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa và Chi cục Lâm nghiệp cần  
tổ chức đánh giá lại việc trồng rừng thời gian qua để việc trồng mới, khôi phục rừng phòng  
hộ chắn gió chắn cát ven biển đạt hiệu quả; tăng cƣờng tuyên truyền cho ngƣời dân về vai  
trò, chức năng cũng nhƣ trách nhiệm trong việc bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ trên cát;  
đẩy mạnh việc giao, khoán bảo vệ rừng cho các thành phần kinh tế, cộng đồng và hộ gia  
đình nhằm bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ ven biển.  
57  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 49.2020  
5. KẾT LUẬN  
Diện tích rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát ven biển tỉnh Thanh Hóa bị suy giảm chủ  
yếu là rừng phi lao trên cát và phần lớn diện tích tập trung trên các bãi cát chạy dài ven bờ  
biển từ huyện Hậu Lộc cho đến huyện Tĩnh Gia. Khu vực rừng phòng hộ ven biển nằm  
trên địa bàn 6 huyện, thành phố của tỉnh Thanh H a, c  điều kiện khí hậu khá thuận lợi  
cho sự phát triển và sinh trƣởng các loại cây lâm nghiệp.  
Diện tích rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát đang suy giảm nghiêm trọng mà nguyên  
nhân chính là do các hoạt động của con ngƣời từ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất  
lâm nghiệp sang các mục đích sử dụng đất phi lâm nghiệp nhƣ: phát triển du lịch dịch vụ,  
đô thị hóa, nuôi trồng thủy sản, khai thác gỗ... Đồng thời thiếu các kỹ thuật lâm sinh trong  
bảo vệ và phát triển quỹ rừng.  
Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý rừng phòng hộ cần phối hợp đồng bộ tất cả  
giải pháp, quan trọng nhất là nhóm giải pháp nhằm khuyến khích ngƣời dân cải thiện sinh  
kế thông qua hoạt động trồng cây trên những diện tích rừng bị suy thoái và đất trống, đồng  
thời khuyến khích ngƣời dân bảo vệ những diện tích rừng hiện có.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] De Koninck, Rodolphe (1999), Deforestation in Việt Nam, IDRC, Ottawa, Canada.  
[2] Phan Liêu (1987), Đất cát biển nhiệt đới ẩm, Nxb. Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội.  
[3] Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thanh Hóa (2016), Báo cáo Quy hoạch  
bảo vệ và Phát triển rừng ven biển tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2016 - 2025 và tầm  
nhìn đến năm 2030.  
[4] Thủ tƣớng chính phủ (2001), Quyết định số 08/2001/QĐ - TTg ngày 11/01/2001 của  
Thủ tướng Chính phủ về quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản  
xuất là rừng tự nhiên.  
[5] Thủ tƣớng chính phủ (2006), Nghị Định về thi hành và bảo vệ phát triển rừng,  
[6] Tổng cục thống kê Việt Nam (2012), Niên Giám Thống Kê 2011, Nxb. Thống kê, Hà Nội.  
THE MAIN CAUSES OF THE DECREASE OF WIND-SHIELD AND  
SAND-SHIELD PROTECTION FOREST AREA IN THE  
COASTAL LAND OF THANH HOA PROVINCE  
Nguyen Huu Hao, Vu Thi Thu Hien  
ABSTRACT  
The process of urbanization, exploitation, and the conversion of the coastal land  
purposes for socio-economic development in the recent years has been seriously  
58  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 49.2020  
decreasing the coastal forest resources, especially those preventing wind and sand  
intruding from the sea to the mainland. Like many developing regions in the whole contry,  
the coastal land of Thanh Hoa province is a typical example of the decline of protection  
forest due to the expanding land area for agricultural development, construction of  
residential areas, developing tourist areas and services, and other non-forestry land use  
purposes. This study focuses on the main causes of the decrease of wind-shiel and sand-  
shiel protection forest in the coastal area of Thanh Hoa province in order to provide  
general information about the status of the coastal protection forest in Thanh Hoa  
Province. The results are also scientific information for making suggestions and proposing  
solutions to improve the efficiency of coastal land use, and contribute to the protection and  
development of the coastal protection forest area.  
Keywords: Protection forest, coastal area, Thanh Hoa province.  
* Ngày nộp bài: 2/7/2019; Ngày gửi phản biện: 9/8/2019; Ngày duyệt đăng: 4/3/2020  
* Lời cảm ơn: Để thực hiện nghiên cứu này, nhóm tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn  
đến tập thể và các cá nhân đã tham gia thực hiện nhiệm vụ Khoa học và công nghệ độc lập  
cấp Quốc gia: “Nghiên cứu giải pháp tổng hợp để phục hồi và phát triển bền vững rừng  
phòng hộ ven biển tỉnh Thanh Hóa”, mã số: ĐTĐL.CN-34/17.  
59  
pdf 8 trang yennguyen 22200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số nguyên nhân chính gây suy giảm diện tích rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát ven biển tỉnh Thanh Hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_nguyen_nhan_chinh_gay_suy_giam_dien_tich_rung_phong_h.pdf