Ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ phân tán nano Titandioxid (TiO₂) đến chất lượng màng trang sức trên sản phẩm gỗ

Công nghiệp rừng  
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ CÔNG NGHỆ PHÂN TÁN NANO  
TITANDIOXID (TiO2) ĐẾN CHẤT LƯỢNG MÀNG TRANG SỨC  
TRÊN SẢN PHẨM GỖ  
Phạm Thị Ánh Hồng1, Cao Quốc An2  
1,2Trường Đại học Lâm nghiệp  
TÓM TẮT  
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của nồng độ và thời gian phân tán nano TiO2 đến chất  
lượng màng trang sức trên bề mặt gỗ. Vật liệu nano TiO2 được phân tán trong dung môi Butyl acetate có chất  
hoạt động bề mặt LAS ở các nồng độ 0,05%; 0,1%; 0,15%; 0,2%; 0,25% trong các mức thời gian 1 giờ, 2 giờ,  
3 giờ, 4 giờ, 5 giờ bằng sóng siêu âm và thiết bị khuấy từ, sau đó bổ sung phần sơn bóng PU, chất cứng PU và  
khuấy đều với tốc độ 200 - 300 vòng/phút trong 15 phút. Dung dịch chất phủ này được phun lên bề mặt các  
mẫu gỗ. Kết quả cho thấy, độ hấp thụ tia cực tím của dung dịch sơn PU có phối trộn nano TiO2 rất mạnh so với  
dung dịch sơn PU đối chứng. Chất lượng màng sơn PU-TiO2 đã cải thiện đáng kể hơn so với màng sơn PU đối  
chứng: Độ cứng tăng từ 3,29 lên 4,09 H; tỷ lệ tổn thất khối lượng do mài mòn giảm từ 0,1305% xuống  
0,1057%; độ bền hoá chất và nước tăng từ mức 4,01 đến mức 5; độ lệch màu ∆E cũng giảm từ 14,85 xuống  
9,62, không có hiện tượng nứt hay bong tróc của màng sơn PU-TiO2 trên bề mặt gỗ; đồng thời không có sự  
thay đổi đáng kể về cường độ hấp thụ hồng ngoại đặc trưng cho các nhóm chức cấu trúc hóa học trong màng  
sơn PU phối trộn với nano TiO2. Như vậy, để đảm bảo chất lượng trang cho sản phẩm gỗ và đem lại hiệu quả  
kinh tế nên sử dụng nano TiO2 ở nồng độ 0,158% và phân tán trong 3,651 giờ là thích hợp.  
Từ khóa: Dung môi, màng phủ, nano TiO2, phân tán, sản phẩm gỗ.  
nấm mốc và tự làm sạch bề mặt (P A  
Charpentier và cộng sự, 2012; Yixing Tang,  
2013) và chống được tia UV (Thien Vuong  
Nguyen et al, 2016; Mirela Vlad, 2009), có khả  
năng kháng ẩm, cải thiện độ bền bám dính, độ  
bền va đập (Thien Vuong Nguyen et al., 2016),  
có tác dụng làm sạch không khí, làm sạch nước  
và có giá thành thấp. Xuất phát từ những lý do  
trên, tác giả đã tiến hành nghiên cứu ảnh  
hưởng của một số yếu tố công nghệ phân tán  
nano TiO2 đến chất lượng màng trang sức trên  
bề mặt gỗ.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trang sức sản phẩm gỗ là công đoạn quan  
trọng trong sản xuất đồ mộc với mục đích làm  
tăng tính thẩm mỹ và bảo quản sản phẩm. Nó  
có thể tiến hành trước hoặc sau khi lắp ráp  
thành sản phẩm. Hiện nay, có rất nhiều loại  
chất phủ lỏng được dùng trong ngành gỗ như  
Nitrocellulose, Polyurethane (PU), Ankyde...  
Trong đó, PU được sử dụng phổ biến nhất để  
trang sức sản phẩm gỗ bởi chúng có nhiều ưu  
điểm như màng sơn khô nhanh, bám dính tốt,  
phẳng mịn, có độ cứng và độ bóng cao, giá  
thành phù hợp. Tuy nhiên, loại sơn này có  
nhược điểm là chịu ánh sáng tự nhiên kém nên  
màng sơn dễ bị biến màu, khả năng kháng ẩm  
và hóa chất không cao. Do đó, việc nghiên cứu  
giải pháp nâng cao chất lượng màng sơn PU  
trên bề mặt gỗ là rất cần thiết và có ý nghĩa.  
Titanium dioxide (TiO2).là một vật liệu bán  
dẫn vùng cấm rộng, màu trắng, từ lâu đã được  
ứng dụng trong nhiều ngành công nghiệp như:  
sơn, nhựa, giấy, mỹ phẩm, dược phẩm... Nó là  
vật liệu không độc hại, thân thiện với môi  
trường, có tính ổn định hóa học cao (Kim và  
cộng sự, 2005), có khả năng kháng khuẩn, diệt  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Vật liệu nghiên cứu  
Gỗ sử dụng cho nghiên cứu là Keo lai (Acacia  
auriculiformis x mangium) có = 0,58 g/cm3, độ  
tuổi 12 - 14 năm khai thác tại Hòa Bình;  
Sơn PU 2 thành phần (sơn lót, sơn bóng) và  
chất cứng PU của hãng Oseven; Dung môi  
Butyl axetate có độ tinh khiết 99,5%; Chất  
hoạt động bề mặt Linear alkyl benzen sunfonic  
acid (Las);  
Hạt nano Titanium dioxide (TiO2) kích thước  
40 nm mua tại Chiết Giang, Trung Quốc, có độ  
tinh khiết 98%, màu trắng, dạng bột mịn;  
102  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
Công nghiệp rừng  
Thiết bị sử dụng: Sử dụng thiết bị sóng siêu  
âm Ultrasonic Cleaner model PS-40 của Trung  
Quốc, thiết bị khuấy từ Hot & Magnetic Stirrer  
model MS-300HS của Hàn Quốc, thiết bị phun  
sơn tự động Cefla Mito K 01 gồm 4 súng phun;  
Địa điểm thí nghiệm: Viện Công nghiệp gỗ,  
Công ty TNHH công nghệ Delta Việt Nam; Công  
ty TNHH Xây dựng xuất nhập khẩu Hà Lâm.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
súng phun sơn lót, sơn màu, sơn bóng: 70  
m/phút; Tốc độ băng tải: 4,8 m/phút; Khoảng  
cách phun: 20 cm; Độ nhớt khi phun của sơn  
lót, sơn màu: 40 mPa.s, sơn bóng 37 mPa.s,  
hướng súng phun đi 2 chiều.  
Yếu tố thay đổi: Nồng độ nano TiO2 ở 5 mức:  
0,05%; 0,1%; 0,15%; 0,2%; 0,25%; Thời gian  
phân tán nano: 1 giờ; 2 giờ; 3 giờ; 4 giờ; 5 giờ.  
Trên cơ sở lý thuyết quy hoạch thực  
nghiệm, nhóm tác giả áp dụng kế hoạch trung  
tâm hợp thành trực giao với các yếu tố đầ đủ  
để xác định ảnh hưởng của 2 yếu tố áp suất và  
tốc độ phun đến một số chỉ tiêu chất lượng  
màng trang sức. Kế hoạch thực nghiệm bậc 2  
được thực hiện ở các mức: Mức trên (+1); mức  
dưới (-1); mức trung gian (0); các mức sao mở  
rộng (+), (-). Dó đó, ta có bảng thực nghiệm  
theo phần mềm xử lý OPT như ở bảng 1.  
Trong nghiên cứu nhóm tác giả đã tiến hành  
thí nghiệm đa yếu tố.  
Yếu tố cố định: Dung môi phân tán  
Butylacetate đã có chất hoạt động bề mặt LAS  
(tỷ lệ nano TiO2 và chất LAS là 1:2 tính theo  
khối lượng), tốc độ phân tán 400 - 600  
vòng/phút và phân tán ở nhiệt độ thường 25 ±  
2oC. Áp suất phun 0,2 MPa đối với sơn lót, sơn  
màu và 0,18 MPa đối với sơn bóng; Tốc độ  
Bảng 1. Ma trận quy hoạch thực nghiệm  
Dạng thực  
Dạng mã  
No  
X1  
-1  
+1  
-1  
+1  
-  
+  
0
X2  
-1  
-1  
+1  
+1  
0
Nồng độ nano TiO2 (C, %)  
Thời gian phân tán (, giờ)  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
0,1  
0,2  
0,1  
2
2
4
4
3
3
1
5
3
0,2  
0,05  
0,25  
0,15  
0,15  
0,15  
0
-  
+  
0
0
0
độ 200 - 300 vòng/phút trong 15 phút.  
Các bước công nghệ trang sức bề mặt gỗ  
bằng sơn PU và PU-TiO2:  
Các bước tiến hành thực nghiệm tạo  
mẫu nghiên cứu:  
Gỗ tròn Keo lai được tiến hành xẻ thanh (xẻ  
phá, xẻ lại), sấy đến độ ẩm 10 ± 2%, sau đó bào  
Bước 1: Xử lý bề mặt sản phẩm gỗ: Chà  
nhám bề mặt gỗ bằng loại giấy 120, 180,  
240, 320, sau đó làm sạch bụi gỗ và kiểm tra  
độ nhẵn, độ ẩm.  
bốn mặt và đánh nhẵn đạt 8 (Rmax ≤ 60 µm)  
có kích thước: dài x rộng x dày = 350 x 100 x  
18 mm, bề mặt phải sạch bụi.  
Tiến hành phân tán nano TiO2 vào dung môi  
Butyl acetate đã có chất hoạt động bề mặt LAS  
bằng thiết bị sóng siêu âm kết hợp với thiết bị  
khuấy từ với tốc độ 400 - 600 vòng/phút ở  
nhiệt độ thường (theo các chế độ ở bảng 1).  
Sau đó, bổ sung phần sơn bóng và chất cứng  
PU và khuấy đều bằng máy khuấy từ với tốc  
Bước 2: Sơn lót (2 lớp): Tỷ lệ pha sơn:  
Sơn lót (2) + Cứng (1) + Dung môi (2,5) (theo  
tỷ lệ khối lượng). Sau mỗi lần sơn lót cần sấy  
khô và chà nhám màng sơn.  
Bước 3: Sấy khô và chà nhám màng sơn lót:  
Các mẫu gỗ sau khi sơn lót xong để hong phơi  
tự nhiên trên các giá ở nhiệt độ thường T = 25  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
103  
Công nghiệp rừng  
2oC, độ ẩm không khí 65 5%. Sau khi khô  
hoàn toàn, tiến hành chà nhám bằng loại giấy  
nhám 400, sau đó làm sạch bụi và kiểm tra  
chất lượng.  
Bước 4: Sơn màu: Tỷ lệ pha sơn: Sơn lót (2)  
+ Cứng (1) + Dung môi (2,5) + tinh màu (theo  
tỷ lệ khối lượng); Độ nhớt phun: 40 mPa.s; Áp  
suất phun: 0,2 MPa;  
Bước 5: Sấy khô: Các mẫu gỗ sau khi sơn  
màu cũng để hong phơi tự nhiên trên giá ở  
nhiệt độ thường T = 25 2oC, độ ẩm không  
khí 65 5%.  
Bước 6: Sơn bóng: Sơn PU bóng đã phối trộn  
với nano TiO2. Tỷ lệ pha: Sơn bóng (2) + Cứng  
(1) + Dung môi (3) (theo tỷ lệ khối lượng);  
Bước 7: Sấy khô và kiểm tra chất lượng sản  
phẩm: Sấy màng sơn khô hoàn toàn, sau đó ổn  
định mẫu và cắt mẫu theo các tiêu chuẩn để  
kiểm tra chất lượng sản phẩm.  
sóng 350 nm; khoảng cách từ đèn tới bề mặt  
mẫu: 50 mm, thời gian chiếu tia UV: 960 giờ.  
Khả năng chống biến màu của mẫu gỗ đã sơn  
phủ được đánh giá bằng sự chênh lệch giữa các  
chỉ số màu sắc bề mặt của mẫu trước và sau  
khi chiếu tia UV ở các thời điểm 6 giờ, 12 giờ,  
24 giờ, 48 giờ, 72 giờ, 96 giờ, 144 giờ, 192  
giờ, 240 giờ, 312 giờ, 384 giờ, 456 giờ, 528  
giờ, 600 giờ, 672 giờ, 750 giờ, 816 giờ, 888  
giờ, 960 giờ. Các chỉ số L*, a*, b* được đo  
bằng máy đo màu sắc BYK của hãng sản xuất  
BYK-Gardner tại Đức, đo 3 điểm trên 1 mẫu  
để xác định giá trị trung bình, sau đó tính các  
chỉ số màu theo công thức:  
L* = L*UV - L*o  
a* = a*UV - a*o  
b* = b*UV- b*o  
(1)  
(2)  
(3)  
E  L *2 a *2 b *2  
(4)  
Trong đó: L*o - Độ sáng màu của mẫu trước  
khi chiếu UV, L*UV - Độ sáng màu của mẫu sau  
khi chiếu UV, a*o - Chỉ số a* của mẫu trước khi  
chiếu UV, a*UV - Chỉ số a* của mẫu sau khi  
chiếu UV, b*o - Chỉ số b* của mẫu trước khi  
chiếu UV, b*UV - Chỉ số b* của mẫu sau khi  
chiếu UV. Số liệu trong nghiên cứu được xử lý  
bằng phần mềm excel và phần mềm OPT.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Kết quả phổ UV-Vis của dung dịch sơn  
PU đối chứng và PU kết hợp với nano TiO2  
Kết quả phổ UV-Vis của dung dịch sơn PU  
đối chứng và PU phối hợp nano TiO2 được  
trình bày ở hình 1, 2.  
Tiêu chuẩn và phương pháp kiểm tra  
chất lượng màng trang sức trên sản phẩm gỗ:  
Đo độ hấp phụ tia UV của dung dịch sơn  
PU và PU phối trộn nano TiO2 được kiểm tra  
bằng máy quang phổ hấp thụ phân tử UV-Vis,  
Model UVS-2800, hãng Labomed-Mỹ, dải  
quét bước sóng từ 190 nm đến 900 nm và sử  
dụng Cuvet thạch anh để đo mẫu. Độ cứng của  
màng sơn được kiểm tra theo ASTMD 3363;  
Độ mài mòn của màng sơn theo EN  
1339:2000; độ bền hóa chất của màng sơn theo  
DIN 68861-1 (nhóm 1A).  
Khả năng chống biến màu của màng sơn  
kiểm tra bằng đèn UV công suất 40 W, bước  
Bước sóng (nm)  
Hình 1. Phổ hấp thụ UV-Vis của dung dịch sơn PU đối chứng  
104  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
Công nghiệp rừng  
Bước sóng (nm)  
Hình 2. Phổ hấp thụ UV-Vis của dung dịch sơn PU phối trộn nano TiO2 ở nồng độ 0,15%  
Qua kết quả ở hình 1, 2 cho thấy, độ hấp thụ  
tia cực tím của dung dịch sơn PU kết hợp với  
nano TiO2 ở nồng độ 0,15% rất mạnh so với  
dung dịch sơn PU đối chứng. Các hạt nano  
TiO2 khi hấp thụ tia cực tím đã tạo ra hiệu ứng  
che chắn tia UV cho lớp phủ polyme, do đó  
lớp phủ PU có nano có khả năng chống lại tác  
nhân gây lão hóa (tia UV) tốt hơn so với lớp  
phủ PU đối cứng (Thien Vuong Nguyen et al.,  
2016).  
3.2. Xác định sự tồn tại hạt nano TiO2 trong  
màng sơn PU trên bề mặt gỗ  
Kết quả phân tích cấu tạo hiển vi của màng  
sơn PU trước và sau khi phối trộn với vật liệu  
nano TiO2 được thể hiện từ hình 3 đến hình 12.  
Na no  
TiO2  
Hình 3. Ảnh SEM của màng sơn PU  
đối chứng (x4000)  
Hình 4. Ảnh SEM của màng sơn PU-TiO2 ở  
nồng độ 0,05% phân tán trong 3 giờ (x500)  
Na no  
TiO2  
Na no  
TiO2  
Hình 5. Ảnh SEM của màng sơn PU-TiO2 ở Hình 6. Ảnh SEM của màng sơn PU-TiO2 ở  
nồng độ 0,1% phân tán trong 3 giờ (x1000) nồng độ 0,15% phân tán trong 3 giờ (x500)  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
105  
Công nghiệp rừng  
Na no  
TiO2  
Na no  
TiO2  
Hình 7. Ảnh SEM của màng sơn PU-TiO2 ở  
nồng độ 0,15% phân tán trong 4 giờ (x1000)  
Hình 8. Ảnh SEM của màng sơn PU-TiO2 ở  
nồng độ 0,15% phân tán trong 5 giờ (x5.000)  
Na no  
TiO2  
Na no  
TiO2  
Hình 9. Ảnh SEM của màng sơn PU-TiO2 ở  
nồng độ 0,2% phân tán trong 3 giờ (x10.000)  
Hình 10. Ảnh SEM của màng sơn PU-TiO2 ở  
nồng độ 0,25% phân tán trong 3 giờ (x5000)  
Na no  
TiO2  
Na no  
TiO2  
Hình 11. Ảnh SEM của màng sơn PU-TiO2 ở  
nồng độ 0,15% phân tán trong 1 giờ (x500)  
Hình 12. Ảnh SEM của màng sơn PU-TiO2 ở  
nồng độ 0,15% phân tán trong 2 giờ (x30.000)  
Kích thước của các hạt nano rất nhỏ cho  
phép chúng xâm nhập vào những lỗ siêu nhỏ,  
các vùng mao dẫn trong mạng polyme (Thien  
Vuong Nguyen et al., 2016). Qua các hình ảnh  
SEM cho thấy, trang thái bề mặt của màng sơn  
PU đối chứng và màng PU-TiO2 trên bề mặt gỗ  
đều không có hiện tượng nứt, bong tróc. Điều  
này cho thấy, khi bổ sung vật liệu nano TiO2 ở  
các nồng độ và thời gian nghiên cứu vào trong  
sơn PU chưa ảnh hưởng rõ rệt đến mối liên kết  
tạo mạng của hệ polyme giữa các nhóm chức  
NCO (isocyanate) với OH (hydroxyl) của  
màng sơn. Mặt khác, màng sơn PU đối chứng  
(hình 3) trơn mịn, đồng nhất một màu đen, còn  
màng sơn PU-TiO2 ở các nồng độ 0,05%; 0,1%  
và 0,15% phân tán ở thời gian 3 giờ, 4 giờ, 5  
giờ cũng trơn mịn và có các hạt nano TiO2 màu  
trắng phân tán đều, không có sự kết tụ của hạt  
nano trong màng sơn PU (từ hình 4 đến hình  
8). Tuy nhiên, màng sơn PU-TiO2 ở nồng độ  
0,2% và 0,25% phân tán trong 3 giờ hoặc ở  
nồng độ 0,15% phân tán trong 1 giờ, 2 giờ vẫn  
còn có sự khác biệt lớn về màu sắc, cụ thể  
trong màng sơn vẫn xuất hiện các vệt màu  
106  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
Công nghiệp rừng  
cứng màng trang sức (công thức 5a và 5b).  
Phương trình dạng mã:  
trắng của vật liệu TiO2, điều này cho thấy các  
hạt nano TiO2 phân tán không đều, vẫn còn  
hiện tượng kết tụ thành từng đám trong màng  
sơn PU (từ hình 9 đến hình 12). Nguyên nhân  
dẫn đến hượng tượng này có thể là do thời gian  
phân tán chưa phù hợp.  
3.3. Ảnh hưởng đến độ cứng của màng  
trang sức  
Thông qua xử lý hồi quy bằng phần mềm OPT  
xây dựng được phương trình tương quan giữa  
nồng độ và thời gian phân tán nano TiO2 với độ  
2
Y = 2,575 + 5,011X1 – 0,083X1 + 0,075X2  
2
– 0,250X2X1 + 0,003X2  
Phương trình dạng thực:  
(5a)  
Y = -23,417 + 167,899C – 33,320C2 +  
0,733- 1,000C+ 0,00012  
(5b)  
Đồ thị quan hệ giữa nồng độ và thời gian  
phân tán nano TiO2 với độ cứng của màng  
trang sức được thể hiện ở hình 13.  
Hình 13. Biểu đồ quan hệ giữa nồng độ và thời gian phân tán nano TiO2 với độ cứng  
của màng trang sức  
Kết quả phân tích phương sai (Anova) độ  
cứng của màng trang sức ở các nồng độ và thời  
gian phân tán nano TiO2: F = 13,868; Fcrit =  
1,947348 (F > Fcrit), điều này chứng minh rằng  
độ cứng của màng trang sức giữa các nồng độ  
và thời gian phân tán nano TiO2 đã có sự sai  
khác và hệ số của phương trình đều có ý nghĩa.  
Qua biểu đồ ở hình 13 nhận thấy, độ cứng  
màng sơn PU-TiO2 cao hơn màng sơn PU đối  
chứng vì bản thân nano TiO2 là một ô xít kim  
loại nên có độ cứng cao. Khi thay đổi nồng độ  
và thời gian phân tán nano TiO2, độ cứng của  
màng sơn PU-TiO2 cũng được cải thiện, tăng  
từ 3,29 lên 4,09 H (tăng 11,55% đến 28,85%  
so với màng sơn PU đối chứng). Cụ thể là khi  
nồng độ và thời gian phân tán nano tăng thì độ  
cứng của màng trang sức tăng. Ngược lại, khi  
nồng độ và thời gian phân tán nano giảm, độ  
cứng của màng trang sức giảm. Tuy nhiên, độ  
cứng của màng sơn PU-TiO2 ở các chế độ  
(nồng độ 0,2% phân tán trong 2 giờ; nồng độ  
0,25% phân tán 3 giờ; nồng độ 0,15% phân tán  
1 giờ) không đều bởi khi nồng độ nano TiO2  
tăng lên, thời gian phân tán ngắn thì các hạt  
nano phân tán không đều trong màng sơn PU  
(theo kết quả chụp SEM từ hình 9 đến hình 12).  
3.4. Ảnh hưởng đến khả năng chịu mài mòn  
của màng trang sức  
Thông qua xử lý hồi quy bằng phần mềm  
OPT xây dựng được phương trình tương quan  
giữa nồng độ và thời gian phân tán nano TiO2  
với tỷ lệ khối lượng tổn thất do mài mòn của  
màng trang sức (công thức 6a và 6b).  
Phương trình dạng mã:  
Y = 0,217 – 1,003X1 + 1,972X1 – 0,012X2  
2
2
+ 0,117X2X1 – 0,001X2  
Phương trình dạng thực:  
(6a)  
Y = 26,168 - 288,915C + 788,879C2 -  
0,391+ 2,334C- 0,0012  
(6b)  
Đồ thị quan hệ giữa nồng độ và thời gian  
phân tán nano TiO2 với tỷ lệ khối lượng tổn  
thất do mài mòn của màng trang sức được thể  
hiện ở hình 14.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
107  
Công nghiệp rừng  
Hình 14. Biểu đồ quan hệ giữa nồng độ và thời gian phân tán nano TiO2 với tỷ lệ khối lượng tổn thất  
do mài mòn của màng trang sức  
Kết quả phân tích phương sai (Anova) tỷ lệ  
khối lượng tổn thất do mài mòn của màng  
trang sức ở các nồng độ và thời gian phân tán  
nano TiO2: F = 46,599; Fcrit = 1,947348 (F >  
Fcrit), điều này chứng minh rằng tỷ lệ khối  
lượng tổn thất do mài mòn của màng trang sức  
giữa các nồng độ và thời gian phân tán nano  
TiO2 đã có sự sai khác và hệ số của phương  
trình đều có ý nghĩa.  
Từ kết quả cho thấy, tỷ lệ tổn thất khối  
lượng do mài mòn của màng sơn PU-TiO2 thấp  
hơn so với màng sơn PU đối chứng (hình 14).  
Nguyên nhân do nano TiO2 là một ô xít kim  
loại có độ cứng tương đối cao nên khi cho  
nano TiO2 vào trong sơn đã cải thiện được độ  
mài mòn của màng sơn. Khi nồng độ và thời  
gian phân tán nano TiO2 thay đổi thì tỷ lệ tổn  
thất do mài mòn của màng sơn PU-TiO2 cũng  
giảm từ 0,1305% xuống 0,1057% (giảm  
23,90% xuống 6,05% so với màng sơn PU đối  
chứng). Tuy nhiên, tỷ lệ tổn thất khối lượng do  
mài mòn của màng sơn PU-TiO2 ở các chế độ  
(nồng độ 0,2% phân tán 2 giờ; nồng độ 0,25%  
phân tán 3 giờ; nồng độ 0,15% phân tán 1 giờ)  
không đều bởi khi nồng độ nano TiO2 tăng,  
thời gian phân tán ngắn thì các hạt nano phân  
tán không đều trong màng sơn PU (kết quả  
chụp SEM từ hình 9 đến hình 12).  
3.5. Ảnh hưởng đến độ bền hóa chất và nước  
Mối quan hệ giữa nồng độ và thời gian phân  
tán nano TiO2 với độ bền hóa chất và nước của  
màng trang sức được thể hiện ở hình 15.  
Hình 15. Biểu đồ quan hệ giữa nồng độ và thời gian phân tán nano TiO2 với độ bền hóa chất và nước  
108 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
Công nghiệp rừng  
Qua biểu đồ ở hình 15 cho thấy, màng sơn  
PU-TiO2 có khả năng kháng hoá chất và nước  
tốt hơn so với màng sơn PU đối chứng, thể  
hiện rõ nhất ở các nồng độ 0,15%; 0,2%;  
0,25% phân tán trong thời gian 3 giờ, 4 giờ, 5  
giờ đều đạt mức 5 tương ứng với màng sơn  
không bị thay đổi về màu sắc, độ bóng và cấu  
trúc bề mặt. Khi thay đổi nồng độ và thời gian  
phân tán nano TiO2, độ bền hoá chất và nước  
của màng sơn PU-TiO2 cũng được thay đổi  
đáng kể so với màng sơn đối chứng. Cụ thể là  
khả năng kháng dung dịch axít của màng sơn  
PU-TiO2 tăng từ mức 4,24 lên mức 5; Khả  
năng kháng dung dịch Natri clorua của màng  
sơn PU-TiO2 tăng từ mức 4,18 lên mức 5; Khả  
năng kháng dung dịch Amoniac của màng sơn  
PU-TiO2 tăng từ mức 4,26 lên mức 5; Khả  
năng kháng dung dịch Rượu etylic của màng  
sơn PU-TiO2 tăng từ mức 4,01 lên mức 5; Khả  
năng kháng dung dịch cà phê của màng sơn  
PU-TiO2 tăng từ mức 4,31 lên mức 5; Khả  
năng kháng dung dịch nước chè của màng sơn  
PU-TiO2 tăng từ mức 4,36 lên mức 5; Khả  
năng kháng dung dịch nước của màng sơn PU-  
TiO2 tăng từ mức 4,44 lên mức 5. Nguyên là  
do nano TiO2 là một chất trơ về mặt hóa học,  
không tan trong axít, bazơ, kỵ nước, có khả  
năng diệt khuẩn và tự làm sạch bề mặt. Điều  
này cũng tương đồng với kết quả nghiên cứu  
của Yixing Tang (2013), P A Charpentier và  
cộng sự (2012), Kim và cộng sự (2005).  
3.6. Ảnh hưởng đến khả năng chống tia UV  
của màng trang sức  
Thông qua xử lý hồi quy bằng phần mềm  
OPT xây dựng được phương trình tương quan  
giữa nồng độ và thời gian phân tán nano TiO2  
với khả năng chống tia UV của màng trang sức  
(công thức 7a và 7b).  
Phương trình dạng mã:  
Y = 17,161 – 44,428X1 + 65,833X1 -  
0,226X2 + 0,100X2X1 + 0,017X2 (7a)  
2
2
Phương trình dạng thực:  
Y = 34,342 – 184,288C + 263,332C2 -  
0,186+ 0,400C- 0,00072  
(7b)  
Đồ thị quan hệ giữa nồng độ và thời gian  
phân tán nano TiO2 với độ lệch màu ∆E của  
màng trang sức được thể hiện ở hình 16.  
Hình 16. Biểu đồ quan hệ giữa nồng độ và thời gian phân tán nano TiO2 với độ lệch màu  
Kết quả phân tích phương sai (Anova) độ  
lệch màu ∆E của màng trang sức ở các nồng độ  
và thời gian phân tán nano TiO2: F = 21,488;  
Fcrit = 1,947348 (F > Fcrit), điều này chứng  
minh rằng độ lệch màu của màng trang sức  
giữa các nồng độ và thời gian phân tán nano  
TiO2 đã có sự sai khác và hệ số của phương  
trình đều có ý nghĩa.  
PU-TiO2 có khả năng chống tia UV tốt hơn so  
với màng sơn PU đối chứng. Khi thay đổi nồng  
độ và thời gian phân tán nano TiO2, độ lệch  
màu của màng sơn PU-TiO2 cũng giảm từ  
14,85 xuống 9,62 (giảm 50,06% xuống 22,90%  
so với màng sơn PU đối chứng). Nguyên nhân  
dẫn đến màng sơn PU-TiO2 có khả năng chống  
tia UV tốt hơn so với màng sơn PU đối chứng  
vì bản thân hạt nano TiO2 có khả năng hấp thụ  
Qua biểu đồ ở hình 16 nhận thấy, màng sơn  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
109  
Công nghiệp rừng  
được tia cực tím. Sự hiện diện của các hạt nano  
TiO2 đã làm chậm sự hình thành các sản phẩm  
oxy hóa (OH, COOH) trong quá trình lão hóa.  
Do đó, các hạt nano TiO2 làm giảm sự xuống  
cấp của lớp phủ (Thien Vuong Nguyen et al.,  
2016).  
Yêu cầu đối với các hàm mục tiêu: Độ cứng  
của màng trang sức (Y1) lớn nhất; Khả năng  
chịu mài mòn của màng trang sức (Y2) lớn  
nhất (Tỷ lệ tổn thất khối lượng do mài mòn  
nhỏ nhất); Khả năng chống tia UV của màng  
trang sức (Y3) tốt nhất (Độ lệch màu nhỏ nhất).  
Từ điều kiện của các hàm mục tiêu ở trên ta  
có mô hình bài toán tối ưu như sau:  
3.7. Xác định giá trị phù hợp của nồng độ và  
thời gian phân tán nano TiO2  
Y1 = -23,417 + 167,899C – 33,320C2 + 0,733- 1,000C+ 0,00012 Max  
Y2 = 26,166 - 288,915C + 788,879C2 - 0,391+ 2,334C- 0,0012 Min  
Y3 = 34,342 – 184,288C + 263,332C2 - 0,186+ 0,400C- 0,00072 Min  
0,05 C 0,25; 1    5  
Sau khi giải hệ phương trình trên, ta thu  
được kết quả là: C = 0,158; = 3,651. Vậy giá  
trị nồng độ và thời gian phân tán nano TiO2  
phù hợp với điều kiện thí nghiệm: C = 0,158%;  
= 3,651 giờ.  
Một số chỉ tiêu chất lượng màng trang sức  
trên bề mặt gỗ đạt được như sau: Độ cứng của  
màng trang sức là: Y1 = 3,6 H; Tỷ lệ tổn thất  
khối lượng do mài mòn là: Y2 = 0,1157%; Độ  
lệch màu của màng trang sức là: Y3 = 11,42.  
3.8. Khảo nghiệm với các giá trị tối ưu C và  
tìm được  
Tiến hành phân tán nano TiO2 vào sơn PU  
bóng và sơn phủ lên bề mặt gỗ theo các thông  
số sau: Nồng độ nano TiO2: C = 0,158%; Thời  
gian phân tán: = 3,651 giờ; Áp suất phun: P =  
0,18 Mpa; Tốc độ phun: T = 70 m/phút. Sau khi  
sơn phủ cho các mẫu gỗ, tiến hành kiểm tra các  
chỉ tiêu chất lượng trang sức cho các mẫu gỗ.  
Kết quả kiểm tra được trình bày ở bảng 5, 6.  
Bảng 5. Kết quả chất lượng màng trang sức trên bề mặt gỗ với thông số C và thích hợp  
Chỉ tiêu chất lượng  
Mẫu  
Tỷ lệ tổn thất do mài Độ lệch màu sau khi  
Độ cứng, H  
mòn, %  
0,1401  
0,1158  
17,34%  
chiếu tia UV  
19,27  
Màng sơn PU đối chứng  
Màng sơn PU kết hợp với nano TiO2  
Mức độ cải thiện  
2,80  
3,53  
20,68%  
11,54  
40,11%  
Bảng 6. So sánh giữa giá trị tính toán được và giá trị thực nghiệm của chất lượng màng trang sức  
Chỉ tiêu chất lượng  
Tỷ lệ tổn thất do mài mòn, % Độ lệch màu sau khi chiếu tia UV  
Giá trị  
Độ cứng, H  
3,60  
Lý thuyết  
Thực nhiệm  
0,1157  
0,1158  
11,42  
11,54  
3,53  
Qua kết quả ở bảng 5 cho thấy, khi thực  
nghiệm với các thông số thích hợp đã tìm được  
thì các chỉ tiêu chất lượng màng sơn PU phối  
hợp nano TiO2 có sự thay đổi rõ rệt so với  
màng sơn PU đối chứng. Mặt khác, khi so sánh  
giá trị tính toán được và giá trị thực nghiệm  
của các chỉ tiêu chất lượng: độ cứng, tỷ lệ tổn  
thất khối lượng do mài mòn và độ lệch màu  
sau khi chiếu tia UV có sự sai lệch không đáng  
kể (Bảng 6). Như vậy, giá trị tối ưu có thể chấp  
nhận được.  
3.9. Cấu trúc hoá học của màng trang sức  
phân tích bằng phổ hồng ngoại  
Kết quả phân tích phổ hồng ngoại của  
màng sơn PU đối chứng và màng sơn PU-TiO2  
ở điều kiện (C = 0,158%; τ = 3,651 giờ) được  
thể hiện ở hình 18, 19. Căn cứ vào dữ liệu thu  
được từ máy phân tích quang phổ hồng ngoại  
và các tài liệu tham khảo (Kim và cộng sự,  
2005) để phân tích xác định thuộc tính các  
đỉnh (peak) trên phổ của các mẫu màng sơn đối  
chứng và màng sơn có nano.  
110  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
Công nghiệp rừng  
Bảng 7. Thuộc tính phổ IR của màng sơn PU và PU kết hợp với nano TiO2  
Số sóng (cm-1)  
Sơn đối chứng  
Nhóm chức tương ứng  
Sơn có nano  
3325,61  
2926,51  
1733,22  
1537,61  
1121,08  
741,22  
3342,52  
2926,60  
1735,81  
1537,64  
1120,75  
741,13  
OH  
CH2  
C=O  
C=NH  
C-O-  
C6H5  
Qua kết quả phân tích phổ hồng ngoại ở  
bảng 7 và hình 17, 18 cho thấy, cường độ hấp  
thụ hồng ngoại đặc trưng cho các nhóm chức  
cấu trúc hóa học trong màng sơn PU phối trộn  
nano TiO2 chưa có sự thay đổi đáng kể so với  
màng sơn PU đối chứng. Như vậy, khi cho vật  
liệu nano TiO2 vào sơn PU ở nồng độ nghiên  
cứu chưa ảnh hưởng rõ nét đến các thành phần  
của sơn PU, hay nói cách khác, giữa vật liệu  
nano TiO2 ở nồng độ nghiên cứu và các thành  
phần của sơn PU chưa xảy ra phản ứng hoá học.  
Hình 17. Phổ hồng ngoại của màng sơn PU đối chứng  
Hình 18. Phổ hồng ngoại của màng sơn PU - TiO2 ở điều kiện (C = 0,158%; τ = 3,651 giờ)  
rất mạnh so với dung dịch sơn PU đối chứng.  
Trang thái bề mặt của màng sơn PU đối  
chứng và màng PU-TiO2 trên bề mặt gỗ đều  
4. KẾT LUẬN  
Độ hấp thụ tia cực tím của dung dịch sơn  
PU có phối trộn nano TiO2 ở nồng độ 0,15%  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
111  
Công nghiệp rừng  
property, thermal stability, weathering resistance and  
antibacterial property of styrene acrylic polyurethane  
coating. Institute for Tropical Technology, Vietnam  
Academy of Science and Technology, Hanoi, Vietnam.  
Adv. Nat. Sci: Nanosci. Nanotechnol. 7 045015;  
không có hiện tượng nứt, bong tróc. Tuy nhiên,  
màng sơn PU-TiO2 ở nồng độ 0,2% và 0,25%  
phân tán trong 3 giờ hoặc ở nồng độ 0,15%  
phân tán trong 1 giờ, 2 giờ vẫn có sự khác biệt  
lớn về màu sắc.  
2. Kim, T. K., Lee, M. N., Lee, S. H., Park, Y. C.,  
Development of  
Jung, C. K., and Boo, J. H. (2005).  
surface coating technology of TiO2 powder and  
improvement of  
Khi phân tán nano TiO2 vào trong sơn PU ở  
các nồng độ và thời gian nghiên cứu thì chất  
lượng màng sơn PU-TiO2 trên bề mặt gỗ đã  
được cải thiện đáng kể so với màng sơn PU đối  
chứng: độ cứng của màng sơn PU-TiO2 tăng từ  
3,29 lên 4,09 H; tỷ lệ tổn thất do mài mòn của  
màng sơn PU-TiO2 giảm từ 0,1305% xuống  
0,1057%; độ bền hoá chất và nước của màng  
sơn PU-TiO2 tăng từ mức 4,01 đến mức 5; độ  
lệch màu ∆E giảm từ 14,85 xuống 9,62.  
photocatalytic activity by surface  
modification. Thin Solid Films 475(1-2), 171-177.  
3. P A Charpentier, K Burgess, L Wang, R R  
Chowdhury, A F Lotus and G Moula (2012). Nano-  
TiO2/polyurethane composites for antibacterial and self-  
cleaning coatings, Department of Chemical and  
Biochemical Engineering, University of Western  
Ontario, London, ON, N6A 5B9, Canada, pp: 1-9.  
4. Mirela Vlad, Bernard Riedl, Ing. Pierre Blanchet,  
Anti-UV  
waterborne  
nanocomposite  
Anti-UV  
waterborne nanocomposite coatings for exterior wood  
(2009). International Conference on Nanotechnology for  
the Forest Products Industry June 23-26, Edmonton,  
Alberta, pp: 1-21.  
5. Yixing Tang (2013). Self-cleaning Polyurethane  
and Polyester Coatings, The School of Graduate and  
Postdoctoral Studies, The University of Western Ontario  
London, Ontario, Canada, pp: 1-69.  
Bài báo đã xác định được giá trị nồng độ và  
thời gian phân tán nano TiO2 phù hợp với điều  
kiện thí nghiệm là: C = 0,158%; = 3,651 giờ.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Thien Vuong Nguyen, Tuan Anh Nguyen, Phi  
Hung Dao, Van Phuc Mac, Anh Hiep Nguyen, Minh  
Thanh Do and The Huu Nguyen (2016). Effect of rutile  
titania dioxide nanoparticles on the mechanical  
EFFECT OF SOME TECHNOLOGICAL FACTORS DISPERSION  
TITANDIOXID (TiO2) NANO TO THE QUALITY OF THE COATING FILM  
ON WOOD PRODUCTS  
Pham Thi Anh Hong1, Cao Quoc An2  
1,2Vietnam National University of Forestry  
SUMMARY  
The article presents results of studies on the effect of concentration and dispersion time of TiO2 nano to the  
quality of the coating film on wood surface. TiO2 nano particles were dispersed in Butyl acetate solvent which  
has LAS surfactant at the concentrations of 0.05%; 0.1%; 0.15%; 0.2%; 0.25% in 1 hour, 2 hours, 3 hours, 4  
hours, 5 hours respectively by ultrasound waves and magnetic stirrers, these solvent was then added gloss PU  
coating, PU hardness and stirred with 200 - 300 rpm for 15 minutes. This coating solution was sprayed on the  
wood surface samples. The results show that, the ultraviolet absorption of PU coating solution mixed with TiO2  
nano was very strong compared to the controlled PU solution. The quality of the PU-TiO2 coating film has been  
improved more significantly than the controlled PU coating film: The surface hardness increased from 3.29 to  
4.09 H; mass loss rate due to abrasion decreased from 0.1305% to 0.1057%; chemical and water resistance  
increased from 4.01 to 5; the color deviation ΔE also decreased from 14.85 to 9.62. No cracking or peeling of  
PU-TiO2 coating film on wood surface; simultaneously there is not significantly changed about characteristic  
infrared absorption intensity for chemical structure groups in PU coating film mixed with nano TiO2. So, to  
ensure the quality of the surface finishing of wood products and bring about economic efficiency, TiO2 nano  
particles should be appropriately used at the concentration of 0.158% and in 3.651 hours of dispersion.  
Keywords: Coating film, dispersion, solvent, TiO2 nano, wood products.  
Ngày nhận bài  
: 14/8/2018  
: 23/01/2019  
: 31/01/2019  
Ngày phản biện  
Ngày quyết định đăng  
112  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
pdf 11 trang yennguyen 248700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ phân tán nano Titandioxid (TiO₂) đến chất lượng màng trang sức trên sản phẩm gỗ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_mot_so_yeu_to_cong_nghe_phan_tan_nano_titandio.pdf