Báo cáo Thực tập giáo trình Cần Giờ - Đại học Nông Lâm – Vườn Quốc gia Cát Tiên – Đà Lạt

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ  
-------------------------  
BÁO CÁO THỰC TẬP GIÁO TRÌNH  
Cần Giờ - ĐH Nông Lâm – VQG Cát Tiên – Đà Lạt  
CHUYÊN NGÀNH LÂM SINH  
Mã ngành: D620205  
SINH VIÊN THỰC HIỆN  
NGUYỄN VĂN HIỂU  
MSSV: B1311054  
Lớp Lâm Sinh Khóa 39  
Cần Thơ – 2016  
i
 
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Tiếng Anh  
Tiếng Việt  
Ban quản lí  
BQL  
Rừng ngập mặn  
Vườn quốc gia  
Đại học Cần Thơ  
RNM  
VQG  
ĐHCT  
DANH SÁCH HÌNH  
Hình  
1
2
3
Tựa hình  
Trang  
7
10  
Bản đồ Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ  
Tập thể cán bộ giảng viên Khoa Lâm Nghiệp  
Một góc Vườn hoa Đà Lạt  
13  
4, 5  
Để di chuyển được tới Cần Giờ, đoàn phải qua Phà Bình  
Khánh.  
13  
6, 7  
Đoàn thực tập tham quan khu rừng đước rừng ngập mặn Cần  
Giờ  
14  
8, 9, 10 Nuôi hàu – Mô hình sinh kế bền vững tại RNM Cần Giờ Mô  
14  
15  
15  
16  
18  
11  
12  
13  
14  
Khỉ tại Cần Giờ  
Mô hình làm muối và nuôi hàu tại Cần Giờ  
Sam và So biển  
Thầy Nam chia sẽ công trình nghiên cứu của mình tại hội  
trường khoa Lâm nghiệp.  
15  
16  
Cán bộ VQG giới thiệu sơ nét về VQG Cát Tiên và một số lưu  
ý cho sinh viên khi đi vào rừng tham quan  
Dây đỏ buộc lên trên các cành cây nhằm đánh dấu hương đi  
cho đoàn tham quan  
18  
19  
17  
18  
19  
20, 21  
22  
Gốc cây Tung  
Thác Bến Cự  
Khu trồng xương rồng tuyệt đẹp  
HST rừng thông và sinh cảnh Đà lạt nhìn từ trên cao  
Hồ Đa Thiện  
19  
19  
21  
21  
23  
ii  
   
LỜI CÁM ƠN  
Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường đại học Cần Thơ, ngoài sự nỗ lực phấn  
đấu của bản thân còn nhận được sự quan tâm dạy dỗ và nhiệt tình hỗ trợ từ quý thầy cô,  
gia đình và bạn bè.  
Lời đầu tiên, Tôi xin chân thành cám ơn đến:  
Quý thầy cô giảng dạy, đặc biệt là quý thầy cô trong Bộ môn Tài nguyên đất đai đã truyền  
đạt cho em những kiến thức quý báu, chia sẽ kinh nghiệm trong thực tế và nhiệt tình giúp  
đỡ em trong suốt quá trình học tập.  
Xin Cám ơn Thầy Lê Tấn Lợi đã cùng tham gia đoàn và chia sẽ những kiến thức hữu ích  
cho đoàn. Thầy Võ Quốc Tuấn đã hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện vạch kế hoạch và  
lên lịch trình cho chuyến thực tập.  
Xin cám ơn Quý thầy tại Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, các bộ tại BQL rừng phòng  
hộ Cần Giờ, VQG Nam Cát Tiên đã hỗ trợ hướng dẫn tận tình cho đoàn.  
Cám ơn các bạn trong lớp Lâm sinh khóa 39 đã hỗ trợ, động viên tôi trong suốt quá trình  
thực tập.  
Cảm ơn gia đình đã quan tâm, chăm sóc, tạo nguồn động lực để con vượt qua những khó  
khăn và phấn đấu trong học tập, cùng con chia sẽ những niềm vui và nỗi buồn trong cuộc  
sống, là chỗ dựa vững chắc để con tự tin bước đi trên con đường học tập.  
Xin chân thành cám ơn !  
iii  
 
PHẦN MỞ ĐẦU  
I. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA  
Thực tập giáo trình là giai đoạn thực tập trong một khoảng thời gian nhất định, áp dụng  
cho sinh viên năm cuối ngành Lâm sinh, Đại học Cần Thơ.  
Thực tập giáo trình sẽ cung cấp cho sinh viên những kiến thức thực tế được áp dụng vào  
thực tiễn lâm sinh… là nền tảng vững chắc cho việc làm tốt nghiệp và định hướng việc  
làm sau này.  
Học phần thực tập nghề nghiệp được tính 2 tín chỉ bắt buột trong chương trình đào tạo  
ngành Lâm sinh  
II.  
NỘI DUNG TIẾN HÀNH THỰC TẬP  
1. Thời gian thực tập giáo trình: Từ ngày 19/07/2016 đến ngày 23/07/2016  
2. Thành viên đoàn thực tập  
- Thầy cô dẫn đoàn:  
+ PGS. TS Lê Tấn Lợi – Trưởng đoàn  
+ TS. Võ Quốc Tuấn  
+ Ths. Lý Hằng Ny  
+ KS. Lý Trung Nguyên  
+ KS. Phan Nhựt Trường  
- Cùng 67 Sinh viên ngành Lâm sinh khóa 39, Đại học Cần Thơ.  
3. Địa điểm thực tập giáo trình  
- Địa điểm 1: Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ  
- Địa điểm 2: Khoa Lâm nghiệp, Đại học Nông Lâm – TP. Hồ Chí Minh  
- Địa điểm 3: VQG Cát Tiên  
- Địa điểm 4: Vườn hoa Đà Lạt  
- Địa điểm 5: Thác Datanla  
- Địa điểm 6: Thung lũng tình yêu  
- Địa điểm 7: Thiền viện Trúc Lâm – Đà Lạt  
- Địa điểm 8: Cty CP Rừng hoa Đà Lạt  
iv  
         
MỤC LỤC  
v
PHẦN NỘI DUNG  
I.  
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN MỘT SỐ ĐỊA ĐIỂM THỰC TẬP  
1. Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ  
Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ còn gọi là Rừng Sác là một quần thể gồm các loài  
động, thực vật rừng trên cạn và thuỷ sinh, được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của  
các cửa sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ. UNESCO đã công nhận đây là khu  
dự trữ sinh quyển thế giới với hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của vùng ngập  
mặn. Nơi đây được công nhận là một khu du lịch trọng điểm quốc gia Việt Nam  
1.1. Vị trí địa lý  
Khu dự trữ sinh quyển rừng mặn Cần Giờ được hình thành ở hạ lưu hệ thống sông Đồng  
Nai – sông Sài Gòn nằm ở cửa ngõ Đông Nam Thành phố Hồ Chí Minh.  
Tọa độ: 10°22’ – 10°40’ độ vĩ Bắc và 106°46’ – 107°01’ kinh độ Đông.  
6
   
Hình 1: Bản đồ Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ  
(Ảnh: http://cangio.vietbiodata.net)  
Cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 40 km, khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ  
giáp tỉnh Đồng Nai ở phía Bắc, giáp biển Đông ở phía Nam, giáp tỉnh Tiền Giang và Long  
An ở phía Tây, và giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ở phía Đông. Tổng diện tích khu dự trữ sinh  
quyển rừng ngập mặn Cần Giờ là 75.740 ha, trong đó: vùng lõi 4.721 ha, vùng đệm 41.139  
ha, và vùng chuyển tiếp 29.880 ha. Đây là khu rừng ngập mặn với một quần thể động thực  
vật đa dạng, trong số đó nổi bật là đàn khỉ đuôi dài (Macaca fascicularis) cùng nhiều loài  
chim, cò.  
7
1.2. Hình thành  
Trước chiến tranh, Cần Giờ là khu rừng ngập mặn với quần thể động thực vật phong phú.  
Nhưng trong chiến tranh bom đạn và chất độc hóa học đã làm nơi đây trở thành "vùng đất  
chết". Năm 1978, Cần Giờ được sáp nhập về Thành phố Hồ Chí Minh, và năm 1979 UBND  
thành phố Hồ Chí Minh phát động chiến dịch trồng lại rừng Cần Giờ, thành lập Lâm trường  
Duyên Hải (đóng tại Cần Giờ, thuộc Ty Lâm nghiệp) với nhiệm vụ khôi phục lại hệ sinh  
thái ngập mặn[3]. Diện tích rừng đã phủ xanh hơn 31 nghìn héc-ta, trong đó có gần 20  
nghìn héc-ta rừng trồng, hơn 11 nghìn héc-ta được khoanh nuôi tái sinh tự nhiên và các loại  
rừng khác.  
Ngày 21/ 01/ 2000, khu rừng này đã được Chương trình Con người và Sinh Quyển - MAB  
của UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam nằm trong mạng  
lưới các khu dự trữ sinh quyển của thế giới.  
Sự khôi phục và phát triển cũng như bảo vệ của khu rừng này ghi nhận sự đóng góp rất lớn  
của lực lượng thanh niên xung phong thành phố Hồ Chi Minh và nhân dân Cần Giờ. Hiện  
khu rừng đã được giao cho chính người dân nơi đây chăm sóc và quản lý.  
1.3. Hệ sinh thái  
Rừng ngập mặn Cần Giờ có điều kiện môi trường rất đặc biệt, là hệ sinh thái trung gian  
giữa hệ sinh thái thủy vực với hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái  
nước mặn. Rừng Cần Giờ nhận một lượng lớn phù sa từ sông Đồng Nai, cùng với ảnh  
hưởng của biển kế cận và các đợt thủy triều mà hệ thực vật nơi đây rất phong phú với trên  
150 loài thực vật, trở thành nguồn cung cấp thức ăn và nơi trú ngụ cho rất nhiều loài thủy  
sinh, cá và các động vật có xương sống khác.  
Về thực vật: nhiều loại cây, chủ yếu là bần trắng, mấm trắng, các quần hợp đước đôi - bần  
trắng cùng xu ổi, trang, đưng v.v… và các loại nước lợ như bần chua, ô rô, dừa lá, ráng,  
v.v… Thảm cỏ biển với các loài ưu thế Halophyla sp., Halodule sp., và Thalassia sp.; đất  
canh tác nông nghiệp với lúa, khoai mỡ, các loại đậu, dừa, các loại cây ăn quả. Khảo sát  
của Phạm Văn Ngọt và cộng sự (2007) ghi nhận rừng ngập mặn Cần Giờ có 220 loài thực  
vật bậc cao với 155 chi, thuộc 60 họ; trong đó, các họ có nhiều loài nhất gồm: họ Cúc  
(Asteraceae) 8 loài, họ thầu dầu (Euphorbiaceae) 9 loài, họ Đước (Rhizophoraceae) 13 loài,  
họ Cói (Cyperaceae) 20 loài, họ Hòa thảo (Poaceae) 20 loài, họ Đậu (Fabaceae) 29 loài.[6]  
Về động vật: khu hệ động vật thủy sinh không xương sống với trên 700 loài, khu hệ cá  
trên 130 loài, khu hệ động vật có xương sống có 9 loài lưỡng thê, 31 loài bò sát, 4 loài có  
vú. Trong đó có 11 loài bò sát có tên trong sách đỏ Việt Nam như: tắc kè (gekko gekko),  
kỳ đà nước (varanus salvator), trăn đất (python molurus), trăn gấm (python reticulatus), rắn  
cạp nong (bungarus fasciatus), rắn hổ mang (naja naja), rắn hổ chúa (ophiophagus hannah),  
vích (chelonia mydas), cá sấu hoa cà (crocodylus porosus)… Khu hệ chim có khoảng 130  
loài thuộc 47 họ, 17 bộ. Trong đó có 51 loài chim nước và 79 loài không phải chim nước  
sống trong nhiều sinh cảnh khác nhau.  
Đây là một khu rừng mà theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài là được khôi phục,  
chăm sóc, bảo vệ thuộc loại tốt nhất ở Việt Nam và toàn thế giới. Đây cũng là địa điểm lý  
tưởng phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái.  
8
Rừng ngập mặn Cần Giờ đã trở thành "lá phổi" đồng thời là "quả thận" có chức năng làm  
sạch không khí và nước thải từ các thành phố công nghiệp trong thượng nguồn sông Ðồng  
Nai - Sài Gòn đổ ra biển Ðông.  
1.4. Di tích lịch sử  
Từ năm 1966 đến 30-4-1975, bộ đội đặc công Rừng Sác đã đánh gần 400 trận lớn nhỏ, loại  
khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 lính Mỹ và chư hầu; đánh chìm và cháy 356 tàu, thuyền  
chiến đấu, đánh đắm 13 tàu vận tải, bắn cháy 145 giang thuyền; bắn rơi 29 máy bay trực  
thăng. Trong tổng số hơn 1.000 chiến sĩ thì có đến 860 đã hy sinh (trong đó 767 người hy  
sinh từ năm 1966 tới 1975, trong đó có 542 chiến sĩ đến nay vẫn chưa tìm thấy xác. Ngày  
23/9/1973, Đoàn 10 - Trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác được phong tặng danh hiệu Anh  
hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.  
Ngày nay, rừng Sác có một tưởng niệm bộ đội đặc công Rừng Sác được coi là di tích lịch  
sử cấp quốc gia.  
1.5. Du lịch  
Từ một vùng đất nghèo, Cần Giờ đã đổi thay khi được Thành phố Hồ Chí Minh quy hoạch  
và phát triển thành khu du lịch sinh thái. Năm 2000, khu du lịch sinh thái Vàm Sát nằm  
trong vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ được thành lập, tháng 2/2003 đã được  
chức du lịch thế giới cũng công nhận khu du lịch Vàm Sát là một trong hai khu du lịch sinh  
thái phát triển bền vững của thế giới ở nước ta. Ở đây có nhiều hoạt động du lịch thú vị như  
tham quan đầm dơi, đi thuyền trên sông, thăm sân chim với rất nhiều loài chim sinh sông,  
tiếp xúc với đàn khỉ hoang dã, tìm hiểu về hệ thực vật - động vật nơi đây.  
Tiếp giáp về phía Nam của rừng Cần Giờ là biển Đông. Biển Đông trong xanh, bờ cát mịn,  
với không khí thoáng mát với một khu sinh thái, đang được xây dựng trở thành khu du lịch  
hiện đại.  
2. Khoa Lâm nghiệp – Đại học Nông lâm TP. Hồ Chí Minh  
Khoa Lâm Nghiệp được thành lập năm 1955 thuộc trường Đại học Nông Lâm Súc. Năm  
1985, Khoa Lâm Nghiệp, trường Ðại Học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh ngày nay được sát  
nhập từ 3 Khoa: Khoa Lâm Nghiệp của trường Ðại học Nông nghiệp 4, khoa Lâm Học và  
khoa Công Nghiệp Rừng của trường Cao Ðẳng Lâm Nghiệp Ðồng Nai. Hiện nay khoa có  
2 ngành bậc đại học: ngành Lâm Nghiệp và ngành Chế biến Lân sản với 6 bộ môn chuyên  
ngành và đào tạo 2 ngành bậc sau đại học: Lâm Sinh và Công nghệ chế biến lâm sản,  
trong đó đào tạo tiến sĩ ngành Kỹ thuật Lâm sinh. Khoa Lâm Nghiệp đã đào tạo nhiều kỹ  
sư và thạc sĩ, tiến sĩ ngành Lâm Nghiệp và Chế biến lâm sản ở các tỉnh phía Nam. Các kỹ  
sư và thạc sĩ, tiến sĩ được đào tạo tại Khoa hiện đang giữ các trọng trách ở các Sở, ban  
ngành, Trường, Viện và các doanh nghiệp. Uy tín về đào tạo của Khoa Lâm Nghiệp đã  
được các cơ sở công nhận, hầu hết sinh viên tốt nghiệp đều nhận được việc làm phù hợp  
với ngành học.  
Ban Chủ Nhiệm Khoa:  
Trưởng Khoa: PGS. TS. Phạm Ngọc Nam  
Phó Trưởng Khoa: ThS. Hoàng Văn Hòa  
Phó Trưởng Khoa: TS. La Vĩnh Hải Hà  
9
 
Bộ môn trực thuộc:  
Nhân sự: Khoa có 44 cán bộ và công nhân viên, trong đó: có 04 Phó giáo sư Tiến sĩ, 07  
tiến sĩ, 28 thạc sĩ và 07 kỹ sư, cử nhân.  
Chương trình đào tạo: ngành Lâm nghiệp và ngành Chế biến Lâm sản.  
Trong đó, ngành Lâm nghiệp gồm 3 chuyên ngành là:  
1. Lâm nghiệp (Lâm sinh)  
2. Quản lý tài nguyên rừng  
3. Nông Lâm kết hợp  
Ngành Công nghệ Chế biến Lâm sản gồm 3 chuyên ngành:  
1. Chế biến Lâm sản  
2. Công nghệ Giấy và Bột giấy  
3. Thiết kế Đồ gỗ Nội thất.  
Hình 2: Tập thể cán bộ giảng viên Khoa Lâm Nghiệp 2015 (Ảnh: Khoa Lâm nghiệp)  
3. Vườn Quốc gia Cát Tiên  
Vườn quốc gia Cát Tiên là một khu bảo tồn thiên nhiên nằm trên địa bàn 5 huyện Tân Phú,  
Vĩnh Cửu (Đồng Nai), Cát Tiên, Bảo Lộc (Lâm Đồng) và Bù Đăng (Bình Phước), cách  
Thành phố Hồ Chí Minh 150 km về phía bắc. Đặc trưng của vườn quốc gia này là rừng  
đất thấp ẩm ướt nhiệt đới. Được thành lập theo quyết định số 01/CT ngày 13 tháng 1 năm  
10  
 
1992 của Thủ tướng chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trên cơ sở kết nối  
khu rừng cấm Nam Cát Tiên (được thành lập theo quyết định số 360/TTg, ngày 7 tháng 7  
năm 1978 của Thủ tướng chính phủ) và khu bảo tồn thiên nhiên Tây Cát Tiên (được thành  
lập theo quyết định số 194/CT, ngày 9 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ  
trưởng).  
3.1. Vị trí  
Vườn quốc gia Cát Tiên nằm ở khu vực có toạ độ từ 11°20′50" tới 11°50′20" vĩ bắc, và từ  
107°09′05" tới 107°35′20" kinh đông, trên địa bàn của ba tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai và  
Bình Phước với tổng diện tích là 71.920 ha. Hiện nay, VQG Cát Tiên là một trong những  
khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam.  
3.2. Các hợp phần  
Phần nằm trên địa bàn Cát Tiên và Bảo Lộc thường được gọi là khu vực Cát Lộc. Khu vực  
này dành để bảo tồn loài tê giác. Phần trên địa bàn Tân Phú và Vĩnh Cửu thường được gọi  
là khu vực Nam Cát Tiên. Khu vực này có khoảng chục vùng đất ngập nước như Bàu Sấu  
(rộng 5-7 hecta thuộc huyện Tân Phú), Bàu Chim (50-100 hecta), Bàu Cá, Bàu Đắc Lớ,  
Trảng Cò,... Bàu Sấu còn là tên gọi chung cho toàn bộ các vùng đất ngập nước rộng khoảng  
137,60 km² (trong đó 1,5 km² ngập nước thường xuyên, 53,6 km² ngập nước theo mùa, và  
phần còn lại có độ cao tuyệt đối không quá 125 m) ở Nam Cát Tiên. Phần trên địa bàn Bù  
Đăng thường được gọi là Tây Cát Tiên.  
3.3. Lịch sử  
Năm 1978, Vườn quốc gia này được bảo tồn và được chia thành 2 khu vực: Nam Cát Tiên  
và Tây Cát Tiên. Khu vực Cát Lộc phía bắc Cát Tiên cũng được bảo tồn do ở đây có loài  
tê giác Java sinh sống. Chính nhờ loài tê giác đã làm khu bảo tồn này được cộng đồng thế  
giới quan tâm. Tuy nhiên, ngày 25 tháng 10 năm 2011, Quỹ quốc tế Bảo vệ thiên nhiên và  
Quỹ Bảo tồn Tê giác Quốc tế công bố loài tê giác Java đã chính thức tuyệt chủng tại Việt  
Nam. Một cuốn hút khác của rừng Cát Tiên là sự tồn tại của đàn bò tót khổng lồ nặng trên  
hàng tạ, với số lượng khoảng 70-80 con, hiện cũng đang có nguy cơ tuyệt chủng cao do bị  
săn bắn trộm và mất chỗ ở vì rừng bị chặt phá. Năm 1998, ba khu này được sáp nhập thành  
vườn quốc gia. Thử nghiệm đa dạng sinh học gần đây nhất (2004) là việc thả 38 con cá  
sấu gốc Thái Lan vào hồ Bầu Sấu ở giữa rừng. Phát hiện khảo cổ trong khu vực giữa rừng  
này đang đặt ra dấu hỏi có một nền văn minh cổ đã tồn tại ở đây.  
Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, khu vực này bị chất độc da cam của quân đội Hoa  
Kỳ hủy hoại nặng nề. Những khu vực bị rải chất độc da cam ngày nay chỉ có các loại tre,  
cỏ mọc, không có các loại cây lớn, cụ thể cho thấy số lượng thú rừng trước và sau chiến  
tranh giảm đáng kể.[cần dẫn nguồn] Ngoài ra, các dân tộc sinh sống quanh rừng đã đốt,  
phá rừng để làm nương rẫy gây ảnh hưởng không nhỏ đến rừng.  
3.4. Đa dạng sinh học  
Khoảng 50% diện tích của Cát Tiên là rừng cây xanh, 40% là rừng tre, 10% là nông trại.  
Động vật đặc trưng có: tê giác Java một sừng, voi châu Á, bò tót, gấu chó, gấu ngựa, trâu  
rừng, hổ, báo hoa mai, báo gấm, nai...Các loài chim của Cát Tiên cũng phong phú đa dạng:  
đại bàng đen, vịt trời cánh trắng, chim mỏ sừng lớn...Cát Tiên là nơi cư ngụ của 40 loài  
nằm trong Sách đỏ thế giới, trong đó đặc biệt là loài tê giác một sừng. Cư dân địa phương  
11  
       
và người Trung Hoa tin rằng khả năng chữa bệnh của sừng tê giác như thần dược và được  
mua bán với giá cao trên thị trường (khoảng trên dưới 20.000 USD/sừng).  
Ngoài lượng động vật phong phú, Cát Tiên còn là địa bàn của 62 loại lan.  
Cát Tiên cũng được UNESCO công nhận là "Khu dự trữ sinh quyển thế giới". Ngày 4 tháng  
8 năm 2005, Ban Thư ký Công ước Ramsar công nhận Hệ đất ngập nước Bàu Sấu là Khu  
Ramsar thứ 1.499 của thế giới và thứ 2 của Việt Nam với tổng diện tích là 13.759 ha (trong  
đó có 5.360 ha đất ngập nước theo mùa, 151ha đất ngập nước quanh năm).  
3.5. Thất bại đề cử di sản thế giới  
Năm 2013, tại kỳ họp thứ 37 của Ủy ban Di sản thế giới tại Campuchia Vườn quốc gia Cát  
Tiên từng được đưa ra bầu chọn là di sản thiên nhiên thế giới nhưng bị thất bại (Hồ sơ Cát  
Tiên được các cơ quan tư vấn của UNESCO đặt ở mức N - Not recommended for  
inscription, tức không được khuyến khích để ghi danh). Trước đó, Cát Tiên ứng cử hồ sơ  
di sản theo tiêu chí X về đa dạng sinh học.  
4. Vườn hoa TP. Đà Lạt  
Vườn hoa thành phố Đà Lạt trước đây còn có tên gọi là vườn hoa Bích Câu cũng có thời  
gian được gọi là công viên hoa Đà Lạt. Vườn hoa này được bắt đầu xây dựng và trồng các  
loại hoa từ năm 1966 sau đó bỏ hoang và đến năm 1985 thì được xây dựng mới và trồng  
các loài hoa đẹp để phục vụ khách du lịch.  
12  
   
Vườn hoa nằm phía đông Hồ Xuân Hương bên cạnh sân Golf Đồi Cù thơ mộng cách trung  
tâm thành phố Đà Lạt khoảng 2km.  
Hình 3: Một góc Vườn hoa Đà Lạt (Ảnh: Ng. V Hiểu)  
Với tổng diện tích trồng hoa phục vụ khách tham quan lên tới 7000m2 thì nơi đây chắc  
chắc là một trong những vườn hoa lớn nhất Việt Nam và thế giới.  
Được xem như một bảo tàng hoa tươi với trên 300 loại hoa đủ loại từ các loại hồng, cẩm  
tú cầu, mimosa.... Ngoài ra còn có một số loại hoa ngoại nhập như cúc, đồng tiền, đỗ  
quyên.  
II. NỘI DUNG THỰC TẬP GIÁO TRÌNH  
Khoảng 4g30’ ngày  
19/07/2016 đoàn thực  
tập giáo trình bắt đầu  
khởi hành từ Hội trường  
lớn khu II, ĐHCT. Xe  
bắt đầu lăn bánh di  
chuyển tới Khu dự trữ  
sinh quyển RNM Cần  
Giờ tới khoảng 9g00  
cùng ngày.  
Hình 4, 5: Để di chuyển được tới Cần Giờ, đoàn phải qua Phà Bình Khánh. (9g45’)  
13  
 
1. Khu dự trữ sinh quyển Rừng ngập mặn Cần Giờ  
Đến Rừng ngập mặn Cần Giờ, đoàn nhận được sự hướng dẫn tận tình từ Ban quản lí rừng  
phòng hộ Cần Giờ. Tại đây, đoàn thực tập:  
-
-
-
Nghe báo cáo tổng quan sơ lược về khu rừng ngập mặn Cần Giờ  
Tham quan mô hình sản xuất kinh tế của người dân Cần Giờ  
Tìm hiểu hệ sinh thái, đa dạng sinh học rừng ngập mặn Cần Giờ  
Hình 6, 7: Đoàn thực tập tham quan khu rừng đước rừng ngập mặn Cần Giờ  
1.1. Sinh kế của người dân Cần Giờ  
Rừng ngập mặn Cần Giờ không chỉ có vai trò lớn trong việc đảm bảo môi sinh, giảm thiểu  
tác hại của thiên nhiên, khắc phục hiện tượng nước biển dâng… mà còn đóng vai trò rất  
quan trọng trong việc đảm bảo sinh kế của con người.  
Hình 8, 9, 10: Nuôi hàu – Mô hình sinh kế bền vững tại RNM Cần Giờ  
Thêm một số mô hình kinh tế tại Cần Giờ như: Nuôi Ốc len, nghêu, làm muối, du lịch sinh  
thái, v.v  
14  
   
1.2. Một số hình ảnh thu thập được tại Cần Giờ  
Hình 11: Khỉ tại Cần Giờ  
Hình 12: Mô hình làm muối và nuôi hàu tại Cần Giờ (trên xuống)  
15  
 
Tại khu trưng bày tiêu bản của  
BQL RNM Cần Giờ đoàn được  
giới thiệu về một số loại động  
thực vật của rừng ngập mặn Cần  
Giờ. Đặc biệt, được hướng dẫn  
cách phân biệt SAM và SO để  
tránh ngộ độc.  
̣ ̣  
Sam biển, so biển la đông vât  
̀
̉
̀ ́  
giáp xác thân mêm, sông ơ biên.  
̉
Trên thế giới họ Sam  
(Xiphosuridae) có 4 loài, còn ở  
SAM BIỂN  
SO BIỂN  
̉
Việt Nam chỉ có 2 loài là sam biên  
Hình 13: Sam và So biển  
(Tachypleus tridentatus) và so  
̉
biên (Carcinoscorpius rotundicauda).  
Phân biệt SAM và SO  
̉
Tachypleus tridentatus, dân gian gọi là sam biên (sam lớn). Khu vực phân bố của nó la  
̀
́
các vùng ven biển. Môi trương sinh sông thiết yếu là các dải cát tại khu vực có thủy triều  
̀
̉
̉
cao. Đuôi sam biên có gờ mặt lưng, hinh tam giac. Sam biên sô  
́
ng thanh tưng căp  
̣
. Mỗi cặp  
́
̀
̀
̀
sam làm tổ đều sinh sống kiểu một vợ một chồng và sống cùng nhau cho đến hết đời. Mỗi  
̉
̣
cặp sam đẻ nhiều trứng. Sau khi đẻ trứng, sam cái bò đi nơi khác. Trưng đươc phat triên  
́
́
̉
́ ̣  
thanh âu trung, sam con va sam trương thanh. Sam biên đươc khai thac, buôn bán tại và sư  
̉ ̉  
̀ ̀ ̀ ́  
̀
̉
dun  
̣
g lam thưc  
̣
phâm. Sam biển không gây ngộ độc.  
́
la so biên (sam nhỏ). Khu vực phân bô cua  
̉
̀
̉
Carcinoscorpius rotundicauda, dân gian goi  
̣
̀
̉
́
no cung la ven biển. Môi trương sinh sông thiết yếu là các lạch nước ngọt. So biên co hình  
́
́
̃
̀
̀
hài rất giống sam biển, nhưng kích thước nhỏ hơn sam biển và không đi theo thành từng  
̉
cặp. Chiều dài thân cua so biên thường khoảng 20 - 25 cm (không kể đuôi), toàn thân màu  
̉
xanh nâu đậm, đuôi không có gờ mặt lưng, tiết diện cắt ngang của đuôi có dạng hình trứng  
̉
hay tròn. Trong so biên có độc tố tetrodotoxin.  
16  
Tiêu bản một số loại thực vật ngập mặn đặc trừng tại Cần Giờ  
Cóc đỏ  
Trang  
Vẹt Dù  
2. Khoa Lâm nghiệp, Đại học Nông Lâm TP. HCM  
Khoảng 8g00, ngày 20/7/2016 đoàn đã đến được Đại học Nông Lâm, tại đây cả đoàn nghe  
giới thiệu cơ bản về sự hình thành và phát triển khoa Lâm nghiệp;  
Mấm đen  
Đồng thời nghe thầy Viên Ngọc Nam chia sẽ về các công trình nghiên cứu lâm nghiệp của  
mình cũng như của khoa Lâm nghiệp, đặc biệt với những công trình nghiên cứu về rừng  
ngập mặn tại Cần Giờ, Bạc Liêu, Cà Mau v.v…  
17  
 
Hình 14: Thầy Nam chia sẽ công trình nghiên cứu của mình tại hội trường khoa Lâm  
nghiệp.  
3. VQG Cát Tiên  
Chia tay Cần Giờ, đoàn tiếp tục di chuyển ra VQG Cát Tiên tiếp tục hành trình học tập  
thực tế của mình.  
Hình 15: Cán bộ VQG giới thiệu sơ nét về VQG Cát Tiên và một số lưu ý cho sinh viên khi  
đi vào rừng tham quan.  
18  
 
Hình 16: Dây đỏ buộc lên trên các cành cây nhằm đánh dấu hương đi cho đoàn tham quan  
Sau khi nghe giới thiệu về  
VQG Cát Tiên, cả đoàn tiếp tục  
đi xuyên rừng để tìm hiểu về hệ  
sinh thái rừng nhiệt đới tại Cát  
Tiên. Trong chuyến đi bắt gặp  
được rất nhiều loài cây gỗ quý  
hiếm như Tung, Gõ đỏ, Cẩm  
lai.. cũng một số loài có giá trị  
làm dược liệu.  
Sau khi đi hết các cung đường  
đoàn tiến tới Thác Bến Cự.  
Hình 17: Gốc cây Tung  
Hình 18: Thác Bến Cự  
19  
4. Hệ sinh thái Rừng Đà Lạt  
4.1.Khái quát về Rừng đà lạt  
Thành phố Đà Lạt có diện tích tự nhiên là 39.106 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp  
chiếm 25.646 ha với tỷ lệ 73,9%. Đặc điểm chung của quần thể thực vật Đà Lạt là rừng  
thông 3 lá thuần loại xen kẽ với rừng lá rộng.  
Do có vị trí tự nhiên đặc biệt cùng với quần thể rừng thông thuần loại nên rừng Đà Lạt được  
coi là rừng cảnh quan, phục vụ cho du lịch – nghỉ dưỡng. Vì thế, các chương trình định  
hướng phát triển kinh tế xã hội của thành phố Đà Lạt trước đây và hiện nay đều nhấn mạnh  
đến việc bảo tồn cảnh quan tự nhiên, khai thác thế mạnh điều kiện khí hậu tự nhiên để phục  
vụ cho phát triển du lịch – nghỉ dưỡng, khẳng định rừng Đà Lạt là rừng đặc dụng thuộc  
phạm vi bảo vệ và phát triển chứ không chú trọng đến khai thác lâm sản.  
Vị trí địa lý tự nhiên và địa hình đã góp phần hình thành khí hậu Đà Lạt theo kiểu khí hậu  
nhiệt đới gió mùa vùng cao. Thảm thực vật ở Đà Lạt mang nhiều nét riêng biệt so với những  
khu vực khác. Chúng vừa mang tính chất của thảm thực vật nhiệt đới ẩm, vừa mang tính  
chất của vùng á nhiệt đới ẩm với các kiểu hình rừng khác nhau như rừng lá rộng thường  
xanh, rừng lá kim, rừng hỗn giao lá kim – lá rộng, rừng hỗn giao gỗ – tre nứa, rừng tre nứa  
lồ ô, trảng cỏ, cây bụi,…  
Đặc điểm của hệ sinh thái rừng vùng Đà Lạt là sự thay đổi rõ nét trong sự phân bố các khu  
hệ động thực vật theo cao độ. Có những loài có biên độ sinh thái rộng và cũng có những  
loài chỉ thích hợp với những biên độ hẹp. Các tài liệu phân loại học xác định khu hệ cao  
nguyên Lang Biang có hơn 400 loài thực vật, trong đó có những loài có giá trị kinh tế cao  
như thông, thông hôi, pơmu, tùng, thông nàng,… có những loài là hoá thạch sống như thông  
2 lá dẹt, thông đỏ, tuế lá chẻ,… và có những loài đặc hữu như thông 5 lá, hồng tùng,…  
4.2.Một số khu sinh thái đoàn tham quan thực tập  
4.2.1. Vườn hoa Đà Lạt  
Khi vừa bước xuống xe đã nhìn thấy điều ngạc nhiên đầu tiên đó là cổng vào vườn hoa  
được thiết kế thành một hình vòng cung đủ màu sắc được tạo nên bởi hàng ngàn chậu hoa  
xếp lên nhau.  
Khi vừa qua cổng đâu đâu cũng thấy chỉ hoa và hoa. Bên cạnh là hai bên lối đi là hệ thống  
phun nước vô cùng ấn tượng và những cây tùng được trồng bằng những gốc cây lũa vùi  
mình cả ngàn năm dưới lòng đất. Đi được vài bước du khách lại bắt gặp những mô hình  
giống như chiếc xe ngựa rất dễ thương để du khách có thể ngồi nghỉ và tạo dáng chụp hình  
Mỉm cười.  
20  
     
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 23 trang yennguyen 21520 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Thực tập giáo trình Cần Giờ - Đại học Nông Lâm – Vườn Quốc gia Cát Tiên – Đà Lạt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_thuc_tap_giao_trinh_can_gio_dai_hoc_nong_lam_vuon_qu.pdf