Kết quả trồng thử nghiệm cây thủy tùng (Glyptostrobus pensilis) tại Đắk Lắk

KẾT QUẢ TRỒNG THỬ NGHIỆM CÂY THỦY TÙNG (Glyptostrobus  
pensilis) TẠI ĐẮK LẮK  
Trần Vinh, Đặng Đinh Đức Phong, Đặng Thị Thùy Thảo, Hoàng Trƣờng Sinh  
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Cây Thủy tùng còn gọi là Thông nƣớc có tên khoa học là Glyptostrobus pensilis  
(Staunt) K.Koch, thuộc họ Bụt mọc Taxodiaceae, đƣợc xem nhƣ loài hoá thạch sống  
của ngành Hạt trần, xuất hiện cùng thời với Bách xanh cổ cách đây khoảng 10 triệu  
năm.Trên thế giới, Thủy tùng chỉ đƣợc biết đến ở Trung Quốc, Lào và Việt Nam. Ở  
Việt Nam, Thủy tùng chỉ có phân bố tự nhiên ở huyện Krông Năng, Krông Buk và  
Ea H’leo thuộc tỉnh Đắk Lắk. Hiện nay, loài cây này đang bị đe dọa tuyệt chủng vì  
số cá thể còn lại quá ít, không có tái sinh tự nhiênvà môi trƣờng sống ngày càng bị  
xâm phạm và thu hẹp.  
Hiện nay, quần thể Thủy tùng nguyên sinh tại Đắk Lắk chỉ còn 161 cây, trong đó  
có những cây khó tồn tại lâu dài vì chất lƣợng kém (khô ngọn, rỗng ruột), điều này cho  
thấy việc bảo tồn loài Thủy tùng ngày càng trở nên cấp bách hơn. Tuy nhiên, công tác  
bảo tồn nếu chỉ dừng lại ở bảo tồn nguyên trạng thì hiệu quả cũng nhƣ tính bền vững  
không cao, đặc biệt là đối với những loài không còn khả năng tái sinh tự nhiên nhƣ  
Thủy tùng. Vì vậy, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu trồng thử nghiệm cây Thủy tùng  
(Glyptostrobus pensilis) trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”nhằm mục đích nghiên cứu trồng bổ  
sung số lƣợng cá thể tại vùng phân bố tự nhiên cũng nhƣ mở rộng phạm vi bảo tồn cây  
Thủy tùng theo hƣớng bảo tồn ngoại vi (Ex situ) là thực sự cần thiết.  
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU  
2.1. Nghiên cứu trồng thử nghiệm cây Thủy tùng ghép tại một số vùng khác nhau  
của tỉnh Đắk Lắk  
2.2. Nghiên cứu trồng cây Thủy tùng ghép ở các điều kiện trồng khác nhau tại vùng  
phân bố tự nhiên (Trấp K’sor - Krông Năng và Ea Ran - EaH’leo)  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1. Điều kiện đất đai ở các vùng trồng thử nghiệm cây Thủy tùng  
Bảng 1. Đặc điểm lý hóa tính của phẫu diện đất tại các điểm trồng thử nghiệm  
Tổng số  
Dễ tiêu  
(mg/100gđất)  
Thành phần cơ giới  
Tầng  
đất  
(cm)  
Địa  
điểm  
(%)  
(%)  
pHKCl  
HC  
N
P2O5 K2O P2O5 K2O  
Sét  
Thịt  
Cát  
Krông  
Năng  
0-25  
25-60  
0-15  
3,96  
3,88  
4,30  
4,04  
4,13  
4,13  
4,12  
6,53 0,21 0,54 0,01 0,84  
6,75 0,23 0,61 0,01 1,05  
2,12 61,98 35,39 2,63  
1,08 64,04 34,68 1,28  
34,06 1,54 0,49 0,05 0,44 32,74 18,40 78,72 2,88  
Ea  
H’leo  
15-30  
30-60  
0-30  
18,04 0,70 0,47 0,01 3,31  
9,90 0,35 0,70 0,01 7,72  
1,20 36,74 59,80 3,46  
0,79 46,38 46,51 7,11  
4,25 0,19 0,50 0,02 0,95 12,83 48,70 49,05 2,25  
3,50 0,15 0,48 0,02 0,18 12,57 63,20 34,42 2,38  
Krông  
Păk  
30-60  
Tổng số  
Dễ tiêu  
(mg/100gđất)  
Thành phần cơ giới  
Tầng  
đất  
(cm)  
Địa  
điểm  
(%)  
(%)  
pHKCl  
HC  
N
P2O5 K2O P2O5 K2O  
Sét  
Thịt  
Cát  
60-120  
0-15  
4,54  
3,95  
3,84  
3,90  
4,62  
4,40  
2,37 0,11 0,41 0,03 0,05 13,59 70,06 28,03 1,91  
1,61 0,09 0,06 0,03 3,80  
2,44 0,13 0,07 0,06 4,14  
0,63 0,06 0,04 0,03 1,36  
1,69 20,42 3,20 76,38  
1,79 24,02 10,25 65,73  
1,61 31,48 1,65 66,87  
Lắk  
15-53  
53-83  
0-30  
Buôn  
Ma  
Thuột  
3,57 0,15 0,57 0,03 8,18 29,35 47,96 48,27 3,77  
1,53 0,08 0,23 0,01 0,13 2,57 59,32 38,82 1,86  
0-60  
Bảng 1 cho thấy:  
+ pH trong đất biến động trong khoảng 3,78 - 4,62;  
+ Hàm lƣợng hữu cơ ở tầng 0-30cm tƣơng đối cao và biến động khá lớn từ 3,57 -  
34,06%, ngoại trừ tại Lắk hàm lƣợng hữu cơ chỉ đạt ở mức 1,6%.  
+ Đạm tổng số: Biến động từ 0,06 - 1,54%, trong đó tại 2 điểm Krông Năng và Ea  
H’leo có hàm lƣợng đạm tƣơng đối cao (0,2 - 1,54%), các điểm còn lại ở mức thấp  
đến trung bình (0,06 - 0,19%).  
+ Lân: Lân tổng số biến động từ trung bình đến khá (0,04 - 0,7%). Ngoại trừ tại Lắk ở  
mức thấp. Hàm lƣợng lân dễ tiêu trong đất phần lớn ở mức thấp đến trung bình,  
biến động từ 0,13-4,14 mg/100 gam đất.  
+ Ka li: Hàm lƣợng ka li tổng số trong đất tại các điểm trồng thử nghiệm Thủy tùng  
đều ở mức thấp, biến động trong khoảng 0,01- 0,06%. Hàm lƣợng ka li dễ tiêu ở  
hầu hết các mẫu cũng đạt ở mức thấp, ngoại trừ tại Phƣớc An - Krông Păk đạt đƣợc  
ở mức trung bình (>10 mg/100 gam đất), tại Ea H’leo (tầng 0-15 cm) và tại Buôn  
Ma Thuột (tầng 0 - 30 cm) có hàm lƣợng ka li dễ tiêu tƣơng đối cao, xấp xỉ 30  
mg/100 gam đất.  
3.2. Kết quả trồng thử nghiệm cây Thủy tùng ở các vùng trồng khác nhau  
Bảng 2. Sinh trƣởng của cây Thủy tùng ở các điểm trồng  
Chỉ tiêu  
Krông  
Krông  
Chỉ số Ea H’leo  
Lắk3  
BMT  
theo dõi  
Năng  
Păk  
TB  
CV%  
Max  
Min  
TB  
4,6  
34,7  
7,5  
3,0  
36,6  
6,2  
3,4  
24,2  
5,4  
4,4  
31,5  
7,4  
3,8  
43,2  
8,5  
Dg (cm)  
2,0  
1,8  
1,6  
2,0  
1,6  
180,3  
41,5  
350  
55  
120,5  
27,6  
210  
70  
137,8  
34,5  
240  
72  
186,8  
33,2  
350  
174,2  
40,8  
330  
70  
CV%  
Max  
Min  
Hvn (cm)  
100  
3 Số liệu sinh trƣởng của cây thủy tùng trồng tại Lăk sau 18 tháng.  
TB  
CV%  
Max  
Min  
69,7  
33,6  
120  
30  
52,6  
22,0  
80  
64,6  
29,8  
100  
27  
72,7  
24,1  
109  
40  
64,8  
26,8  
100  
35  
Dt (cm)  
40  
Sau 28 tháng trồng, sinh trƣởng trung bình đƣờng kính gốc của cây Thủy tùng  
tại các điểm trồng đạt 3,0 - 4,6 cm; chiều cao cây đạt 120,5 -186,8 cm và đƣờng kính  
tán đạt 52,6 - 72,7 cm. Nhƣ vậy, bƣớc đầu cho thấy, cây Thủy tùng ghép có thể sinh  
trƣởng tốt ở những khu vực ngoài vùng phân bố tự nhiên nhƣ tại Lắk, Buôn Ma Thuột.  
Biến động về các chỉ tiêu sinh trƣởng của cây Thủy tùng trong cùng một điều  
kiện gây trồng cũng nhƣ giữa các vùng trồng là khá lớn, hệ số biến động 22,0 - 41,5%.  
Tỷ lệ sống của cây Thủy tùng sau 1 năm trồng ở các mô hình đạt trung bình  
81,6%. Sau 28 tháng trồng, tỷ lệ sống của cây Thủy tùng ở các mô hình giảm xuống  
còn 57%, trong đó tỷ lệ sống cao nhất là mô hình trồng tại Ea H’leo (70%) và thấp  
nhất là mô hình trồng tại Krông Păk (40%). Mô hình tại Lắk có tỷ lệ sống đạt 82% sau  
18 tháng trồng. Qua theo dõi cho thấy, nguyên nhân gây chết đối với cây Thủy tùng  
trồng trên cạn chủ yếu là do mối gây hại trong mùa khô.  
3.3. Kết quả trồng thử nghiệm cây Thủy tùng ghép ở các điều kiện khác nhau tại  
vùng phân bố tự nhiên (Trấp K’sor – Krông Năng và Ea Ran – EaH’leo)  
Bảng 3. Sinh trƣởng của cây Thủy tùng ở 3 công thức trồng thử nghiệm  
Đƣờng kính gốc  
Chiều cao cây  
Đƣờng kính tán  
Địa  
điểm  
trồng  
Công thức  
thử  
nghiệm  
(cm)  
(cm)  
(cm)  
TB  
CV%  
36,6  
30,5  
TB  
CV%  
TB  
CV%  
22,0  
24,1  
43,6  
33,6  
29,7  
26,6  
CT1  
CT2  
CT3  
CT1  
CT2  
CT3  
3,0 a  
4,8 b  
120,5 a 27,6  
153,7 b 24,7  
149,5 b 35,3  
180,3 a 41,5  
105,0 b 69,7  
93,8 b 24,9  
52,6 a  
68,9 b  
66,0 b  
69,7 a  
49,0 b  
41,8 b  
Krông  
Năng  
4,0 ab 42,0  
4,6 a  
2,5 b  
2,0 b  
34,7  
EaH’leo  
41,3  
34,8  
CT1: Trồng trên cạn  
CT2: Trồng dưới nước  
CT3: Trồng dưới tán rừng  
(Các chữ cái trên cùng một cột dùng để so sánh các trung bình trên cùng một địa điểm  
trồng. Những trung bình có chữ cái giống nhau thì không khác nhau có ý nghĩa thống  
kê với trắc nghiệm LSD ở mức tin cậy là 5%);  
Tại Krông Năng:  
Sau 28 tháng trồng, sinh trƣởng trung bình về đƣờng kính gốc của cây Thủy  
tùng ở 3 công thức trồng thử nghiệm đạt 3,0 - 4,8 cm; chiều cao cây đạt 120,5 - 153,7  
cm và đƣờng kính tán đạt 52,6 - 68,9 cm. Nhìn chung, công thức trồng dƣới nƣớc, cây  
Thủy tùng sinh trƣởng tốt nhất, thấp nhất là công thức trồng trên cạn. Biến động về các  
chỉ tiêu sinh trƣởng của cây Thủy tùng ở các công thức trồng là khá lớn, thể hiện qua  
hệ số biến động từ 22,0 - 43,6%.  
Tỷ lệ sống của cây Thủy tùng sau 12 tháng trồng ở các công thức đạt trung bình  
74,7% và giảm xuống 58,7% sau 28 tháng trồng. Trong số 3 công thức trồng thử  
nghiệm, công thức trồng dƣới nƣớc cho tỷ lệ sống cao nhất (70%) và thấp nhất là công  
thức trồng dƣới tán rừng (50%).  
Tại Ea H’leo:  
Sau 28 tháng trồng, sinh trƣởng trung bình về đƣờng kính gốc ở 3 công thức đạt  
2,0 - 4,6 cm; chiều cao cây đạt 93,8 - 180,3 cm; đƣờng kính tán đạt 41,8 - 69,7 cm.  
Biến động về các chỉ tiêu sinh trƣởng của cây Thủy tùng ở 3 công thức là khá lớn, thể  
hiện qua hệ số biến động từ 26,6 - 69,7%. Trong đó, sinh trƣởng của cây Thủy tùng  
trồng trên nền đất gần sát mép nƣớc tốt hơn so với trồng trên đất sình ngập nƣớc.  
Tỷ lệ sống của cây Thủy tùng sau 12 tháng trồng đạt trung bình là 82,0% và  
giảm xuống còn 59,4% sau 28 tháng. Trong đó, công thức trồng trên nền đất gần sát  
mép nƣớc cho tỷ lệ sống đạt cao nhất (70%), và thấp nhất là công thức trồng dƣới tán  
rừng (50%).  
3.4. Đánh giá sâu bệnh hại của cây Thủy tùng tại các điểm trồng  
Bảng 4. Mức độ phổ biến của các loài sâu bệnh hại trên cây thủy tùng  
Địa điểm trồng  
EaH’Leo  
Krông Năng  
Krông Păk  
Lắk  
Mối  
+
Sâu đục thân  
Khô cành, ngọn  
+
+
+
+
+
++  
+
++  
+++  
+
+
+
BMT  
++  
+
(+): Tỷ lệ cây bị sâu, bệnh <25%;  
(++): Tỷ lệ cây bị sâu, bệnh từ 25-50%  
(+++): Tỷ lệ cây bị sâu, bệnh từ >50%  
Kết quả điều tra cho thấy, có 2 loài sâu hại và một loại bệnh hại chính trên cây  
Thủy tùng, gồm: mối, sâu đục thân và nấm gây bệnh khô thân, cành. Trong đó, mối là  
nguyên nhân gây hại chính dẫn đến chết cây ở hầu hết các điểm trồng đối với công  
thức trồng trên cạn. Sâu đục thân xuất hiện với tỷ lệ thấp. Bệnh khô thân, cành do nấm  
Pestalotia sp và Lasiodiplodia sp gây nên (trong đó tác nhân gây bệnh chính là do nấm  
Pestalotia sp với tần suất xuất hiện là 71,4%). Bộ phận bị hại chủ yếu là trên các cành  
non và thân chính. Bệnh phát triển mạnh trong mùa mƣa và ảnh hƣởng đáng kể đến  
sinh trƣởng của cây thủy tùng. Tuy nhiên, việc phát hiện sớm và phòng trừ bằng thuốc  
bảo vệ thực vật (Amistar top 325 SC, Copper Hydroxide) cho thấy có hiệu quả.  
3.5. Đánh giá về hình thái thực vật, sự ra hoa đậu quả và tái sinh chồi của cây  
Thủy tùng ghép trên gốc Bụt mọc  
* Đặc điểm hình thái:  
So sánh về đặc điểm hình thái của các bộ phận: lá trên cành sinh dƣỡng, lá trên  
cành sinh sản, nón đực, nón cái và đặc điểm chín của nón cho thấy không có sự khác  
nhau giữa cây Thủy tùng ghép trên gốc Bụt mọc so với cây Thủy tùng nguyên thủy.  
* Quá trình ra hoa đậu quả của cây Thủy tùng ghép:  
Đánh giá tỷ lệ cây ra hoa trong năm thứ 3, kết quả ghi nhận tỷ lệ cây ra hoa trên  
toàn vƣờn ở 5 địa điểm trồng nhƣ sau: Tỷ lệ trung bình cả 5 địa điểm trồng là 17,9%.  
Tại Buôn Ma thuột, tỷ lệ cây ra hoa chiếm tỷ lệ cao nhất là 48,4%, các điểm còn lại có  
tỷ lệ cây ra hoa thấp, biến động từ 2,5 - 20%. Kết quả giải phẫu trên 200 nón cái thành  
thục trên cây Thủy tùng ghép, với số hạt thu đƣợc hơn 1.200 hạt, kết quả cho thấy tất  
cả các hạt Thủy tùng đều lép (chỉ có vỏ hạt chứ không có phôi).  
Vì cây Thủy tùng ghép mới trồng trong khoảng thời gian chƣa đƣợc 3 năm, cây  
mới bắt đầu ra hoa đậu quả nên các đặc tính về vật hậu chƣa thể biểu hiện rõ nét, do  
vậy ở đây chúng tôi chỉ bƣớc đầu ghi nhận về tỷ lệ cây ra hoa và thử đánh giá khả  
năng tạo hạt hữu thụ của cây Thủy tùng ghép chứ chƣa quan tâm nhiều đến việc theo  
dõi, đánh giá quy luật phát sinh phát triển nón.  
* Đánh giá về khả năng tái sinh chồi vượt của cây Thủy tùng ghép:  
Đánh giá về khả năng tái sinh chồi vƣợt của cây Thủy tùng ghép có ý nghĩa đến  
việc xác định biện pháp nhân giống cũng nhƣ xây dựng hƣớng dẫn kỹ thuật phù hơp  
cho việc trồng và chăm sóc cây Thủy tùng. Kết quả theo dõi trên toàn vƣờn cho thấy:  
100% số cây đều có tái sinh chồi vƣợt. Nhìn chung, khả năng bật chồi vƣợt của cây  
Thủy tùng ghép là rất mạnh, đây là một trong những điểm thuận lợi trong việc tạo  
nguồn chồi dự trữ phục vụ cho công tác nhân giống. Đặc biệt, qua theo dõi, đánh giá  
sinh trƣởng của cây Thủy tùng ghép ở các điểm trồng cho thấy: 100% số cây đều có  
thân (phát triển từ chồi ghép cũ hoặc từ chồi vƣợt) lên thẳng, không tồn tại hiện tƣợng  
bảo lƣu cục bộ (Topophysis). Mặc dù ở giai đoạn đầu sau khi trồng, một số cây có xu  
hƣớng phát triển cành theo chiều ngang nhƣng sau đó các cây này phát sinh chồi vƣợt  
lên thẳng và sinh trƣởng lấn át hoàn toàn thân cũ. Nhƣ vậy có thể nói, về cơ bản hiện  
tƣợng bảo lƣu cục bộ không phải là vấn đề đáng quan ngại đối với nhân giống vô tính  
Thủy tùng.  
IV. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ  
4.1. Kết luận  
. Tỷ lệ cây sống của cây Thủy tùng trung bình ở các vùng trồng (điều kiện trồng  
trên cạn) đạt 57%. Sinh trƣởng đƣờng kính gốc trung bình đạt 3,0 - 4,6 cm;  
chiều cao cây đạt 120,5 - 180,3 cm; và đƣờng kính tán đạt 52,6 – 69,7 cm.  
. Đối với 3 công thức trồng thử nghiệm, tại Ea H’leo công thức 1 (trồng trên đất  
gần sát mép nƣớc) cho kết quả tốt nhất, tại Krông Năng công thức 2 (trồng trên  
đất ngập nƣớc) cho kết quả tốt nhất.  
. Cây Thủy tùng có thể sinh trƣởng tốt ở ngoài khu vực phân bố tự nhiên (Lắk,  
Buôn Ma Thuột…) là cây ƣa sáng, không thích hợp với điều kiện bị che bóng.  
. Mối là đối tƣợng gây hại chính đối với cây Thủy tùng ở điều kiện trồng trên  
cạn.  
4.2. Khuyến nghị  
. Có thể mở rộng phạm vi bảo tồn cây Thủy tùng ra ngoài khu vực phân bố tự  
nhiên, đặc biệt là xung quanh hồ đập và vùng đất ngập nƣớc.  
. Nên trồng Thủy tùng ở những nơi gần nguồn nƣớc, điều này vừa giảm tỷ lệ chết  
do mối gây hại đồng thời giúp cây Thủy tùng sinh trƣởng tốt hơn.  
HÌNH ẢNH MINH HỌA  
Hình 1-2: Cây Thủy tùng trồng tại Buôn Ma Thuột, năm trồng 2013, 2014  
Hình 3: Cây Thủy tùng trồng tại EaH’Leo, Hình 4: Cây Thủy tùng trồng tại EaH’Leo,  
năm trồng 2013  
năm trồng 2013  
Hình 5-6: Cây Thủy tùng trồng tại Krông Păk, năm trồng 2013  
Hình 7: Thủy tùng trồng tại Lắk, năm 2013 Hình 8: Thủy tùng trồng tại Lắk, năm 2014  
Hình 9: Chồi vƣợt Thủy tùng phát sinh từ  
Hình 10: Cây bị gãy ngọn do sâu đục thân  
và tái sinh chồi rất mạnh  
thân chính  
pdf 8 trang yennguyen 10280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả trồng thử nghiệm cây thủy tùng (Glyptostrobus pensilis) tại Đắk Lắk", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfket_qua_trong_thu_nghiem_cay_thuy_tung_glyptostrobus_pensili.pdf