Dự án Bảo tồn loài - sinh cảnh thủy tùng (Glyptostrobus pensilis) tại tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 5 năm 2011-2015

i
ii  
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK LĂK CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM  
SỞ NÔNG NGHIỆP & PTNT  
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc  
DỰ ÁN BẢO TỒN  
LOÀI - SINH CẢNH THỦY TÙNG (Glyptostrobus pensilis)  
TẠI TỈNH ĐĂK LĂK  
GIAI ĐOẠN 5 NĂM: 2011 – 2015  
CƠ QUAN LẬP DỰ ÁN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN  
CHỦ NHIỆM CÔNG TRÌNH  
PGS.TS. Bảo Huy  
Tháng 12 năm 2010  
iii  
MỤC LỤC  
iv  
vi  
DANH SÁCH BẢNG BIỂU  
DANH SÁCH HÌNH, SƠ ĐỒ  
Hình 2: Mô hình xác định tuổi thủy tùng qua đường kính D1.3 ................................................25  
viii  
DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA LẬP DỰ ÁN  
STT Họ tên, học hàm, học vị  
Chuyên môn  
Cơ quan  
1
PGS.TS. Bảo Huy  
Chủ nhiệm công trình  
- Quy hoạch sinh thái cảnh Trường Đại học Tây  
quan rừng  
Nguyên  
- Quản lý dự án bảo tồn thiên  
nhiên  
- GIS trong quản lý tài  
nguyên thiên nhiên  
- Tiếp cận cộng đồng, Kiến  
thức bản địa  
2
3
4
5
ThS. Nguyễn Đức Định - Thực vật rừng  
- Lâm sản ngoài gỗ  
Trường Đại học Tây  
Nguyên  
Trường Đại học Tây  
Nguyên  
TS. Võ Hùng  
- Kỹ thuật lâm sinh  
TS. Nguyễn Thị Thanh - GIS trong quản lý tài Trường Đại học Tây  
Hương  
TS. Cao Thị Lý  
nguyên đa dạng sinh học  
- Động vật rừng  
- Bảo tồn đa dạng sinh học  
Nguyên  
Trường Đại học Tây  
Nguyên  
6
7
8
9
KS. Phạm Đoàn Phú - Đánh giá tác động môi Trường Đại học Tây  
Quốc  
trường rừng  
Nguyên  
KS. Hoàng Trọng Khánh - Phân tích lợi ích từ rừng  
Trường Đại học Tây  
Nguyên  
KS. Hồ Đình Bảo  
- Quản lý tài nguyên rừng, Trường Đại học Tây  
lưu vực  
Nguyên  
KS. Nguyễn Công Tài - GIS trong quản lý tài Trường Đại học Tây  
Anh nguyên thiên nhiên Nguyên  
10 Cán bộ kiểm lâm  
- Có kinh nghiệm trong quản Chi cục Kiểm lâm Đăk  
lý và bảo vệ rừng Thủy Lăk  
tùng ở các địa phương  
Các Hạt kiểm lâm ở các  
huyện Krông Năng,  
Krông Buk và Ea H’Leo  
Các Trạm bảo vệ Thủy  
tùng ở Krông Năng,  
Krông Buk và Ea H’Leo  
11 Các nhà khoa học  
- Nghiên cứu về di truyền, Đại học quốc gia Tp.  
nhân giống thủy tùng  
HCM, Đại học Đà Lạt,  
Đại học Tây Nguyên,  
Viện KHKT NLN Tây  
Nguyên  
1
Phần I  
MỞ ĐẦU  
I.  
LÝ DO HÌNH THÀNH DỰ ÁN BẢO TỒN LOÀI – SINH CẢNH  
THỦY TÙNG Ở ĐĂK LĂK  
Cây Thủy tùng Glyptostrobus pensilis (Staunt) K.Koch thuộc họ Bụt mọc  
Taxodiaceae là loài thực vật quý hiếm, không những ở Việt Nam mà còn trên thế giới;  
quần thể tự nhiên thủy tùng hiện tại còn lại duy nhất ở Việt Nam; nó có lịch sử phát triển  
trên một triệu năm nay nên đã có xu hướng thoái hóa, nhất là trong điều kiện sinh thái  
thay đổi như hiện nay. Nguy cơ tuyệt chủng đã thấy rõ, khả năng tái sinh rất khó khăn.  
Đây là loài thực vật được nói tới nhiều, được quan tâm bảo vệ sớm nhất, là loài quý  
hiếm được ghi vào sách đỏ. Ngoài giá trị khoa học, cây Thủy tùng còn là cây có giá trị  
kinh tế như là loài cây cho gỗ lớn rất bền trong điều kiện ngâm nước hoặc chôn trong  
đất, trong sinh cảnh đầm lầy hoặc ngập nước; gỗ tốt, có mùi thơm, thớ mịn, không bị  
mối mọt, nứt nẻ, cong vênh, dễ gia công, nên được sử dụng làm đồ dùng gia đình, đồ  
mỹ nghệ, nhạc cụ, để tiện, khắc … rễ thở mềm, xốp, nhẹ, nên có thể dùng làm mũ, nút  
chai và phích, phao; vỏ chứa tanin; cành lá và nón chín dùng làm thuốc chữa phong thấp,  
giảm đau, làm săn da. Mặt khác Thủy tùng còn là cây dược liệu để chữa một số bệnh  
như phong thấp, giảm đau, săng da. Cây có dáng đẹp, có thể trồng làm cảnh hoặc trồng  
ven hồ ao để giữ đất, chống xói lở.  
Về tình trạng, Thông nước được xem là loài thực vật quý hiếm, sách đỏ thế giới  
và sách đỏ của Việt Nam đều xếp ở tình trạng nguy cấp (EN: Endangered). Nghị định  
32/2006/NĐCP hiện xếp Thông nước vào nhóm IA: Nghiêm cấm khai thác và sử dụng  
với mục đích thương mại.  
Vấn đề quản lý bảo tồn thuỷ tùng hiện nay bao gồm:  
- Về quy hoạch, phân cấp quản lý rừng đặc dụng: Hiện các quần thể thủy tùng ở  
Dak Lak chưa được chính thức công nhận là rừng đặc dụng; trong khi đó đây là loài quý  
hiếm, đặc hữu và ở Việt Nam chỉ có ở Dak Lak; quy hoạch vùng bảo vệ nghiệm ngặt,  
phục hồi sinh thái và vùng đệm cho tất cả các khu vực bảo tồn thủy tùng chưa được làm  
rõ, do đó rất khó khăn trong việc bảo tồn và phát triển loài này.  
- Về nhân giống, gây trồng thủy tùng: Tuy đã có một số nghiên cứu về di truyền  
cá thể, quần thể, nuôi cấy mô, hom, ghép, … nhưng thực tế việc thực hiện bảo tồn tại  
     
2
chổ (Insitu) và chuyển vị (Exsitu) chưa được làm có hệ thống và nguy cơ mất hết loài  
này là sắp diễn ra.  
- Về thông tin dữ liệu sinh thái quần thể và loài thủy tùng quý hiếm: Tuy đã có  
nhiều nghiên cứu và bài báo, báo cáo về thủy tùng, và thực tế tuy diện tích và số cây  
thủy tùng không nhiều nhưng lại chưa thu thập được đầy đủ cơ sở dữ liệu sinh trưởng  
và sinh thái môi trường sinh cảnh của cây thủy tùng như: Thiếu số liệu chính xác số cây,  
kích thước, tình hình sinh trưởng, tính chất đất, mức ngập nước, sinh cảnh, sinh thái lâm  
phần và mối quan hệ loài thủy tùng với các loài khác và dự báo về diễn thế của quần thể  
thủy tùng trong điều kiện thay đổi môi trường hiện nay để có giải pháp bảo tồn thích  
hợp.  
- Về quản lý, bảo vệ: Chưa có một đơn vị chức năng có tư cách pháp nhân, thống  
nhất trách nhiệm quản lý, bảo vệ, thiếu đầu tư và nhân sự; do vậy tình trạng các quần  
thể thủy tùng ở Dak Lak đã và đang bị biến đổi điều kiện sinh thái nghiệm trọng như  
thiếu kiểm soát nguồn nước, tác động của người dân trong canh tác, lấy nước tưới cà  
phê, phá hoại hoặc chặt trộm thủy tùng, đào bới gốc rễ thủy tùng, gây chết, ….chưa  
được giải quyết.  
Vì vậy việc xây dựng dự án bảo tồn loài – sinh cảnh Thủy tùng tại tỉnh Đak Lak  
là điều cần thiết, góp phần giải quyết các các vấn đề đang đặt ra cho bảo tồn một loài  
quý hiếm, đặc hữu, có giá trị về nhiều mặt nhưng đang đứng trước nguy cơ bị xâm hại  
và tuyệt chủng.  
II.  
NHỮNG CĂN CỨ LẬP DỰ ÁN BẢO TỒN LOÀI – SINH CẢNH  
THỦY TÙNG  
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng, ngày 13/12/ 2004;  
- Quyết định số 62//2005QĐ-BNN ngày 12/10/2005 của Bộ Nông nghiệp  
và phát triển nông thôn về việc ban hành bản quy định về tiêu chí phân  
loại rừng đặc dụng;  
- Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành  
Luật Bảo vệ phát triển rừng; Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006  
của Chính phủ về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý  
hiếm;  
- Quyết định số 186//2006QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Chính phủ về việc  
ban hành quy chế quản lý rừng;  
 
3
- Quyết định số 1030/2007QĐ-UBND ngày 16/5/2007 của UBND tỉnh Đắk  
Lắk về việc phê duyệt kết qủa rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng tỉnh Đắk  
Lắk;  
- Công văn số 6601/2009 UBND-NN&MT ngày 25/12/2009 của UBND  
tỉnh Đắk Lắk về việc thành lập khu bảo tồn loài sinh cảnh EaRal, huyện  
Ea H’leo.  
- Công văn số 1795/UBND-NN&MT, ngày 15/4/2010 của Ủy Ban Nhân  
Dân Tỉnh Đắk Lắk, về việc cho chủ trương lập Dự án khu bảo tồn loài  
sinh cảnh Thông nước tại Đắk Lắk  
Trên cơ sở các văn bản pháp lý và công văn của UBND tỉnh Đăk Lăk về chủ  
trương lập dự án hình thành khu bảo tồn loài – sinh cảnh thủy tùng; từ kết quả nghiên  
cứu đánh giá theo các phương pháp đã duyệt trong đề cương, dự án bảo tồn loài – sinh  
cảnh Thủy tùng tại tỉnh Dak Lak được xây dựng để thực hiện trong giai đoạn 5 năm từ  
2011 – 2015.  
III. THỜI GIAN VÀ THÀNH PHẦN THAM GIA XÂY DỰNG DỰ ÁN  
- Thời gian xây dựng dự án là: 8 tháng, từ 01/04/2010 – 30/11/2010  
- Thành phần tham gia nghiên cứu xây dựng dự án: Bộ môn Quản lý tài nguyên  
rừng và Môi trường, Khoa Nông Lâm nghiệp, Trường Đại học Tây Nguyên;  
Chi cục kiểm lâm tỉnh Dak Lak; 3 hạt kiểm lâm: huyện Ea H’leo; Krông Năng  
và Krông Buk; người dân sống trong vùng có thông nước. Ngoài ra còn tham  
vấn các nhà khoa học trong cả nước đã và đang nghiên cứu về cây Thủy tùng  
ở các trường Đại học Quốc Gia Tp. HCM, Đại học Đà Lạt, trường Đại học  
Tây Nguyên, Viện Khoa học Kỹ Thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên.  
IV. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG DỰ ÁN  
1. Nội dung nghiên cứu xây dựng dự án  
Căn cứ vào mục tiêu và các vấn đề tồn tại, các hoạt động sau đã được tiến hành  
để lập dự án khả thi bảo tồn loài và sinh cảnh thủy từng ở Dăk Lak  
i) Đánh giá hiện trạng quản lý bảo tồn và các tác động xã hội đến các quần thể  
thủy tùng hiện nay  
ii) Thiết lập cơ sở dữ liệu sinh trưởng và sinh thái môi trường của quần thể và cá  
thể thủy tùng như: Số liệu chính xác số cây, kích thước, tình hình sinh trưởng,  
yêu cầu sinh thái thủy tùng như tính chất đất, mức ngập nước, mối quan hệ  
     
4
loài thủy tùng với các loài cây bạn, đặc điểm lâm học quẩn thể và xu hướng  
diễn thế của nó.  
iii) Quy hoạch vùng lõi, phục hồi, dịch vụ hành chính và đệm để hình thành khu  
bao tồn loài – sinh cảnh thủy tùng.  
iv) Xác lập giải pháp bảo tồn và phương hướng phát triển cây thuỷ tùng và cải  
thiện quần thể.  
v) Nghiên cứu đề xuất xây dựng ban quản lý khu bảo tồn loài- sinh cảnh thủy  
tùng có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và nguồn lực để thực hiện các giải pháp  
bảo tồn cả về sinh thái, sinh học và xã hội.  
2. Phương pháp luận – Cách tiếp cận xây dựng dự án  
Việc luận chứng để hình thành một khu bảo tồn loài sinh cảnh liên quan đến nhiều  
khía cạnh; do đó cách tiếp cận bao gồm nghiên cứu các quy định, văn bản pháp luật, các  
vấn đề tổ chức xã hội kết hợp với đánh giá, hiện trường và phân tích kỹ thuật, sinh thái  
môi trường trong bảo tồn quần thể và loài.  
3. Phương pháp cụ thể  
3.1. Đánh giá hiện trạng quản lý bảo tồn và các tác động xã hội đến các quần  
thể thủy tùng hiện nay  
- Thu thập các số liệu, tài  
liệu, văn bản, bản đồ liên  
quan đến công tác quản lý  
bảo tồn cây thông nước  
hiện nay tại tỉnh Đak Lak.  
- Thảo luận nhóm và phân  
tích SWOT về công tác  
quản lý cây thông nước.  
Đối tượng tham gia là  
Thảo luận với các hạt kiểm lâm và trạm bảo vệ Thủy tùng Ea  
Ral, Hạt kiểm lâm Ea H’Leo  
lãnh đạo và cán bộ 3 hạt:  
Krông Buk, Ea H’leo; Krong Năng và 2 trạm bảo vệ thủy tùng ở Trấp K’Sơ,  
Ea Ral.  
   
5
- Điều tra tình hình kinh tế xã hội của người dân sống trong vùng có thông  
nước, bao gồm việc thu thập thông tin các hộ có liên quan chung quanh khu  
vực thủy tùng, đất canh tác, quyền sử dụng đất, hợp đồng, ….  
3.2. Thiết lập cơ sở dữ liệu sinh trưởng và sinh thái môi trường của quần thể  
và cá thể thủy tùng  
- Điều tra đặc điểm sinh thái quần thể: Tiến hành ở hai quần thể chính ở Trap  
K’Sơ (Xã Ea Hồ, huyện Krông Năng) và Ea Ral (xã Ea Ral, huyện Ea H’Leo),  
bao gồm các chỉ tiêu về sinh thái: Khí hậu, đất, pH đất, thảm thực vật, thảm  
phủ, ưu hợp, độ tàn che, địa hình, độ cao, …  
- Thu thập số liệu  
chính xác số liệu  
tất cả các cây thủy  
tùng trong tỉnh  
Dak Lak, đóng  
bảng số hiệu cho  
từng cây, đo đếm  
kích  
thước:  
kính  
Đường  
(D1.3), chiều cao  
Điêu tra sinh thái cá thể và quần thể Thủy tùng  
(H), đường kính ở  
các vị trí 1/5H bằng máy đo cây Laser, xác định phẩm chất; đo đếm vòng năm  
của các thớt đã bị chặt hạ. Từ đây lập cơ sở dữ liệu thủy tùng bao gồm: Tọa  
độ VN2000, D, H, thể tích (V), phẩm chất, tuổi (A) và hình ảnh của từng cây  
và đưa vào phần mềm GIS - Mapinfo để lập bản đồ phân bố cây và quản lý  
lâu dài  
- Lập phương trình xác định tuổi cây thủy tùng: A = f(D) và phương trình thể  
tích thủy tùng: V = f(D, H) trong phần mềm Statgraphics Centurion XV.  
- Phân tích mối quan hệ sinh thái giữa thủy tùng và các loài cây thân gỗ khác  
để phát hiện 3 mối quan hệ: Hỗ trợ, canh tranh và ngẫu nhiên giữa các loài  
trong quần thể với thủy tùng, làm cơ sở để xuất biện pháp lâm sinh trong phát  
triển quần thể thủy tùng bền vững trong mối quan hệ với các loài khác. Đã  
thu thập 69 ô mẫu Prodan (5.5 cây) trong hai quần thể Trấp KSơ và Ea Ral và  
6
sử dụng tiêu chuẩn thống kê sử dụng là ρ và X2: Với X2 > X2(0.05, 1) thì hai  
loài có quan hệ, và với ρ < 0 thì quan hệ bài xích, ρ > 0 thì quan hệ hỗ trợ;  
nếu X2 ≤ X2(0.05, 1) thì hai loài có quan hệ ngẫu nhiên. Từ đây xác định được  
các loài có quan hệ hỗ trợ hoặc cạnh tranh hoặc quan hệ ngẫu nhiên với Thủy  
tùng.  
3.3. Quy hoạch khu bảo tồn loài – sinh cảnh thủy tùng  
- Nghiên cứu mối quan hệ của Thông nước với các yếu tố sinh thái làm cơ sở  
lựa chọn sinh cảnh phù hợp với thủy tùng để quy hoạch khu vực bảo tồn insitu  
và exsitu.  
- Tổng hợp kết quả đánh giá xã hội và yêu cầu sinh thái thủy tùng. Phân tích  
chuyên gia và có sự tham gia của các địa phương về khả năng bảo tồn insitu,  
exsitu, nhân giống để xác định quy mô diện tích,vị trí.  
- Đo đạc các phân khu bằng GPS và xây dựng bản đồ quy hoạch khu bảo tồn  
thủy tùng và lập bản đồ bằng GIS – Mapinfo.  
3.4. Xác lập giải pháp bảo tồn và phương hướng phát triển cây thuỷ tùng và  
cải thiện quần thể.  
Dựa trên cơ sở:  
- Thu thập tất cả các tài liệu  
đã nghiên cứu về cây  
Thông nước ở Việt Nam và  
trên thế giới liên quan đến  
công tác bảo tồn để từ đó  
lựa chọn các giải pháp.  
- Nghiên cứu mối quan hệ  
sinh thái loài thủy tùng với  
các loài khác bằng tiêu  
Hội thảo chuyên gia về nhân giống và bảo tồn Thủy tùng tổ chức  
chuẩn χ2 để thiết kế cơ cấu  
ở Đại học Tây Nguyên  
loài trong phục hồi sinh cảnh thủy tùng.  
- Xác định khả năng nhân giống, bảo tồn thủy tùng thông qua hội thảo chuyên  
gia  
- Phân tích đặc điểm quần thể Thủy tùng để xác lập các giải pháp lâm sinh.  
7
3.5. Nghiên cứu đề xuất cơ cấu bộ máy, tổ chức ban quản lý khu bảo tồn loài-  
sinh cảnh thủy tùng  
Căn cứ trên các cơ sở:  
- Các văn bản pháp lý liên quan đến bộ máy khu bảo tồn loài - sinh cảnh  
- Đánh giá nhu cầu thực tế thông qua thảo luận với các Hạt kiểm lâm, trạm  
quản lý bảo vệ rừng thủy tùng và địa phương  
Xây dựng dự án thành lập khu bảo tồn loài –  
sinh cảnh Thủy tùng  
Thiết lập cơ sỡ  
Đánh giá hiện  
trạng quản lý  
bảo tồn thủy  
tùng  
dữ liệu sinh  
trưởng, sinh  
thái cá thể và  
quần thể thủy  
tùng  
Đề xuất bộ  
máy ban quản  
lý bảo tồn  
Quy hoạch khu  
bảo tồn  
Xây dựng giải  
pháp bảo tồn  
Điều tra  
sinh thá i  
quần thể  
Đánh giá  
XH, bảo  
tồn  
Hội thảo  
chuyên  
gia  
Số liệu  
thứ cấp  
Văn bản  
Điều tra  
cây thủy  
tùng  
Phâ n tí ch  
chuyên  
gia  
Thảo luận  
với cấp quản  
lý  
Quan hệ  
loài  
SWOT  
Quan hệ  
sinh thá i  
loài  
Mô hì nh:  
V = f(D, H)  
A = f(D)  
PRA:  
Hộ liên  
quan  
GIS bản  
đồ  
Phâ n tí ch  
lâm học  
Hình 1: Sơ đồ hệ thống phương pháp nghiên cứu lập dự án bảo tồn loài – sinh cảnh thủy tùng  
V.  
NHỮNG THÔNG TIN CƠ BẢN CỦA DỰ ÁN  
Tên dự án: “Dự án bảo tồn loài – sinh cảnh Thủy tùng tại Đăk Lăk”  
Cơ quan quyết định đầu tư: Uỷ ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk  
Chủ đầu tư: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đăk Lăk.  
Đơn vị thực hiện: Ban quản lý Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Thủy tùng tại  
Dak Lak trực thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Dăk Lăk.  
Cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân phối hợp thực hiện dự án: Bảo tồn loài và  
sinh cảnh thủy tùng là vấn đề mới và có rất nhiều thử thách, không chỉ đơn thuần là bảo  
vệ quần thể hiện có mà phải có giải pháp cải thiện quần thể, phát triển số lượng cá thể  
và quần thể bền vững; vì vậy khu bảo tồn cần có sự phối hợp chặt chẻ với các cơ quan  
   
8
ban ngành, các tổ chức cá nhân, các cấp chính quyền địa phương; đồng thời có sự hợp  
tác nghiên cứu với các tổ chức trong và ngoài nước.  
Bảng 1: Các cơ quan, tổ chức nghiên cứu trong và ngoài nước cần hợp tác để thực hiện dự án  
Quốc gia  
Cơ quan, tổ chức  
Lĩnh vực nghiên cứu  
Quốc tế  
IUCN (Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế  
giới)  
Bảo tồn hệ sinh thái loài đặc  
hữu  
Việt Nam  
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên. Đại  
học Quốc gia Tp. HCM  
Trường Đại học Đà Lạt  
Di truyền quần thể, cá thể, nhân  
giống thủy tùng bằng mô  
Nhân giống bằng nuôi cấy mô  
nt  
nt  
nt  
Viện khoa học Nông Lâm nghiệp Tây  
Nguyên  
Đại học Tây Nguyên  
Nhân giống bằng hom, ghép  
Biện pháp lâm sinh cải thiện  
quần thể, nuôi cấy mô Thủy  
tùng  
Thời gian thực hiện dự án: từ 2011 – 2015.  
Tổng kinh phí đầu tư: 45,9 tỷ đồng  
- Ngân sách trung ương: 20,0 tỷ đồng  
- Ngân sách tỉnh Dăk Lăk: 20,9 tỷ đồng  
- Huy động sự tài trợ của các tổ chức quốc tế bảo tồn thiên nhiên để bảo tồn  
loài đặc hữu còn lại duy nhất ở Việt nam thông qua dự án nghiên cứu  
chuyển giao công nghệ gen, nhân giống hiện đại. Dự kiến kêu gọi được:  
5,0 tỷ  
 
9
Phần II  
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CÁC KHU VỰC PHÂN  
BỐ THỦY TÙNG  
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA 3 XÃ CÓ PHÂN BỐ THỦY TÙNG  
1. Khu vực Trấp Kso  
Khu vực Trấp Ksơ thuộc xã Ea Hồ, huyện Krông Năng. Vùng này có địa hình  
bằng thấp, độ dốc phổ biến từ 0 – 80, nằm giữa các dãy đồi thoải dần theo hướng từ Tây  
Bắc đến Đông Nam, độ cao trung bình 390 – 420m so với mặt nước biển, địa hình ít bị  
chia cắt.  
Đất đai được tạo thành trên nguồn gốc đá mẹ Bazan, do hoạt động phun tào của  
núi lửa nên đất rất màu mở, đất có tầng dày, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc  
biệt là cây công nghiệp lâu năm.  
Vùng Trấp Kso nằm trong vùng khí hậu cao nguyên nóng ẩm, khí hậu có hai màu  
rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 11, trong mùa mưa lượng mưa tập trung đến  
80 – 90% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Mùa khô  
nắng nóng, độ ẩm không khí thấp. Nhiệt độ trung bình năm là 220C, cao nhất là 37,50C,  
thấp nhất là 100C, tổng số giờ nắng trong năm là 2.483 giờ. Lượng mưa trung bình năm  
là 1.500mm, năm có lượng mưa lớn nhất là 1.750mm; năm có lượng mưa ít nhất là  
1.125mm. Số ngày mưa trung bình là 167 ngày/năm. Độ ẩm trung bình năm 82%, tháng  
8 có độ ẩm cao nhất đạt 90%, tháng 4 có độ ẩm thấp nhất là 75%. Nằm trong vùng khí  
hậu nhiệt đới gió mùa nên địa phương chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính: Gió mùa  
Tây Nam trong mùa mưa và gió Đông bắc thổi mạnh trong mùa khô, tốc độ gió đạt 2,4  
– 5,4m/giây.  
Địa phương nằm trong vùng lưu vực đầu nguồn của sông Ba, nên nguồn nước  
mặt không lớn, mật độ sông suối trong vùng đạt 0,37 – 0,50km/km2. Đáng kể nhất trong  
vùng có hai hệ thống sông Krông Hnăng và sông Krông Buk, ngoài ra còn có hệ thống  
ao hồ và các suối nhỏ.  
Khu vực phân bố thủy tùng ở đây nằm trong một vùng trũng kéo dài, đất phù sa  
được bồi, trước đây đó là một vùng phân bố thủy tùng thành một dải theo ven suối đầu  
nguồn, nhưng do thời gian trước đây chưa nhận biết được cây thủy tùng quý hiếm nên  
đã bị chặt phá để làm ruộng nước, đến nay chỉ còn sot lại một quần thể nhỏ ở Trấp K’Sơ  
đang được bảo vệ bởi Hạt kiêm lâm Krông Năng.  
       
10  
2. Khu vực Ea Ral  
Khu vực Thủy Tùng Ea Ral, nằm trên địa bàn xã Ea Ral, huyện Ea H’Leo. Vùng  
này có địa hình dạng đồi thoải lượn sóng, có độ cao 530m so với mực nước biển. Vùng  
trũng ngập nước phân bố Thủy Tùng ở Ea Ral tiếp giáp với đất sản xuất nông nghiệp  
của người dân địa phương. Đất đai ở dạng địa hình này chủ yếu là dạng đất đỏ bazan  
tầng dày, thích hợp cho việc phát triển cây công nghiệp dài ngày nên người dân địa  
phương đã chặt phá rừng để trồng cà phê, điều và các loại cây công nghiệp lâu năm  
khác.  
Theo số liệu của trạm khí tượng thủy văn Ea H’leo, khu vực này chịu ảnh hưởng  
chung của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất khí hậu cao nguyên nhiệt  
đới ẩm với nền nhiệt độ cao hầu như quanh năm, biên độ dao động nhiệt ngày đêm dao  
động từ 8-100C. Trong khi đó lượng mưa phân bố theo mùa rõ rệt và không đồng đều  
trong năm. Nhiệt độ trung bình năm là 23-240C, nhiệt độ cao nhất xảy ra vào tháng 3, 4  
là khoảng 31,80C, nhiệt độ thấp nhất xảy ra vào khoảng tháng 12, tháng 1 là 7,90C. Đặc  
điểm nổi bật trong chế độ nhiệt của khu vực này là biên độ nhiệt giữa ngày và đêm dao  
động từ 80C – 100C. Tổng tích nhiệt trong năm khoảng 8.000 – 8.5000C.  
Lượng mưa và phân bố mưa trong năm: Đây là khu vực có lượng mưa tương đối  
lớn. Tổng lượng mưa trung bình năm khoảng 1937.9 mm. Mưa liên tục từ tháng 5 đến  
cuối tháng 10 trong năm, lượng mưa trung bình tháng 260.5mm, chiếm khoảng 92%  
lượng mưa hàng năm; mùa khô bắt dầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa  
trung bình tháng 35.4mm, chỉ chiếm từ 8% tổng lượng mưa hàng năm. Số ngày mưa từ  
50 mm trở lên trung bình từ 6 – 8 ngày/tháng. Tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8  
(321mm) và tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 1, 2 (4mm). Số ngày mưa trung bình  
khoảng 197 ngày, tháng có ngày mưa nhiều nhất là tháng 8, 9 (khoảng 23 ngày), tháng  
có ngày mưa ít nhất là tháng 1, 2 (1-2 ngày). Như vậy đặc điểm nổi bật trong khu vực  
này là số ngày mưa trong năm tập chung chủ yếu vào các tháng mùa mưa. Có sự biến  
động khá lớn về lượng mưa từ năm này qua năm khác lượng mưa năm nhiều nhất có thể  
gấp hai lần lượng mưa năm ít nhất. Độ ẩm không khí trong khu vực là 82%. Tổng bức  
xạ thực tế và bức xạ hấp thụ tương đối lớn, trung bình năm tổng bức xạ dao động từ  
150-160Kcal/cm2, chênh lệch giữa các tháng nhỏ, cực đại vào các tháng 3-4, cực tiểu  
vào tháng 9. Cán cân bức xạ có gía trị lớn nhất vào mùa khô, và có thể nói toàn bộ nhiệt  
do mặt trời cung cấp trong thời gian này được dùng để đốt nóng mặt đất và lớp không  
 
11  
khí bên trên, đây cũng là thời kỳ bốc hơi mạnh nhất trong năm gây nên hiện tượng khô  
nóng khắc nghiệt. Lượng bốc hơi phổ biến khoảng 1178 mm/năm (14.9-16.2mm/ngày),  
lượng bốc hơi cao nhất vào tháng 3 (183mm), và nhỏ nhất vào tháng 9 (45mm).  
Trong vùng không có gió bão mà chủ yếu chịu ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới  
và bão từ biển và những vùng lân cận, khí hậu trong vùng mang đặc tính gió mùa và có  
hai mùa rõ rệt. Mùa khô chịu ảnh hưởng của gió Đông, Đông Bắc (tháng 11 đến tháng  
4 năm sau), mùa mưa chịu ảnh hưởng của gió Tây, Tây Nam (tháng 5 đến tháng 10).  
Mùa khô gió thổi mạnh thường cấp 3,4, có đợt gió mạnh lên cấp 5, 6. Mùa mưa gió thổi  
nhẹ hơn thường cấp 2; 3, nếu chịu ảnh hưởng của gió bão thì tốc độ gió lên cấp 6 đến  
cấp 7 gây gẫy đổ cây cối.  
Do ảnh hưởng của địa hình, các sông suối đều có hướng chảy từ Đông sang Tây  
và lưu lượng nước chịu ảnh hưởng theo mùa. Phần lớn sông suối có dòng chảy quanh  
năm, chất lượng nước mặt khá tốt. Các suối lớn có lượng nước quanh năm như: Ea  
Đrăng, Ea Ral… phân bố tương đối đều. Vào mùa khô nhìn chung mực nước các sông  
suối chính hạ xuống thấp dưới 1 mét nên các hệ thống suối nhỏ hầu như khô hẳn. Ea  
Đrăng là suối lớn, bắt nguồn từ phía Đông xã Ea Ral và chảy về hướng Tây, lòng suối  
rộng trung bình 12m và dốc, có thác gềnh thuận lợi cho việc phát triển thủy lợi, thủy  
điện.  
Khu vực Ea Ral có phân bố thủy tùng trong các thung lũng lòng chão, đất được  
bồi và ẩm ướt, tuy nhiên trong quá trình phát triển thủy lợi đã đắp một số đập làm ngập  
úng và chết nhiều diện tích thủy tùng.  
3. Khu vực Cư Né  
Xã Cư Né nằm về phía bắc của huyện Krông Buk, dọc theo đường quốc lộ 14,  
chạy dài 13km. Có vị trí địa lý: Đông giáp xã Ea Toh và Ea Tân của huyện Krông Năng.  
Tây giáp xã Ea Sin, Cư Pưng của huyện Krông Buk. Nam giáp xã Cư Kpô của huyện  
Krông Buk. Bắc giáp xã Ea Nam của huyện Ea H’Leo.  
Xã Cư Né có phần phân bố nằm về phía tây đường quốc lộ 14, có địa hình đồi  
núi, là đầu nguồn của các con suối chảy về hướng tây. Phần phía đông quốc lộ 14 địa  
hình tương đối bằng phẳng, mức độ chia cắt ít, độ cao trung bình 600m so với mặt nước  
biển.  
Đất đai phần lớn của xã là đất đỏ bazan tầng dày, phù hợp cho việc gây trồng các  
loài cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su và các loài cây lâu năm khác.  
 
12  
Xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa trên cao nguyên. Nhiệt độ trung  
bình năm: 21,80C. Nhiệt độ trung bình cao nhất năm: 36,60C. Nhiệt độ trung bình thấp  
nhất năm: 8,80C. Độ ẩm tương đối trung bình năm: 84,6%  
Chế độ gió: Thịnh hành theo 2 hướng chính: Gió Đông bắc thổi vào các tháng  
mùa khô và gió Tây nam thổi vào các tháng mùa mưa. Số giờ nắng trung bình năm:  
2.484 giờ. Lượng mua trung bình năm: 1.547,7mm  
Đặc điềm thuỷ văn: Trên địa bàn có các suối lớn: Suối Krông Búk, Ea Pan Lang,  
Ea Tung, Ea Dirch, Ea Mlung và hồ Krông Búk thượng, chế độ dòng chảy trong năm  
tương đối khác biệt giữa các mùa.  
Vùng này có một dãi thung lũng ngập nước có phân bổ thủy tùng và ở đây với  
các cây cổ thụ thủy tùng còn sót lại cho thấy đây là vùng có phân bố thủy tùng có tuổi  
lớn nhất trong phạm vi của tỉnh, tuy nhiên do phát triển ruộng nước nên đã bị chặt hạ  
gần như hết cá thể, hiện chỉ sót lại những thân cổ thụ với cành lá tái sinh chồi, và trên  
bề mặt các khu ruộng còn chứng tích các bộ rễ thở trên nhiều diện tích ruộng nước.  
II.  
ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI  
1. Khu vực Trấp Ksơ  
Xã Ea Hồ đến thời điểm tháng 9 năm 2010 có 2.190 hộ với 11.473 nhân khẩu,  
trong đó nữ là 5.868 người. Số đồng bào dân tộc thiểu số là 1.416 hộ với 8.092 nhân  
khẩu. Hiện tại toàn xã có 231 hộ nghèo, chiếm 10,6% số hộ trong toàn xã.  
Đời sống người dân chủ yếu dựa vào thu nhập từ nông nghiệp, trong đó cây công  
nghiệp lâu năm, chủ yếu là cà phê chiếm tỷ trọng đáng kể.  
Ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn từng bước được phát triển,  
bảo đảm được lưu thông hàng hóa trên thị trường. Toàn xã có 152 cơ sở sản xuất kinh  
doanh vừa và nhỏ.  
Tổng diện tích đất nông nghiệp đang canh tác đạt 3.325ha, trong đó diện tích cây  
trồng công nghiệp lâu năm chiếm tỷ lệ lớn (2.720ha), cụ thể cà phê 2.636ha; hồ tiêu:  
14ha; cây ăn quả 70ha.  
Diện tích cây trồng hàng năm là 605ha, trong đó lúa nước 310ha, ngô 90ha; rau  
đậu các loại 55ha, khoai lang 6ha, cây thức ăn gia súc…  
Về lâm nghiệp UBND xã đã phối hợp khá tốt với hạt kiểm lâm và người dân thôn  
Trâp Kso trong việc bảo vệ khu rừng đặc dụng Thủy Tùng. Tuy nhiên trong mùa khô  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 168 trang yennguyen 16000 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Dự án Bảo tồn loài - sinh cảnh thủy tùng (Glyptostrobus pensilis) tại tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 5 năm 2011-2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdu_an_bao_ton_loai_sinh_canh_thuy_tung_glyptostrobus_pensili.pdf