Phân tích đa tiêu chí trong thành lập bản đồ dự báo nguy cơ cháy rừng

56  
Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất Tập 58, Kỳ 4 (2017) 56-65  
Phân tích đa tiêu chí trong thành lập bản đồ dự báo nguy cơ  
cháy rừng  
Đỗ Thị Phương Thảo 1,*, Nguyễn Mạnh Hải 1, Vũ Khánh Linh 1, Nguyễn Danh Đức 1  
Khoa Trắc địa - Bản đồ và Quản lý đất đai, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Việt Nam  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
TÓM TẮT  
Quá trình:  
Cảnh báo và ngăn chặn cháy rừng nhằm bảo vệ hệ sinh thái rừng là cần  
thiết và phải được quản lý, giám sát hiệu quả. GIS là một công cụ phân tích  
không gian kết hợp với phân tích đa tiêu chí có thể dự báo, đánh giá mức  
độ, nguy cơ cháy rừng xảy ra ở đâu và khi nào. Khu vực thực nghiệm là  
huyện Ba Vì, nơi có vườn Quốc gia tự nhiên và diện tích rừng lớn nhất Hà  
Nội cần bảo tồn. Chín nhân tố, được chia theo các nhóm vật liệu cháy, tác  
nhân gây cháy, tác nhân thời tiết và nhân tố tự nhiên chiết xuất từ dữ liệu  
viễn thám, bản đồ địa hình, mô hình số độ cao (DEM) được gán trọng số  
khác nhau tùy mức độ ảnh hưởng theo phương pháp phân tích thứ bậc  
(AHP). Bản đồ kết quả dự báo nguy cơ cháy rừng được thể hiện bằng bốn  
mức độ: thấp, trung bình, cao và rất cao, sau đó được so sánh với hệ thống  
quản lý cháy toàn cầu (Global Fire Management System). Kết quả cho thấy  
khu vực cỏ, cây bụi, rừng thông, keo,… và gần khu dân cư là nơi xác suất dễ  
xảy ra cháy rừng cao hơn tại thời điểm mùa khô (chiếm 8.92% tổng diện  
tích) nên cần triển khai trước các biện pháp phòng cháy rừng.  
Nhận bài 15/3/2017  
Chấp nhận 15/7/2017  
Đăng online 31/8/2017  
Từ khóa:  
MCA  
Dự báo cháy  
Ba Vì  
GIS  
AHP  
© 2017 Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Tất cả các quyền được bảo đảm.  
giang, nứa, tre, cỏ tranh, lau sậy khá nhiều,  
chính vì vậy, vườn quốc gia Ba Vì được xếp vào  
1. Mở đầu  
Ba Vì là huyện có diện tích rừng tự nhiên  
lớn nhất của Hà Nội. Quanh chân núi Ba Vì có  
15 đơn vị đang khai thác du lịch. Xung quanh  
vườn quốc gia Ba Vì chủ yếu là người dân tộc  
sinh sống, việc dùng lửa còn bất cẩn, thiếu kiểm  
soát khi làm nương rẫy, vào rừng đốt ong, đốn  
củi, sưởi ấm gia súc,... nên luôn tiềm ẩn nguy cơ  
cháy rừng dẫn đến việc phòng chống cháy rừng  
là cực kỳ quan trọng. Hiện trạng rừng ở Ba Vì  
lại có khối lượng thực bì lớn, các trảng cỏ, rừng  
diện nguy cơ xảy ra cháy rừng cao, theo thống  
kê các vụ cháy rừng trong 3 năm qua, vườn  
quốc gia Ba Vì đã xảy ra 7 vụ cháy. Thực tiễn  
cho thấy, ngoài yếu tố khách quan như sét đánh  
(chưa xảy ra) thì nguyên nhân chính gây cháy  
rừng là do con người. Do vậy để hạn chế cháy  
rừng, việc cần thiết và cấp bách là phải lập các  
bản đồ dự báo, xác định các khu vực, vị trí có  
nguy cơ xảy ra cháy cao giúp các cấp chính  
quyền địa phương tăng cường tuyên truyền,  
vận động cộng đồng dân cư sống gần rừng  
nâng cao ý thức trách nhiệm về công tác bảo vệ,  
phòng cháy chữa cháy rừng.  
_____________________  
*Tác giả liên hệ  
Đỗ Thị Phương Thảo và nnk/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 58 (4), 56-65  
57  
Những năm gần đây, công nghệ GIS đã trở  
thành một công cụ hữu ích và mạnh mẽ trong  
quản lý hợp lý tài nguyên rừng và các yếu tố  
hỏa hoạn (Luis and Carlos, 2008; Yakubu et al.,  
2015). GIS còn là một công cụ quan trọng để  
tích hợp dữ liệu không gian, dữ liệu thuộc tính  
trong phân tích nên có thể xem xét nhiều tác  
nhân ảnh hưởng tới cháy rừng gồm cả các yếu  
tố tự nhiên và yếu tố con người để lập ra các  
bản đồ chi tiết, chính xác hơn về dự báo nguy  
cơ cháy rừng. Cùng với sự phát triển của công  
nghệ GIS, phân tích đa tiêu chí (Multi-Criteria  
Analysis, MCA) ngày càng trở nên phổ biến vì  
nó liên quan đến quá trình so sánh phân cấp  
bậc để đưa ra một ma trận trọng số quyết định  
các yếu tố nào quan trọng hơn gây ra hỏa hoạn  
(Dao Thi Thanh Huyen, Vu Anh Tuan, 2008). Có  
hàng ngàn bài báo khoa học tập trung vào lĩnh  
vực nghiên cứu này với nhiệm vụ quan trọng là  
tìm ra các yếu tố gây cháy và tính toán các  
trọng số. Một nghiên cứu được thực hiện rất  
sớm bởi Chuvieco và Congalton (Chuvieco and  
Congalton, 1989) áp dụng công nghệ viễn thám  
và công nghệ GIS để lập bản đồ cảnh báo một  
khu vực cháy rừng ở Tây Ban Nha sử dụng hình  
ảnh vệ tinh Landsat TM làm cơ sở phân loại  
thảm thực vật và xác định các nhân tố khác, có  
năm yếu tố ảnh hưởng được xếp hạng theo tầm  
quan trọng lần lượt là: thảm thực vật, độ dốc,  
hướng, khoảng cách đến giao thông và độ cao,  
do đó theo nghiên cứu này loại thực vật là quan  
trọng nhất. Nghiên cứu từ Vadrevu et al.,  
(2011), cũng sử dụng phân tích MCA để xử lý  
bốn nhóm thông số là: địa hình, thảm thực vật,  
khí hậu và các yếu tố kinh tế xã hội. Với nghiên  
cứu này, khí hậu đã được thêm vào vì diện tích  
khu vực nghiên cứu lớn. Để đánh giá các thông  
số, nghiên cứu sử dụng quy trình phân cấp thứ  
bậc tính ra các trọng số cho từng yếu tố. Thông  
số kinh tế xã hội có trọng số cao hơn các thông  
số địa hình, có nghĩa là các hoạt động của con  
người được coi là yếu tố quan trọng nhất gây  
cháy rừng. Ở Việt Nam, Lưu Thế Anh và nnk  
(2014), sử dụng ảnh Landsat ETM chụp năm  
2011 xác định tám tham số: loại rừng, nhiệt độ,  
lượng mưa, vận tốc gió, độ dốc, hướng địa hình,  
khoảng cách đến nương rẫy và khoảng cách tới  
dân cư làm đầu vào trong mô hình GIS để cảnh  
báo nguy cơ cháy rừng gây ô nhiễm môi trường  
khói bụi của tỉnh Đắc Lắk. Vũ Thành Minh và  
nnk (2016), sử dụng ảnh Landsat 8 OLI chiết  
tách các yếu tố gây cháy tại vườn quốc gia  
Chàm Chim gồm: mật độ sinh khối, loại hình  
lớp phủ, độ ẩm lá, nhiệt độ bề mặt, khoảng cách  
nguồn nước và khu dân cư sau đó cho điếm,  
gán trọng số và chồng chập các bản đồ chuyên  
đề thể hiện bản đồ nhạy cảm cháy. Các phương  
pháp này cũng có nhiều hạn chế là chưa tính  
hết các nhân tố ảnh hưởng đến cháy rừng, phải  
thu thập được các số liệu đo thực tế cùng thời  
điểm ảnh viễn thám nên sẽ gặp nhiều khó khăn.  
Với mong muốn góp phần tìm kiếm  
phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng có  
hiệu quả, đơn giản và nhanh chóng, bài báo  
trình bày phương pháp tích hợp ảnh vệ tinh và  
phân tích đa tiêu chí từ hệ thống thông tin địa  
lý (GIS) để thành lập bản đồ dự báo nguy cơ  
cháy rừng ở khu vực huyện Ba Vì nhằm xác  
định các khu vực có khả năng cháy rừng, giúp  
cán bộ sở lâm nghiệp, các cơ quan chức năng có  
thể ngăn ngừa, giảm thiểu hoặc có những biện  
pháp hành động phòng tránh hỏa hoạn trong  
mùa thường xảy ra cháy rừng cao.  
2. Khu vực nghiên cứu  
Ba Vì là huyện thuộc vùng bán sơn địa,  
phía tây bắc Hà Nội, diện tích là 424km² với  
hơn 265 nghìn người gồm các dân tộc Kinh,  
Mường, Dao sinh sống tập trung chủ yếu ở  
vùng đồng bằng ven sông, còn nhiều dân sống  
tại vùng đệm của Vườn Quốc gia vẫn giữ tập  
quán đốt rừng làm nương rẫy, mùa đông đốt  
lửa sưởi ấm cho gia súc. Địa hình của huyện  
thấp dần từ phía tây nam sang phía đông bắc,  
chia thành 3 tiểu vùng khác nhau: vùng núi,  
vùng đồi gò, vùng đồng bằng ven sông. Vùng  
núi chiếm 47,5% diện tích, trong đó có Vườn  
Quốc gia Ba Vì với một số đỉnh núi có độ cao  
trên 1000m, độ dốc khá lớn, càng lên cao độ  
dốc càng tăng nên việc đi lại là không thuận lợi.  
Trên khu vực vườn Quốc gia Ba Vì có rất ít suối,  
khả năng giữ nước là rất thấp, đặc biệt khi vào  
mùa khô. Khí hậu khu vực nóng ẩm, nhiệt đới  
gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa  
từ cuối tháng 4 đầu tháng 5 đến tháng 10, mùa  
khô từ tháng 11 đến cuối tháng 4. Lượng mưa  
hàng năm dao động trong khoảng 2500 mm.  
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,4°C. Tháng  
5 đến tháng 8 là thời gian nóng nhất trong năm,  
nhiệt độ có thể đến 37°C. Vào những ngày thời  
58  
Đỗ Thị Phương Thảo và nnk/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 58 (4), 56-65  
tiết rất khô hanh, độ ẩm trong không khí ở đây  
rất thấp.  
nhiều nghiên cứu lại thiên về các vật liệu dễ  
cháy như kiểu và đặc điểm của rừng (Luis and  
Carlos, 2008). MCA là một công nghệ mạnh mẽ  
để đưa ra quyết định phức tạp như trên  
(Krishna et al., 2009). Tùy thuộc vị trí đặc điểm  
khu vực nghiên cứu, các tiêu chí phù hợp hoặc  
tối ưu (các biến) được đưa ra phân tích cụ thể  
(Yakubu et al., 2015). Các biến có thể được chia  
thành nhiều nhóm, ảnh hưởng đến xác suất có  
thể xảy ra cho đối tượng. Bản đồ cho biết xác  
suất đối tượng được gọi là bản đồ các yếu tố,  
cộng với sự giúp đỡ của phân tích thứ bậc xác  
định trọng số (Analytic Hierarchy Process,  
AHP) cho mỗi yếu tố, bản đồ các yếu tố cuối  
cùng được tạo ra bằng cách nhân mỗi bản đồ  
với trọng số của chúng và tổng hợp lại với nhau  
(Khalil et al., 2014). Bản đồ kết quả thu được  
bằng cách nhân các bản đồ các yếu tố cuối  
cùng. Do vậy, trong quá trình xử lý MCA, tầm  
quan trọng của các biến được quyết định bằng  
cách xác định trọng số các yếu tố ảnh hưởng.  
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm Hà  
Nội, tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện Ba  
Vì là 11.160,3 ha, đất có rừng là 10.224,6 ha,  
diện tích rừng tự nhiên là 1.754,8 ha, rừng  
trồng là 8.465,8 ha. Rừng tự nhiên được phủ  
xanh bằng các loại thảm thực vật đa dạng,  
phong phú, có nhiều loài cây họ dầu và cây lá  
rộng, thường rụng lá nhiều vào mùa đông, rất  
dễ cháy.  
3. Phương pháp và dữ liệu  
3.1. Phương pháp nghiên cứu  
Để xác định nơi có thể xảy ra cháy rừng  
cần phải xem xét các yếu tố như: nguồn nhiên  
liệu dễ bắt lửa, các yếu tố là tác nhân gây ra  
cháy và các yếu tố bổ sung như khí hậu, địa  
hình tác động thêm. Nhiều nghiên cứu chỉ tính  
đến các vụ cháy rừng do con người gây ra và  
Hình 1. Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu.  
Đỗ Thị Phương Thảo và nnk/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 58 (4), 56-65  
59  
Hình 2. Cách cho điểm so sánh cặp trong phương pháp AHP.  
Hình 3. Sơ đồ phương pháp thành lập bản đồ dự báo nguy cơ cháy rừng ứng dụng phân tích  
AHP là phương pháp xác định trọng số  
được phát triển bởi Saaty (1977), đây là công  
nghệ mạnh sử dụng trong việc ra các quyết  
định phức tạp và sử dụng rộng rãi trong phân  
tích dựa trên GIS. Một ma trận so sánh cặp  
được sử dụng để ước lượng trọng số của các  
biến. Tầm quan trọng của các biến được các  
chuyên gia cho điểm so sánh theo cặp. Các số  
liệu quy mô để so sánh tầm quan trọng của các  
biến thể hiện trong hình 2. AHP cũng cung cấp  
cách xác định mức độ nhất quán của các  
chuyên gia thông qua tỉ số nhất quán  
(Consistency Ratio, CR) phải nhỏ hơn hoặc  
bằng 10% thì ma trận so sánh cặp mới được sử  
dụng còn nếu giá trị CR này lớn hơn 10% thì  
cần phải thẩm định lại quá trình so sánh cặp  
hoặc loại bỏ ý kiến.  
Đối với khu vực Ba Vì, để có bản chất  
khách quan tự nhiên và cả các hoạt động của  
con người ảnh hưởng đến cháy rừng, các yếu tố  
xem xét được chia thành bốn nhóm: (1) vật liệu  
gây cháy, (2) tác nhân gây cháy, (3) nhân tố  
thời tiết và (4) địa hình tự nhiên, trong mỗi  
nhóm lại có các yếu tố thành phần đặc trưng  
60  
Đỗ Thị Phương Thảo và nnk/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 58 (4), 56-65  
riêng có thể chiết xuất từ các nguồn dữ liệu  
khác nhau. Biểu đồ thể hiện mô hình phương  
pháp MCA được trình bày trong Hình 3.  
năm, (3) rừng trồng ổn định (bạch đàn thông  
keo), (4) cỏ, cây bụi, (5) dân cư và (6) thủy hệ  
bằng phương pháp có kiểm định kết hợp điều  
tra mặt đất. Loại thực vật, khu vực đất nông  
nghiệp, khu vực dân cư có quan hệ chặt chẽ với  
nguy cơ cháy rừng, tuy nhiên loại thực vật có  
ảnh hưởng lớn nhất đối với sự xuất hiện lửa.  
Các khu rừng thông, keo, cỏ, cây bụi có nguy cơ  
cháy tối đa vì dễ bắt lửa, được gán nhãn riêng  
biệt theo 4 cấp độ nhạy cảm (Hình 4a).  
NDVI (Normalized Difference Vegetation  
Index): Mật độ lớp phủ thực vật trên mặt đất  
đại diện bằng chỉ số thực vật NDVI, được tính  
từ ảnh Landsat 8 theo công thức NDVI = (NIR –  
RED) / (NIR + RED). Trong đó NIR là kênh ảnh  
cận hồng ngoại, RED là kênh đỏ (vùng hấp thụ  
và phản xạ cao nhất chất diệp lục của thực vật).  
Sử dụng NDVI là một biến lập bản đồ nguy cơ  
cháy rừng do hiệu ứng thực vật trong việc bắt  
lửa rừng hoặc xác định thảm thực vật khô có  
khả năng cháy cao (Hình 4b).  
3.2. Chuẩn bị dữ liệu  
a. Dữ liệu ảnh viễn thám  
Dữ liệu chính dùng trong nghiên cứu này là  
ảnh viễn thám Landsat 8 OLI_TIR chụp ngày  
01/6/2016 thuộc mùa khô là mùa dễ cháy  
rừng được tải về từ trang điện tử của cơ quan  
địa chất Hoa Kỳ (USGS). Ngoài ra, dữ liệu  
Quickbird có độ phân giải siêu cao (0.6m) cùng  
thời điểm cũng được sử dụng như là tài liệu hỗ  
trợ trong quá trình chọn mẫu phân loại lớp phủ  
bề mặt và trong quá trình kiểm tra kết quả sau  
phân loại.  
b. Dữ liệu bản đồ địa hình  
Bộ dữ liệu Bản đồ địa hình tỉ lệ 1:25.000  
hiện chỉnh năm 2014 (gồm các mảnh F-48-67-  
B-c; F-48-67-B-d; F-48-67-D-a; F-48-67-D-b; F-  
48-67-D-c; F-48-67-D-d) được sử dụng làm tài  
liệu hỗ trợ trong quá trình xác định các mẫu  
giải đoán ảnh; thành lập bản đồ nền cơ sở địa lý  
cho các bản đồ chuyên đề thể hiện các yếu tố  
gây cháy.  
4.2. Nhóm bản đồ tác nhân gây cháy  
Bản đồ khoảng cách tới dân cư: được thành  
lập từ bản đồ địa hình và phân loại khoảng cách  
như Bảng 1. Nhân tố con người được coi là một  
phần quan trọng của tác động cháy rừng. Nhiều  
nghiên cứu đã chỉ ra rằng các vùng có mật độ  
dân số cao hơn sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào tài  
nguyên rừng, do đó, rừng gần khu vực dân sinh  
sống sẽ có khả năng cháy cao hơn (Hình 4c).  
Bản đồ khoảng cách tới giao thông: tại khu  
vực có nhiều hoạt động du lịch quanh vườn  
Quốc gia Ba Vì sẽ dễ xuất hiện các nguy hiểm  
tiềm ẩn (đi bộ, hút thuốc, cắm trại,...). Hệ thống  
giao thông được xét trong nghiên cứu này là  
tuyến đường chính bao quanh khu vực có rừng  
được chiết tách từ bản đồ địa hình rồi tính và  
phân loại khoảng cách gần rừng có thể gây cháy  
(Hình 4d).  
c. Dữ liệu khảo sát thực địa  
Dữ liệu thực địa thu thập vào tháng 4 năm  
2017 được sử dụng để xác định các lớp phủ  
khác nhau; để kiểm tra độ chính xác bản đồ  
phân loại lớp phủ bề mặt. Khảo sát thực địa  
trên cơ sở tuyến được thành lập từ bản đồ địa  
hình và ảnh viễn thám tại một số địa điểm khác  
nhau nhằm kiểm chứng tính chính xác của  
phân loại lớp phủ bề mặt.  
d. Dữ liệu mô hình số độ cao (DEM)  
Dữ liệu DEM số hiệu 20170319115818-  
668013565, độ phân giải 30m được sử dụng để  
phân vùng độ cao, xác định độ dốc và hướng  
địa hình của khu vực nghiên cứu.  
4.3. Nhóm bản đồ điều kiện thời tiết  
Bản đồ nhiệt độ bề mặt: Nhiệt độ bề mặt  
được ước tính thông qua hai bước và theo các  
công thức được đề xuất đối với ảnh Landsat 8.  
4. Kết quả và thảo luận  
4.1. Nhóm bản đồ nguyên liệu cháy  
Bản đồ phân loại lớp phủ: Lớp phủ bề mặt  
được phân loại từ ảnh Landsat 8 theo 6 lớp  
khác nhau: (1) nông nghiệp, (2) cây trồng lâu  
Đỗ Thị Phương Thảo và nnk/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 58 (4), 56-65  
61  
(a)  
(c)  
(b)  
(d)  
(e)  
(f)  
(h)  
(k)  
(g)  
Hình 4 Các bản đồ thành phần xác định khả năng cháy rừng khu vực Ba Vì.  
62  
Đỗ Thị Phương Thảo và nnk/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 58 (4), 56-65  
Bảng 1. Cấp độ ảnh hưởng tới cháy rừng và trọng số cho các bản đồ thành phần.  
Bản đồ thành phần  
Trọng số  
Đối tượng  
Cho điểm  
Mức ảnh hưởng  
Thấp  
Cây trồng lâu năm  
1
Dân cư, nông nghiệp  
Rừng bạch đàn thông keo  
Cỏ và cây bụi,  
2
3
4
1
2
Trung bình  
Cao  
Lớp phủ  
0,30  
Rất cao  
Thấp  
> 2000 m  
1500 m  
Trung bình  
Khoảng cách dân cư  
Khoảng cách giao thông  
Nhiệt độ bề mặt  
Chỉ số NDVI  
0,15  
0,11  
0,05  
0,21  
0,07  
1000 m  
500 m  
3
4
1
2
3
4
1
2
Cao  
Rất cao  
Thấp  
> 3000 m  
2000 m  
Trung bình  
Cao  
1000 m  
500 m  
Rất cao  
Thấp  
22o C đến 24o C  
24,1o C đến 26o C  
Trung bình  
26,1o C đến 30o C  
30,1o C đến 34o C  
< 0  
3
4
1
2
3
Cao  
Rất cao  
Thấp  
0 đến 0,2  
Trung bình  
Cao  
0,21 đến 0,3  
0,31 đến 0,55  
> 0  
4
1
2
Rất cao  
Thấp  
- 0,31 đến 0  
Trung bình  
Chỉ số ẩm lá  
- 0,41 đến – 0,3  
- 0,5 đến – 0,4  
3
4
1
2
Cao  
Rất cao  
Thấp  
690 m đến 1264 m  
360 m đến 690 m  
Trung bình  
Phân vùng độ cao  
0,02  
130 m đến 360 m  
3
Cao  
Dưới 130 m  
0 đến 1,5o  
4
1
2
Rất cao  
Thấp  
1,51 đến 3,5o  
Trung bình  
Phân vùng độ dốc  
0,03  
0,05  
3,51 đến 6,5o  
6,51 đến 21,5o  
Đông Bắc, Đông  
Bắc. Đông Nam  
Nam, Tây Bắc  
Tây, Tây Nam  
3
4
1
2
3
4
Cao  
Rất cao  
Thấp  
Trung bình  
Cao  
Hướng dốc địa hình  
Rất cao  
Đỗ Thị Phương Thảo và nnk/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 58 (4), 56-65  
63  
Hình 5. Bản đồ dự báo nguy cơ cháy rừng.  
Bộ ảnh Landsat 8 có hai kênh hồng ngoại  
nhiệt dùng để tính nhiệt độ là kênh 10 và kênh  
11. Vì thiếu các giá trị thực đo để hiệu chỉnh  
nhiệt độ, nghiên cứu này chỉ sử dụng kênh ảnh  
10 vì khoảng bước sóng kênh 10 hẹp, giúp bức  
xạ phản xạ lại có độ phân giải cao, nhờ đó mà  
sự khác biệt nhiệt độ giữa các loại bề mặt được  
nhận biết rõ ràng. Nhiệt độ cao làm nhiên liệu  
khô hơn nên dễ bị cháy hơn (Hình 4e).  
Bản đồ độ ẩm lá: Để xác định độ ẩm trong  
thực vật, chỉ số nước NDWI (Normalized  
Difference Water Index) thường được áp dụng.  
Khoảng bước sóng tối ưu để tính NDWI dùng  
cho độ ẩm lá là từ 0,86 μm đến 1,24 μm, do đó  
NDWI được tính toán bằng công thức NDWI =  
(NIR-MIR) / (NIR+MIR). Đối với Landsat 8,  
kênh ảnh 5 (NIR) và kênh 6 (MIR) là hai kênh  
ảnh thích hợp nhất để tính độ ẩm lá thực vật  
(Hình 4f).  
4.4. Nhóm bản đồ địa hình tự nhiên  
Bản đồ phân vùng độ cao: được xem là yếu  
tố ảnh hưởng đến cháy rừng vì độ cao liên  
quan đến lượng mưa và nhiệt độ. Lượng mưa  
thường tăng lên với sự gia tăng độ cao. Do đó,  
xác suất cháy ít hơn ở vùng cao hơn. Mặt khác,  
càng cao dẫn đến nhiệt độ thấp hơn, nghĩa là sẽ  
có khả năng cháy thấp hơn ở vùng cao hơn  
(Hình 4g).  
Bản đồ phân vùng độ dốc: là yếu tố cực kỳ  
quan trọng có ảnh hưởng lớn đến tốc độ cháy  
khi nó đang lan rộng. Dốc cao thì độ lan rộng  
nhanh hơn là dốc thấp bởi quá trình đối lưu  
hiệu quả hơn (Hình 4h).  
64  
Đỗ Thị Phương Thảo và nnk/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 58 (4), 56-65  
Bản đồ hướng địa hình: là một trong những  
cháy rừng để đánh giá độ chính xác tổng thể.  
yếu tố có một mối quan hệ mạnh mẽ với ánh  
sáng mặt trời và gió. Theo đặc điểm địa lý của  
vùng nghiên cứu, ánh sáng mặt trời chiếu từ  
hướng tây, tây nam dẫn đến nhiệt độ ở phía đó  
cao hơn so với các sườn núi phía khác. Bản đồ  
hướng địa hình được chuyển đổi từ dữ liệu  
DEM để phân cấp theo hướng ưu tiên khác  
nhau (Hình 4k).  
Mặc dù việc so sánh trực tiếp giữa hai bản đồ  
này không hoàn toàn hợp lệ do tính thời gian,  
không gian và tính năng động của các sự kiện  
hỏa hoạn, tuy nhiên cũng khẳng định được khả  
năng tiên đoán của bản đồ dự báo nguy cơ cháy  
rừng khu vực Ba Vì.  
Bảng 2: Các mức độ dự báo nguy cơ cháy rừng.  
Nguy cơ  
cháy  
Thấp  
Trung bình 17846,55  
Cao  
Rất cao  
Diện tích Phần trăm  
Cấp  
4.5. Bản đồ dự báo nguy cơ cháy rừng  
(ha)  
(%)  
15,69  
43,34  
32,05  
8,92  
Bản đồ dự báo nguy cơ cháy rừng là một  
bản đồ kết hợp của cả dữ liệu khách quan cũng  
như chủ quan (ý kiến đánh giá từ chuyên gia).  
Bản đồ các yếu tố thành phần sẽ được cho  
điểm, phân tích AHP và nhân trọng số. Trọng số  
các nguyên nhân gây ra nguy cơ cháy khác  
nhau, ở mức độ thứ nhất của hệ thống phân cấp  
là kiểu loại thảm thực vật, chỉ số NDVI, sau đó  
là khoảng cách đến dân cư, giao thông, tiếp đến  
là do ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm lá, cuối  
cùng là ảnh hưởng địa hình khu vực với độ cao,  
độ dốc và hướng địa hình (Bảng 1). Các trọng  
số này được tính toán dựa trên ma trận kết hợp  
các phán đoán thu được từ các chuyên gia về  
lĩnh vực lâm nghiệp và có tỷ lệ nhất quán thấp  
hơn 0,1 cho khu vực nghiên cứu.  
I
II  
III  
IV  
6461,19  
13196,43  
3670,20  
5. Kết luận  
Nguyên nhân dẫn đến cháy rừng rất đa  
dạng, mặc dù số lượng đám cháy đã xảy ra  
không đáng kể trên khu vực nghiên cứu nhưng  
việc xây dựng các bản đồ dự báo nguy cơ cháy  
theo hướng phân tích đa tiêu chí là cần thiết để  
từ đó các cấp quản lý cần phải có quy hoạch  
đúng đắn về giao thông, dân cư hoặc xây dựng  
hàng rào phòng cháy xung quanh khu vực có  
nguy cơ cháy cao.  
Cách tiếp cận kết hợp viễn thám, GIS và  
tích hợp đa tiêu chí sử dụng phân tích thứ bậc  
AHP có thể được sử dụng hiệu quả để dự báo  
khu vực dễ cháy rừng từ một số yếu tố cơ bản.  
Trong nghiên cứu này, nguy cơ hỏa hoạn ở khu  
vực rừng vườn Quốc gia Ba Vì được phân tích  
theo ưu thế loại thảm thực vật, con người, điều  
kiện khí hậu và địa hình tự nhiên. Kết quả khá  
hữu ích trong việc mô tả các vùng "nguy cơ hỏa  
hoạn" ở cấp địa phương cũng có thể được sử  
dụng như là một công cụ để giải quyết mối  
quan tâm về nguy cơ hỏa hoạn quy mô toàn  
quốc hoặc lớn hơn. Các bản đồ yếu tố thành  
phần liên quan có thể linh hoạt thay đổi tùy  
theo dữ liệu được cung cấp và tùy theo đặc  
điểm địa lý của khu vực nghiên cứu để tăng độ  
chính xác dự báo nguy cơ cháy trong tương lai.  
Trong bản đồ dự báo nguy cơ cháy rừng,  
các cấp cảnh báo được xếp hạng từ rất thấp  
đến rất cao (Bảng 2) dựa theo Quyết định  
127/QĐ-BNN- KL về xếp hạng nguy cơ cháy  
của Cục kiểm lâm ban hành ngày 11 tháng 12  
năm 2000. Những kết quả này chỉ ra các khu  
vực xã Quang Minh, xã Ba Trại và phía tây xã  
Ba Vì cho thấy nguy cơ hỏa hoạn từ "cao đến  
rất cao" so với các xã khác có giá trị nguy cơ  
hỏa hoạn "trung bình đến thấp". Ngoài ra, nguy  
cơ hỏa hoạn khác nhau từ "trung bình đến cao"  
cho các khu vực khác nhau của cùng một xã,  
chẳng hạn như đối với các xã dưới chân núi  
vườn Quốc gia Ba Vì. Diện tích nguy cơ cháy  
rừng cần cảnh báo theo bản đồ chiếm 8,92%  
tổng diện tích, diện tích này có thể xê dịch tùy  
thuộc vào tiêu chí nào được ưu tiên đề xuất.  
Độ chính xác của bản đồ dự báo nguy cơ  
cháy rừng được kiểm tra bằng cách sử dụng  
một trong số các bản đồ dự báo cháy sẵn có là  
bản đồ quản lý toàn cầu về hỏa hoạn (Global  
Fire Management System) trích cho khu vực  
nghiên cứu và phủ lên bản đồ dự báo nguy cơ  
Tài liệu tham khảo  
Chuvieco, E. and Congalton, R. G., 1989. Application  
of remote sensing and geographic information  
system to forest fire hazard mapping. Remote  
Sens. Environ, 29, 147-159.  
Đỗ Thị Phương Thảo và nnk/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 58 (4), 56-65  
65  
Dao Thi Thanh Huyen and Vu Anh Tuan, 2008.  
Applying GIS and Multi-criteria evaluation in  
forest fire risk zoning in Son La province,  
Ngọc và Lê Bá Biên, 2014. Ứng dụng tư liệu ảnh  
viễn thám và công nghệ GIS thành lập bản đồ  
nguy cơ cháy rừng tỉnh Đăk Lăk. Tạp chí Các  
khoa học về trái đất, 36(3), 252-261.  
Vietnam.  
International  
Symposium  
on  
Geoinformatics for Spatial Infrastructure  
Development in Earth and Allied Sciences.  
Saaty T.L., 1977. A scaling method for priorities in  
hierarchical structures. Journal of Mathematical  
Psychology, 15, 234-281.  
Global  
Fire  
Management  
System:  
Suryabhagavan K. V., Alemu M. and Balakrishnan  
M., 2016. GIS-based multi-criteria decision  
analysis for forest fire susceptibility mapping: a  
case study in Harenna forest, southwestern  
Ethiopia. Tropical Ecology 57(1): 33-43.  
Khalil V. K., Khalil O., and Siavash S. K., 2014. Forest  
Fire Risk Assessment Using Multi -Criteria  
Analysi Criteria Analysis: A Case Study Kaleybar  
Forest s: A Case Study Kaleybar Forests.  
International Conference on Agriculture,  
Environment and Biological Sciences (ICFAE’14)  
June 4-5, 2014 Antalya (Turkey).  
Vadrevu, K. P., Eaturu, A. and Badarinath, K. V. S.,  
2011. Fire risk evaluation using multicriteria  
analysis - a case study. Environ Monit Assess, 166,  
223-239.  
Krishna P. V., Anuradha E. and Badarinath K. V. S.,  
2009. Fire risk evaluation using multicriteria  
analysis - a case study, Environ Monit Assess, DOI  
10.1007/s10661-009-0997-3.  
Vũ Thành Minh và Lê Thị Thu Hiền, 2015, Ứng  
dụng GIS và viễn thám để thành lập bản đồ nhạy  
cảm cháy tại Vườn Quốc gia Tràm Chim, Tạp chí  
phát triển KH&CN tập 18 số T16, 221-235.  
Luis Diaz-Balteiro and Carlos Romero, 2008.  
Review: Making forestry decisions with multiple  
criteria: A review and an assessment. Forest  
Ecology and Management 255, 3222–3241.  
Yakubu I., Mireku-Gyimah D. and Duker A. A., 2015.  
Review of methods for modelling forest fire risk  
and hazard. African Journal of Environmental  
Science and Technology, Vol 9(3), pp 155-165.  
Lưu Thế Anh, Trần Anh Tuấn, Hoàng Thị Huyền  
ABSTRACT  
Multi-criteria analysis in mapping of forest fire risk prediction  
Thao Phuong Thi Do 1,*, Hai Manh Nguyen 1, Linh Khanh Vu 1, Duc Danh Nguyen 1  
1 Faculty of Geomatics and Land Administration, Hanoi University of Mining and Geology, Vietnam.  
Warning and preventing forest fires to protect forest ecosystems is essential and must be managed  
and monitored effectively. GIS is a superior spatial analysis tool combined with a multi-criteria analysis  
that predicts and assesses where and when forest fire risks occur. The experimental area is Ba Vi  
district, where the natural national park was located as the largest forest acreage in Ha Noi that needs to  
be preserved. Nine factors, divided into groups of combustible materials, fire agents, weather agents,  
and natural elements extracted from remote sensing data, topographic maps, Digital Elevation Models  
(DEMs) were assigned different weights depending on the level of influence, according to Analytic  
Hierarchy Process (AHP). The result map of forest fire occurrence prediction is presented in four levels:  
low, medium, high and very high, then compared to the Global Fire Management System. The result  
showed grass, shrubs, pine forest, acacia, etc. and area that near the residential has the higher  
probability of forest fires at dry season (8.92% of total area), needs to perform effective forest fire  
prevention first.  
Keywords: MCA, fire forecast, Ba Vi, GIS, AHP.  
pdf 10 trang yennguyen 136260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích đa tiêu chí trong thành lập bản đồ dự báo nguy cơ cháy rừng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_da_tieu_chi_trong_thanh_lap_ban_do_du_bao_nguy_co.pdf