Hoạt động sinh kế từ rừng của cộng đồng địa phương tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La

Kinh tế & Chính sách  
HOẠT ĐỘNG SINH KẾ TỪ RỪNG CỦA CỘNG ĐỒNG ĐỊA PHƯƠNG  
TẠI HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA  
Trịnh Hải Vân  
Trường Đại học Lâm nghiệp  
TÓM TẮT  
Ở Việt Nam, trong nhiều năm trở lại đây, vấn đề sinh kế và phát triển sinh kế bền vững được rất  
nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là sinh kế cho những người dân sống phụ thuộc vào rừng.  
Nghiên cứu này được thực hiện ở 3 xã: xã Bon Phặng, xã Phổng Lái, xã Co Mạ của huyện Thuận  
Châu, tỉnh Sơn La. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp chủ yếu là bộ công cụ đánh giá nông thôn  
có sự tham gia của người dân (PRA) như: phỏng vấn hộ gia đình, thảo luận nhóm, phân tích SWOT  
kết hợp với phương pháp khảo sát hiện trường. Kết quả nghiên cứu đã đánh giá được thực trạng các  
hoạt động sinh kế từ rừng của người dân địa phương, bao gồm: sản xuất nông nghiệp trên đất chưa có  
rừng rừng, chăn thả gia súc trên đất rừng, trồng rừng và trồng LSNG, khai thác các sản phẩm từ rừng,  
hưởng lợi từ chi trả dịch vụ môi trường rừng. Trên cơ sở đó bài báo đã đề xuất được một số giải pháp  
phát triển các hoạt động sinh kế ở địa phương gắn với bảo vệ và phát triển rừng.  
Từ khóa: Hộ gia đình, huyện Thuận Châu, nguồn vốn, sinh kế.  
đúng đắn thực trạng các hoạt động sinh kế từ  
rừng để từ đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp  
cải thiện sinh kế gắn với quản lý bảo vệ và  
phát triển tài nguyên rừng.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Sơn La là một tỉnh miền núi của vùng Tây  
Bắc Việt Nam, với lợi thế rừng và đất lâm  
nghiệp chiếm tới hơn 40% diện tích đất tự  
nhiên, cùng với địa hình ¾ là đồi núi và cao  
nguyên, Sơn La có nhiều tiềm năng để phát  
triển lâm nghiệp. Năm 2016, tổng diện tích  
rừng của tỉnh Sơn La là 656.277ha bao gồm  
rừng tự nhiên là 643.418ha, rừng trồng là  
12.859 ha (Niên giám thống kê tỉnh Sơn La,  
2016).  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Mục tiêu nghiên cứu  
- Đánh giá được thực trạng các hoạt động  
sinh kế của người dân sống phụ thuộc vào rừng  
tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La;  
- Đề xuất được một số giải pháp cải thiện  
sinh kế từ rừng gắn với bảo vệ và phát triển  
rừng cho người dân tại địa phương.  
2.2. Nội dung nghiên cứu  
Thuận Châu là huyện có diện tích rừng hiện  
có đứng thứ 2 ở tỉnh Sơn La, với 71.816 ha và  
là huyện có diện tích rừng trồng mới qua các  
năm tương đối cao và đồng đều. Huyện Thuận  
Châu có 29 xã, có nhiều thành phần dân tộc  
thiểu số sinh sống như: Thái, Mông… Cuộc  
sống của người dân huyện Thuận Châu chủ  
yếu dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp và có  
nhiều hoạt động sinh kế phụ thuộc rất nhiều  
vào rừng như: gỗ, gỗ củi, các loại LSNG đến  
việc tạo ra thu nhập bằng tiền từ các hoạt động  
như canh tác nương rẫy, trồng rừng, chăm sóc  
bảo vệ rừng…  
- Khái quát tình hình sử dụng đất lâm  
nghiệp tại khu vực nghiên cứu (KVNC);  
- Khái quát về các nguồn vốn sinh kế tại  
KVNC;  
- Phân tích thực trạng các hoạt động sinh kế  
từ rừng của người dân tại KVNC;  
- Đề xuất một số giải pháp cải thiện sinh kế  
từ rừng gắn với bảo vệ, phát triển rừng tại  
KVNC.  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
- Nghiên cứu và phân tích tài liệu thứ cấp:  
Kế thừa các nguồn tài liệu tại địa phương, các  
kết quả đã có trước đây của các công trình  
Xuất phát từ thực tiễn trên, nghiên cứu này  
được thực hiện với mong muốn đánh giá được  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
141  
Kinh tế & Chính sách  
khoa học trên cơ sở phân tích có chọn lọc.  
- Lựa chọn địa điểm nghiên cứu: 6 bản của  
3 xã ở huyện Thuận Châu được lựa chọn đáp  
ứng các tiêu chuẩn như: có rừng, người dân có  
các hoạt động sinh kế từ rừng và đất lâm  
nghiệp, thuộc thành phần dân tộc thiểu số:  
Thái, Mông. Đề tài đã lựa chọn được 4 bản  
người Thái là bản Lốm Hượn, bản Lẩy B, Bản  
Lái Lè, bản Mớ và 2 bản người Mông là bản  
Mô Cổng, bản Co Mạ.  
+ Phỏng vấn hộ gia đình: lựa chọn 20 hộ gia  
đình/1 bản để phỏng vấn. Các HGĐ được chọn  
là những hộ gia đình thuộc thành phần dân tộc  
Thái hoặc Mông; có các hoạt động sinh kế từ  
rừng và đất lâm nghiệp chưa có rừng. Tổng số  
hộ phỏng vấn của 6 bản là 120 hộ;  
+ Sử dụng các công cụ PRA khác như: thảo  
luận nhóm, phân tích SWOT...  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Khái quát tình hình sử dụng đất lâm  
nghiệp tại khu vực nghiên cứu  
- Sử dụng các công cụ đánh giá nông thôn  
có sự tham gia (PRA):  
Ở 3 xã nghiên cứu là xã Bon Phặng, xã  
Phổng Lái, xã Co Mạ có diện tích đất lâm  
nghiệp như bảng 1.  
+ Phỏng vấn bán định hướng tại xã và thôn  
điểm;  
Bảng 1. Thống kê diện tích đất lâm nghiệp của 3 xã nghiên cứu  
Tổng diện tích đất  
lâm nghiệp  
Đất rừng  
đặc dụng  
Đất rừng  
phòng hộ  
Đất rừng  
sản xuất  
TT  
Tên xã  
1
Xã Bon Phặng  
1.802,87  
-
1.002,12  
800,75  
2
3
Xã Co Mạ  
13.765,00  
7.200,07  
10.077,2  
-
791,97  
2.895,84  
91,68  
Xã Phổng Lái  
7.108,39  
(Nguồn: UBND tỉnh Sơn La năm 2018)  
Xã Co Mạ có diện tích đất lâm nghiệp nhiều  
nhất trong 3 xã, các loại rừng cũng đa dạng bao  
gồm cà 3 loại. Xã Phổng Lái có diện tích đất  
lâm nghiệp đứng thứ 2, chủ yếu là đất rừng  
phòng hộ. Xã Bon Phặng có diện tích đất lâm  
nghiệp ít nhất.  
Bảng 2. Diện tích đất nông nghiệp của 6 bản nghiên cứu  
(Đơn vị tính:ha)  
Tổng diện  
tích đất  
Diện tích  
đất vườn  
Tổng diện Diện tích  
Tổng diện  
tích đất  
SXNN  
Diện tích  
đất SXNN  
TB/hộ  
Tổng  
số hộ  
tích đất  
lâm  
đất lâm  
nghiệp  
TB/hộ  
TT  
Tên bản  
vườn hộ và hộ và đất ở  
đất ở  
1,3  
TB/hộ  
0,0228  
0,0147  
0,0278  
0,0220  
0,0060  
0,0068  
nghiệp  
1
2
3
4
5
6
Bản Lốm Hượn  
Bản Lẩy B  
Mô Cổng  
Lái Lè  
57  
25,00  
26,50  
79,78  
48,00  
28,40  
36,10  
0,4386  
0,2431  
0,6332  
0,3200  
0,3422  
0,3505  
78,50  
131,80  
944,72  
352,64  
541,42  
116,75  
1,3772  
1,2092  
7,4978  
2,3509  
6,5231  
1,1335  
109  
126  
150  
83  
1,6  
3,5  
3,3  
Bản Co Mạ  
Bản Mớ  
0,5  
103  
0,7  
(Nguồn: Xã Bon Phặng, Phổng Lái, Co Mạ năm 2018)  
Ở cả 6 bản nghiên cứu đều có đất sản xuất  
Ở cả 2 bản của người Mông là bản Mô Cổng  
và bản Co Mạ đều có đất lâm nghiệp nhiều hơn  
so với các bản người Thái còn lại.  
lâm nghiệp là lớn nhất, tiếp đến là đất sản xuất  
nông nghiệp và ít nhất là đất vườn hộ và đất ở.  
142  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
Kinh tế & Chính sách  
bình từ 30 đến 50 triệu đồng/năm để đầu tư  
mua Trâu, Bò, máy gặt, máy cấy... một số hộ  
vay vốn làm nhà ở.  
3.2. Khái quát về các nguồn vốn sinh kế của  
các hộ gia đình điều tra tại khu vực nghiên cứu  
a. Nguồn vốn con người  
Số nhân khẩu trung bình của mỗi HGĐ tại 6  
bản nghiên cứu dao động từ 4,3 đến 5,4  
người/hộ, trong khi lực lượng lao động trung  
bình của mỗi hộ từ 2,1 đến 2,8 người/hộ; đa  
các hộ đều sản xuất nông nghiệp theo hướng tự  
cung tự cấp nên nguồn nhân lực vẫn chưa đủ  
để mở rộng sản xuất. Trình độ của lực lượng  
lao động thuộc khá thấp, chủ yếu là lao động  
thuần nông canh tác theo tập quán và kinh  
nghiệm được truyền lại.  
d. Nguồn vốn vật chất  
Về cơ sở hạ tầng: Trong 6 bản nghiên cứu  
có bản Lẩy B đường đi lại khó khăn nhất, toàn  
bộ đường trong thôn là đường đất. Các bản còn  
lại đường đi lại tương đối thuận tiện.  
Về tài sản dùng cho sinh hoạt và công cụ  
sản xuất của các HGĐ điều tra: tỷ lệ HGĐ có  
xe gắn máy để phục vụ sản xuất kinh doanh và  
nhu cầu đi lại ở mức 85 đến 100%. Hầu hết tất  
cả các hộ đều có điện thoại di động để liên lạc,  
có ti vi để phục vụ nhu cầu cập nhật thông tin  
thời sự và giải trí. Ở bản Co Mạ và bản Mớ đều  
ít sử dụng quạt điện vì thời tiết quanh năm mát  
mẻ. Tỷ lệ hộ đầu tư mua các loại máy nông  
nghiệp như máy tuốt lúa, máy sát gạo, máy  
cày, máy bừa... nhằm phục vụ sản xuất nông  
nghiệp trong gia đình và làm dịch vụ cho thuê  
kiếm thêm thu nhập chiếm tỷ lệ từ 10% đến  
40%.  
b. Nguồn vốn tự nhiên  
Xã Co Mạ có tổng diện tích đất tự nhiên lớn  
nhất là 14.657,66 ha và diện tích đất nông  
nghiệp lớn nhất với 12.015,25 (chiếm 82%).  
Xã Bon Phặng có tổng diện tích tự nhiên thấp  
nhất với 3.623,82 và diện tích đất nông nghiệp  
nhỏ nhất với 2.710,06 ha (chiếm 75%). Đất  
chưa sử dụng hiện nay tại 3 xã cũng còn tương  
đối nhiều, phần lớn là đất trống đồi trọc, dự  
kiến trong năm tới sẽ được quy hoạch vào đất  
lâm nghiệp để khoanh nuôi bảo vệ rừng.  
Tại 6 bản nghiên cứu: đều có đất sản xuất  
lâm nghiệp là lớn nhất, tiếp đến là đất sản xuất  
nông nghiệp và ít nhất là đất vườn hộ và đất ở.  
Bản Mô Cổng có diện tích đất lâm nghiệp lớn  
nhất với 944,72 ha, bản Lốm Hượn có diện tích  
đất lâm nghiệp ít nhất với 78,5 ha.  
đ. Nguồn vốn xã hội  
Kết quả điều tra cho thấy: khả năng tham  
gia các lớp tập huấn về quy trình kỹ thuật trồng  
trọt, chăn nuôi do chính quyền địa phương tổ  
chức của các HGĐ ở 6 bản là khá thấp, chủ  
yếu các lớp tập huấn đều cử trưởng bản tham  
gia sau đó về tuyên truyền, phổ biến lại cho  
các HGĐ khác. Người dân trong HGĐ có tham  
gia vào hoạt động của các tổ chức, đoàn thể tại  
khu vực nghiên cứu bao gồm: Hội nông dân,  
Hội Phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội người cao  
tuổi, Đoàn thanh niên...  
c. Nguồn vốn tài chính  
Về vay vốn: Bản Co Mạ thuộc xã vùng III,  
đời sống người dân gặp nhiều khó khăn nên có  
tỷ lệ dùng vốn vay vốn cao nhất là 40%; Bản  
Mô Cổng thuộc xã vùng I nên đời sống khá  
hơn, tỷ lệ hộ dùng vốn vay thấp nhất là 15%;  
các bản còn lại tỷ lệ hộ dùng vốn vay ở mức 20  
đến 35%.  
3.2. Đánh giá thực trạng các hoạt động sinh  
kế từ rừng của người dân tại khu vực  
nghiên cứu  
a. Hoạt động sử dụng đất chưa có rừng để  
sản xuất nông lâm nghiệp  
Tại 6 bản nghiên cứu, hầu hết người dân  
đều sử dụng sức lao động bằng chân tay là chủ  
yếu, chỉ có ít hộ đi làm thuê, buôn bán nhỏ lẻ  
hoặc làm nhà nước. Nhiều hộ nghèo vay vốn  
ngân hàng chính sách xã hội với mức vay trung  
Tại huyện Thuận Châu những năm vừa qua  
tình trạng người dân lấn chiếm đất rừng và đất  
lâm nghiệp để canh tác nương rẫy diễn ra rất  
phổ biến. Ngày 05/4/2018 UBND tỉnh Sơn La  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
143  
Kinh tế & Chính sách  
đã ban hành Quyết định 713 về phê duyệt kết  
quả rà soát, chuyển đổi đất, rừng phòng hộ đầu  
nguồn ít xung yếu sang quy hoạch phát triển  
rừng sản xuất gắn với điều chỉnh quy hoạch 3  
loại rừng huyện Thuận Châu đến năm 2025 và  
định hướng đến năm 2030. Theo đó, những  
diện tích nào thuộc rừng phòng hộ ít xung yếu  
sẽ được quy hoạch thành đất sản xuất nông  
nghiệp, đã có cắm mốc chỉ giới giữa rừng và  
nương rẫy. Tại thời điểm nghiên cứu, ngoài  
những phần diện tích đất canh tác nương rẫy  
đã được sử dụng đúng mục đích theo quy  
hoạch thì vẫn còn xảy ra tình trạng các HGĐ  
lén xâm chiếm đất chưa có rừng để làm  
nương rẫy.  
Bảng 3. Thống kê số lượng hộ, diện tích sản xuất nông nghiệp và thu nhập tạo ra trên  
đất lâm nghiệp chưa có rừng của các HGĐ điều tra  
Thu nhập trung bình  
Số hộ tham Tổng diện  
Tổng thu nhập  
(nghìn đồng/hộ/năm)  
TT  
Tên bản  
gia/số hộ  
điều tra  
tích TB/hộ  
(ha)  
TB (nghìn  
đồng/hộ/năm)  
Ngô  
530  
-
Cà phê  
1.378  
2.060  
-
Sắn  
1
2
3
4
5
6
Bản Lốm Hượn  
Bản Lẩy B  
8/20  
6/20  
0,0530  
0,3750  
0,5855  
0,3090  
0,4510  
-
-
-
-
-
1.907  
2.060  
4.382  
3.598  
5.080  
Bản Mô Cổng  
Bản Lái Lè  
9/20  
4.382  
-
9/20  
3.598  
-
Bản Co Mạ  
14/20  
10/20  
5.080  
Bản Mớ  
0,3575  
2.803  
-
1.250  
2.803  
Trung bình/hộ  
0,3552  
2.132  
1.173  
208  
3.305  
Trung bình một hộ có diện tích canh tác  
xâm lấn là 0,3552 ha/hộ. Hộ người Mông ở  
bản Mô Cổng, xã Phổng Lái có diện tích đất  
rừng xâm lấn để sản xuất nông nghiệp là lớn  
nhất với 0,5855ha/hộ; thấp nhất là hộ người  
Thái ở bản Mớ với 0,3575 ha/hộ. Ở bản Co Mạ  
có tổng thu nhập từ sản xuất nông nghiệp trên  
đất rừng là lớn nhất, trung bình 5.080.000  
đồng/hộ/năm trong khi đó bản Lốm Hượn ít  
nhất với trung bình 1.907.000 đồng/hộ/năm.  
Nguyên nhân chính là ở bản Co Mạ người  
Mông vẫn còn tồn tại tập quán canh tác nương  
rẫy bằng phát đốt, nhiều hộ dân lấn chiếm rừng  
tái sinh và phát vén đầu nương, chân nương.  
b. Hoạt động khai thác các sản phẩm từ  
rừng  
chuồng trại, đồ gia dụng trong gia đình. Số hộ  
tham gia khai thác gỗ nhiều nhất là hộ người  
Mông ở bản Co Mạ, xã Co Mạ (25/20 hộ,  
chiếm 75%), tiếp đến là hộ người Thái ở bản  
Mớ, xã Co Mạ (13/20 hộ, chiếm 65%), ít nhất  
ở hộ người Thái ở bản Lốm Hượn, xã Bon  
Phặng (4/20 hộ, chiếm 20%). Số lần vào rừng  
khai thác gỗ trung bình của các hộ dao động từ  
1,4 lần/hộ/năm đến 3,1 lần/hộ/năm. Lượng gỗ  
khai thác trung bình của mỗi HGĐ dao động từ  
1,25 m3/lần/năm/hộ đến 1,86 m3/lần/năm/hộ.  
- Khai thác gỗ củi: Hầu hết các HGĐ tại 6  
bản nghiên cứu đều có thói quen vào rừng lấy  
gỗ củi. Thu lượm gỗ củi được thực hiện quanh  
năm với sự tham gia của nhiều thành viên  
trong gia đình. Gỗ củi lấy về sử dụng cho hoạt  
động đun nấu phục vụ sinh hoạt trong gia đình,  
người dân không đem bán.  
- Khai thác gỗ: Lấy gỗ về làm nhà là nhu  
cầu thực tế của người dân tại KVNC. Ngoài ra  
gỗ còn phục vụ nhu cầu về sửa chữa, làm  
Bản Co Mạ: Toàn bộ các hộ đều đun củi,  
144  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
Kinh tế & Chính sách  
không sử dụng bếp gas nên có số hộ vào rừng  
lấy gỗ củi là nhiều nhất, với 20/20 hộ; Kết hợp  
với đi làm nương, một tuần hộ người Mông lấy  
gỗ củi từ 2 - 3 lần, lượng gỗ củi lấy mỗi lần  
trung bình 18,5 kg/lần/hộ. Các bản còn lại của  
hộ người Thái như Bản Lẩy B, bản Lái Lè, bản  
Mớ cũng có tỷ lệ số hộ vào rừng lấy củi tương  
đối cao, từ 17 đến 19 hộ. Lượng gỗ củi khai  
thác mỗi lần lớn nhất ở bản Mớ với trung bình  
58,2 kg/lần/hộ, tiếp đến là ở bản Lẩy B với  
trung bình 56,2 kg/lần/hộ.  
chăn nuôi gia súc là lớn nhất. Các bản Lốm  
Hượn, bản Co Mạ, bản Mớ có số hộ vào rừng  
lấy thức ăn gia súc ít hơn vì ở các bản này  
người dân đã chú trọng đến việc trồng cỏ voi  
phục vụ chăn nuôi. Còn lại bản Lái Lè và bản  
Lẩy B có thêm diện tích đất vườn nên người  
dân chủ động hơn trong việc lấy thức ăn gia  
súc.  
- Khai thác măng: Tại KVNC, số hộ khai  
thác măng trung bình dao động từ 5 đến 15 hộ,  
số lần khai thác trung bình dao động từ 3 đến  
10,8 lần/hộ/năm, lượng khai thác măng trung  
bình dao động từ 4,3 kg đến 25,2 kg/lần/hộ.  
Vào mùa măng từ tháng 6 đến tháng 8, các  
HGĐ thường có thói quen lấy măng về để ăn  
hoặc làm măng khô. Trong 6 bản nghiên cứu  
chỉ có duy nhất bản Lẩy hộ người Thái khai  
thác măng sặt để bán, có người dân ở xã  
Chiềng Pấc và Tông Lệnh vào tận nơi thu mua.  
c. Hoạt động sử dụng rừng và đất rừng để  
làm bãi chăn thả trong chăn nuôi  
- Khai thác thức ăn gia súc: Tại KVNC,  
chăn nuôi đại gia súc như Trâu, Bò, Dê, Lợn...  
đóng vai trò quan trọng đối với thu nhập của  
người dân. Hàng ngày người dân thường vào  
rừng để thu hái các loại rau rừng như: chuối  
rừng, ráy dại… để phục vụ chăn nuôi.  
Bản Mô Cổng có số hộ người Mông vào  
rừng lấy thức ăn gia súc là nhiều nhất, với  
15/20 hộ, số lần vào rừng lấy trung bình 1 năm  
cũng gần lớn nhất với 45,3 lần/năm. Ở bản  
này, diện tích đất vườn rất ít hoặc không có.  
Bên cạnh đó người H’Mông có thói quen chăn  
nuôi đại gia súc, số lượng trâu bò nhiều nên  
lượng rau rừng khai thác một năm phục vụ cho  
Việc chăn thả gia súc trên diện tích đất  
rừng cũng thể hiện được sự phụ thuộc của  
người dân vào rừng, đây chính là các hoạt  
động gián tiếp tạo nên thu nhập từ rừng.  
Bảng 4. Mức độ và số lượng chăn thả gia súc trên rừng  
Số hộ chăn thả/số  
Số lượng gia súc TB  
(con/hộ)  
TT  
Tên bản  
Loại gia súc  
hộ điều tra  
11/20  
1
2
3
4
5
6
Bản Lốm Hượn  
Bản Lẩy B  
Bò  
Trâu, Bò  
Bò  
1,2  
2,1  
1,4  
2,2  
2,7  
1,5  
16/20  
Bản Mô Cổng  
Bản Lái Lè  
Bản Co Mạ  
Bản Mớ  
13/20  
14/20  
Trâu, Bò  
Trâu, Bò  
Trâu, Bò, Dê  
18/20  
9/20  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tổng số hộ  
chăn thả gia súc trên rừng là 85 hộ, chiếm  
70,8% so với tổng số hộ điều tra. Các loại gia  
súc chăn thả chủ yếu là Trâu, Bò, Dê. Bản Co  
Mạ có số hộ và số lượng chăn thả gia súc là  
nhiều nhất, với trung bình 2,7 con/hộ vì hộ  
người Mông có thói quen thả rông hoàn toàn  
gia súc trên rừng. Bản Mớ có số lượng hộ chăn  
thả Trâu, Bò, Dê ít nhất là 9 hộ vì ở bản đã có  
bãi chăn thả riêng. Bản Lốm Hượn có số lượng  
chăn thả gia súc trên rừng là ít nhất với trung  
bình 1,2 con bò/hộ vì có nhiều HGĐ đã xây  
dựng chuồng nuôi nhốt Bò tại nhà.  
d. Hoạt động trồng rừng và lâm sản ngoài gỗ  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
145  
Kinh tế & Chính sách  
Bảng 5. Số lượng hộ, diện tích và thu nhập từ hoạt động trồng rừng và LSNG  
Thu nhập TB  
Số hộ  
tham  
Tổng  
diện tích  
TB/hộ  
(ha)  
(nghìn đồng/hộ/năm)  
Tổng thu nhập  
TB (nghìn  
TT  
Tên bản  
Ghi chú  
Thông,  
gia/số hộ  
điều tra  
Sa  
Sơn  
tra  
đồng/hộ/năm)  
Trẩu,  
Xoan  
nhân  
Bản Lốm  
Hượn  
Thông chưa cho  
thu hoạch  
1
2
9/20  
0,2075  
0,25  
575  
-
-
-
-
-
575  
0
Thông chưa cho  
thu hoạch  
Bản Lẩy B  
10/20  
13 hộ trồng Sa  
nhân, 4 hộ trồng  
Sơn tra  
Bản Mô  
Cổng  
3
4
5
6
17/20  
14/20  
17/20  
9/20  
0,5775  
0,3975  
0,705  
-
-
-
5.651  
1.480  
0
3.165  
1.475  
5.403  
8.816  
2.955  
5.403  
10 hộ trồng Sa  
nhân, 4 hộ trồng  
Sơn tra  
Bản Lái Lè  
Bản Co Mạ  
Bản Mớ  
Thông chưa cho  
thu hoạch, Sa nhân  
mới trồng  
Sa nhân và Sơn tra  
mới trồng, chưa  
cho thu hoạch  
0,3925  
-
-
-
0
Trung bình/hộ  
0,4217  
-
1.189  
1.674  
2.958  
Nhìn chung thu nhập từ trồng rừng và  
LSNG của 2 bản người Mông (bản Mô Cổng,  
bản Co Mạ) cao hơn so với 4 bản người Thái  
còn lại. Bản Mô Cổng, xã Phổng Lái có thu  
nhập từ trồng rừng cao nhất với trung bình là  
8.816.000 đồng/hộ/năm. Trong đó hầu hết các  
hộ đều trồng Sa nhân ở dưới tán rừng phòng hộ  
hoặc bìa rừng gần nhà. Sơn tra cũng là loài cây  
được người dân quan tâm trồng từ nhiều năm  
nay, tuy nhiên vị trí rừng trồng Sơn tra ở xa gia  
đình, cách khoảng 15 đến 20 km nên gây khó  
khăn về nước tưới, quản lý chăm sóc, vận  
chuyển…  
Bản Lốm Hượn, bản Lẩy B có 9/20 HGĐ  
trồng Thông theo dự án 661 từ năm 2003 đến  
nay chưa cho thu hoạch nên người dân chưa có  
thu nhập. Ở bản Lốm Hượn còn trồng Xoan,  
Trẩu, Tếch ở ven nương rẫy, người dân tận  
dụng để lấy gỗ và gỗ củi. Ở bản Co Mạ và bản  
Mớ, xã Co Mạ có một số HGĐ tham gia trồng  
sa nhân từ tháng 8 năm 2018 theo chương trình  
135 của huyện giai đoạn 2, đến nay chưa cho  
thu hoạch. Riêng bản Mớ hiện nay đang thí  
điểm trồng Sơn tra với 1 hộ tham gia.  
đ. Hoạt động quản lý bảo vệ rừng  
Thực hiện Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày  
24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả  
dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), trong  
những năm qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng  
tỉnh Sơn La đã làm tốt công tác phối hợp với  
Hạt kiểm lâm huyện Thuận Châu, chính quyền  
địa phương các xã để tổ chức chi trả tiền  
DVMTR cho các chủ rừng có khu rừng đủ điều  
kiện cung ứng DVMTR bao gồm nhiều đối  
tượng như: hộ gia đình, nhóm hộ, cộng đồng  
và tổ chức xã hội của của bản, của xã...  
Bản Co Mạ có số hộ tham gia trồng rừng  
nhiều nhất là 17/20 hộ. Năm 2015 có dự án  
rừng cộng đồng JVC Nhật Bản đầu tư trồng  
Thông, Pơ mu, Óc chó giao cho 32 hộ trong  
bản trồng thí điểm, hiện nay chưa cho thu  
hoạch. Đặc biệt, nguồn thu nhập từ trồng cây  
Sơn tra tại bản Co Mạ cũng lớn nhất, trung  
bình là 5.403 nghìn đồng/hộ/năm. Sơn tra được  
trồng từ những năm 2010 đến nay tại địa  
phương, hiện nay đều sinh trưởng phát triển tốt.  
146  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
Kinh tế & Chính sách  
Bảng 6. Diện tích rừng được chi trả DVMTR theo đối tượng quản lý tại các bản nghiên cứu  
(Đơn vị tính: ha)  
Rừng giao cho tổ chức, đoàn thể  
Tổng  
diện tích  
rừng  
Rừng giao  
cho cộng  
đồng  
Rừng  
giao cho  
HGĐ  
Rừng  
TT  
Tên bản  
giao cho  
nhóm hộ  
Hội cựu  
Hội phụ  
nữ  
Đoàn  
chiến binh  
thanh niên  
1
2
Bản Lốm Hượn  
Bản Lẩy B  
0
0
0
0
0
0
0
13,79  
61,78  
0
0
13,79  
69,86  
8,08  
3
4
5
6
Bản Mô Cổng  
Bản Lái Lè  
Bản Co Mạ  
Bản Mớ  
369,7  
151,06  
0
0
2,15  
0
31,41  
13,97  
498,48  
93,62  
0
0
913,56  
246,83  
526,92  
102,75  
0
0
0
0
0
0
0
526,92  
0
28,41  
0
74,34  
(Nguồn: Hạt Kiểm lâm huyện Thuận Châu, 2017)  
Bản Luốm Hượn và bản Lẩy B xã Bon  
Phặng đều có ít rừng, vì vậy rừng được giao  
cho HGĐ quản lý là chủ yếu. Bản Lẩy B có  
một diện tích nhỏ rừng giao cho cộng đồng.  
Bản Mô Cổng và bản Lái Lè, xã Phổng Lái  
rừng được giao cho các đối tượng khác nhau  
quản lý như: HGĐ, cộng đồng và một một  
phần nhỏ diện tích rừng giao cho các tổ chức,  
đoàn thể. Bản Mô Cổng có diện tích rừng được  
chi trả DVMTR là lớn nhất. Bản Co Mạ, xã Co  
Mạ toàn bộ diện tích rừng được giao cho nhóm  
hộ quản lý. Các nhóm hộ này có hợp đồng  
nhận khoán bảo vệ rừng ký với Ban quản lý  
rừng đặc dụng Copia. Bản Mớ xã Co Mạ có  
74,34 ha rừng giao cho HGĐ nhưng chỉ do 4 tổ  
đại diện quản lý.  
Bảng 7. Thu nhập từ dịch vụ môi trường rừng của các HGĐ tại các bản nghiên cứu  
Số hộ tham gia/  
số hộ điều tra  
6/20  
Diện tích  
TB/hộ (ha)  
0,6935  
Thu nhập từ chi trả DVMTR  
TB/hộ/năm (đồng)  
186.552  
TT  
Tên bản  
1
2
3
4
Bản Lốm Hượn  
Bản Lẩy B  
20/20  
1,5690  
422.061  
Bản Mô Cổng  
Bản Lái Lè  
20/20  
5,1795  
1.393.286  
20/20  
1,2160  
327.104  
Bản Mô Cổng có diện tích rừng được chi trả  
DVMTR là lớn nhất với trung bình là 5,1795  
ha/hộ. Do đó, thu nhập từ chi trả DVMTR  
cũng lớn nhất là 1.393.286 đồng/hộ/năm. Bản  
Lốm Hượn có số lượng hộ và diện tích rừng  
được chi trả DVMTR là thấp nhất với trung  
bình 0,6935 ha/hộ tương ứng thu nhập là  
186.552 đồng/hộ/năm.  
tiền cho sản xuất; Gỗ, gỗ củi phục vụ nhu cầu  
của HGĐ được lấy từ rừng không tính vào thu  
nhập từ rừng, chỉ tính khi mang bán; Phần thu  
nhập từ nông nghiệp và chăn nuôi được tính  
toán tất cả sản phẩm do HGĐ sản xuất ra bao  
gồm cả phần được sử dụng cho gia đình; Tổng  
thu nhập đã trừ đi các chi phí sản xuất.  
Cơ cấu thu nhập của người dân địa phương bao  
gồm 4 nguồn chính: (1) Sản xuất nông nghiệp:  
canh tác ruộng, nương rẫy hợp pháp và vườn nhà;  
(2) Lâm nghiệp: canh tác nương rẫy xâm lấn trên  
đất rừng, bán măng, trồng rừng và LSNG,  
DVMTR; (3) Chăn nuôi; (4) Nguồn thu khác như:  
làm công ăn lương, làm thuê, nghề phụ...  
e. Đánh giá chung về đóng góp từ các hoạt  
động sinh kế từ rừng trong tổng thu nhập  
của HGĐ  
Trong phần tính thu nhập của HGĐ dựa  
theo nguyên tắc: Công lao động của gia đình  
không được quy đổi sang chi phí đầu tư bằng  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
147  
Kinh tế & Chính sách  
Bảng 8. Cơ cấu thu nhập trung bình của các HGĐ tại các bản nghiên cứu  
(Đơn vị tính: nghìn đồng)  
Bản Lốm  
Hượn  
Bản  
Bản  
Lái Lè  
41.305,89  
10.580  
25,61  
Bản  
Co Mạ  
29.574,50 31.769,00  
TT  
Nguồn thu nhập  
Bản Lẩy B  
Bản Mớ  
Mô Cổng  
49.993,88  
10.082  
Tổng thu nhập TB/hộ/năm  
32.259,10  
13.155  
30.571,15  
13.044  
42,67  
1
2
Sản xuất nông nghiệp  
6.420  
12.974  
Tỷ lệ %  
40,78  
20,17  
21,71  
40,84  
Lâm nghiệp  
2.369,10  
3.312,15  
11.521,88  
6.881,24  
9.969,5  
3970  
Tỷ lệ %  
7,34  
13.885  
43,04  
2.850  
8,83  
10,83  
11.640  
38,08  
2.575  
8,42  
23,05  
25.090  
50,19  
3.300  
6,60  
16,66  
21.194  
51,31  
2.650  
6,42  
33,71  
11.575  
39,14  
1.610  
5,44  
12,50  
11.915  
37,51  
2.910  
9,16  
3
4
Chăn nuôi  
Tỷ lệ %  
Thu khác  
Tỷ lệ %  
Bản Mô Cổng có tổng thu nhập trung bình  
lớn nhất với 49.993.880 đồng/hộ/năm; Các  
nguồn thu nhập khá đa dạng gồm: trồng lúa  
nương, cây ăn quả, trồng Sa nhân, Sơn tra, chi  
trả DVMTR, canh tác nương rẫy, chăn nuôi  
Bò, Lợn, Gà và nguồn thu khác. Bản Co Mạ có  
tỷ lệ thu nhập từ lâm nghiệp cao nhất chiếm  
33,71% trong tổng thu nhập, tiếp đến là bản  
Mô Cổng với 23,05% và thấp nhất là bản Lốm  
Hượn với 7,34%.  
hợp với nhu cầu của thị trường như: các mô  
hình trồng Chanh leo, Bơ, Xoài, Bưởi, Nhãn  
ghép... Với đặc thù của từng xã có thể ưu tiên  
trồng một số loại cây như Thông, Sơn tra và  
một số loài cây LSNG dưới tán rừng như Sa  
nhân, Đương quy...  
- Giải pháp phát triển vốn tài chính: Chính  
quyền địa phương chủ động hướng dẫn các  
HGĐ quản lý và sử dụng tiền vay vốn ngân  
hàng đúng cách. Vận động người dân sử dụng  
tiền vào những việc có nhiều cơ hội phát triển  
sinh kế như mở rộng sản xuất, tu sửa nhà cửa,  
mua Trâu, Bò...; mua sắm phương tiện, trang  
thiết bị cần thiết cho hoạt động sản xuất của  
gia đình.  
3.3. Giải pháp cải thiện sinh kế từ rừng  
a. Giải pháp phát triển các nguồn vốn sinh kế  
- Giải pháp phát triển vốn con người: Tiếp  
tục tăng cường công tác khuyến nông, chuyển  
giao tiến bộ khoa học kĩ thuật, tổ chức tuyên  
truyền tham quan các mô hình trồng rừng, mô  
hình nông lâm kết hợp... tổ chức những buổi  
trao đổi kinh nghiệm với những người nông  
dân có điều kiện kinh tế ổn định để học hỏi  
kinh nghiệm sản xuất.  
- Giải pháp phát triển vốn vật chất: Nhà  
nước cũng như chính quyền địa phương cần  
tiếp tục đầu tư để hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ  
tầng ở địa phương, mở rộng và nâng cấp các  
tuyến đường giao thông, các công trình thủy  
lợi phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của  
người dân.  
- Giải pháp phát triển vốn tự nhiên: Với đất  
sản xuất nông nghiệp cần tiếp tục trồng lúa  
nước, lúa nương, bên cạnh đó có thể kết hợp  
trồng các cây hoa màu như đậu tương, đỗ, lạc...  
Tiếp tục nâng cao năng suất, chất lượng các  
loại cây công nghiệp chủ lực như Cà phê, Chè  
bằng cách áp dụng các biện pháp thâm canh,  
chăm sóc. Thực hiện việc canh tác trên đất dốc  
hiệu quả bằng việc tăng cường trồng các loại  
cây ăn quả cho năng suất chất lượng cao, phù  
- Giải pháp phát triển vốn xã hội: Các HGĐ  
cần phải mở rộng các mối quan hệ với cộng  
đồng và các đối tác cần thiết trong công việc  
để tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên kết phát  
triển sinh kế của mình, và mở rộng thị trường  
buôn bán các loại sản phẩm nông lâm sản. Cần  
tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến  
nhằm nâng cao nhận thức, ý thức và trách  
148  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
Kinh tế & Chính sách  
nhiệm quản lý, bảo vệ rừng cộng đồng cho  
người dân và cộng đồng dân cư thôn bản là hết  
sức quan trọng.  
bản Lốm Hượn và bản Lẩy B. Xã Phổng Lái  
cần tiếp tục mở rộng diện tích trồng Sơn tra và  
Sa nhân ở cả 2 bản Mô Cổng và bản Lái Lè.  
Trong thời gian tới các cấp chính quyền ở  
huyện Thuận Châu, xã Phổng Lái cần giúp  
người dân phát triển diện tích cây Sa nhân gắn  
với tiêu thụ sản phẩm, mở ra hướng đi triển  
vọng, phù hợp với phát triển sản xuất của bà  
con, giúp người dân có nguồn sinh kế từ rừng.  
Đặc biệt ở bản Co Mạ, xã Co Mạ trong thời  
gian tới cần tiếp tục mở rộng và phát triển các  
mô hình Sơn tra xen Ngô, Sơn tra xen Cỏ voi  
để tăng cường cải tạo đất và tạo thêm nguồn  
thu nhập cho người dân.  
b. Giải pháp đối với các hoạt động sinh kế  
từ rừng  
- Nhóm giải pháp đối với các hoạt động sử  
dụng đất lâm nghiệp chưa có rừng:  
+ Về canh tác nương rẫy: Giải pháp đưa ra  
trước mắt là vẫn để người dân canh tác nương  
rẫy trên lâm nghiệp chưa có rừng, song cần có  
hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ đầu tư giống, phân  
bón để nâng cao được hiệu quả của sản xuất.  
Giải pháp về lâu dài là vận động người dân  
thay đổi cách nghĩ, cách làm để chuyển dần từ  
canh tác nương rẫy sang xây dựng các mô hình  
NLKH, trồng các loại cây ăn quả trên đất dốc.  
+ Về chăn thả gia súc: Đối với cả 6 bản  
nghiên cứu cần tiến hành quy hoạch một số  
diện tích nhất định để làm bãi chăn thả gia súc.  
Bên cạnh đó muốn duy trì và phát triển nguồn  
thức ăn lâu dài cho chăn nuôi, người dân địa  
phương cần trồng cỏ chăn nuôi gia súc như: cỏ  
Voi và một số loài cây cỏ bản địa. Ở các xã  
nghiên cứu đều có diện tích đất trống nhiều,  
đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển các  
mô hình trồng cỏ. Hiện nay trồng Cỏ voi cũng  
đã được một số bản áp dụng như: bản Lốm  
Hượn, bản Co Mạ, bản Mớ. Vì vậy, cần áp  
dụng trồng Cỏ voi đối với các bản còn lại.  
- Nhóm giải pháp đối với các hoạt động sử  
dụng đất lâm nghiệp có rừng:  
+ Giải pháp đối với hoạt động hưởng lợi từ  
chi trả DVMTR: Ở KVNC các khoản thu từ  
chi trả DVMTR còn tương đối thấp, có sự khác  
nhau về chi trả ở 2 lưu vực sông Đà và sông  
Mã, trong đó bản Co Mạ và bản Mớ số tiền chi  
trả rất ít, người dân và cộng đồng chưa được  
hưởng nhiều từ dịch vụ này. Trong thời gian  
tới có thể tăng mức chi trả DVMTR, công bố  
công khai, minh bạch số tiền chi trả để các hộ  
gia đình, cộng đồng được biết.  
4. KẾT LUẬN  
Tại 6 bản nghiên cứu của huyện Thuận  
Châu có các hoạt động tạo sinh kế từ rừng tại  
địa phương, bao gồm các hoạt động chính như:  
sản xuất nông nghiệp trên đất chưa có rừng  
rừng, chăn thả gia súc trên đất rừng, trồng rừng  
và trồng LSNG, khai thác các sản phẩm từ  
rừng, hưởng lợi từ chi trả dịch vụ môi trường  
rừng. Có sự khác biệt tại các bản, theo từng  
nhóm dân tộc Thái, Mông trong việc thực hiện  
các hoạt động sinh kế từ rừng: Nhóm hộ người  
Mông tại bản Co Mạ có thu nhập từ lâm  
nghiệp cao nhất chiếm đến 33,71% trong khi  
đó nhóm hộ người Thái tại bản Lốm Hượn thu  
nhập từ lâm nghiệp chỉ chiếm 7,34%.  
+ Giải pháp đối với hoạt động khai thác các  
sản phẩm từ rừng: Hiện nay phần lớn các HGĐ  
đều khai thác các sản phẩm từ rừng cộng đồng,  
từ rừng phòng hộ theo đúng quy định. Trong  
thời gian tới vẫn duy trì các hoạt động khai  
thác hợp pháp các sản phẩm từ rừng để đảm  
bảo nguồn sống cho người dân. Tuy nhiên vẫn  
cần quản lý để đảm bảo không khai thác kiệt  
quệ tài nguyên rừng.  
Trên cơ sở đánh giá thực trạng các hoạt động  
sinh kế từ rừng của nghiên cứu đã đưa ra được  
nhiều giải pháp nhằm phát triển sinh kế gắn với  
việc quản lý bảo vệ rừng tại khu vực nghiên cứu.  
+ Giải pháp đối với hoạt động trồng rừng và  
trồng LSNG: Xã Bon Phặng cần tiếp tục tập  
trung trồng rừng sản xuất là cây Thông ở cả 2  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
149  
Kinh tế & Chính sách  
hướng, nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế xã hội, quốc  
phòng an ninh 6 tháng cuối năm 2018.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. UBND huyện Thuận Châu (2017). Rà soát,  
chuyển đổi đất, rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu  
sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất gắn với điều  
chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đến năm 2025 và định  
hướng đến năm 2030 huyện Thuận Châu  
4. UBND Xã Phỏng Lái (2018). Số 32/BC –  
UBND, Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển  
kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh 6 tháng đầu năm,  
nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp chủ yếu thực hiện 6  
tháng cuối năm 2018.  
2. Hạt kiểm lâm huyện Thuận Châu (2018). Biểu  
thống kê chi trả dịch vụ môi trường rừng của 3 xã  
Phỏng Lái, Bon Phặng, Co Mạ năm 2017.  
5. UBND Xã Co Mạ (2018). Số 94/BC – UBND,  
Báo cáo sơ kết thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế  
xã hội, quốc phòng an ninh 6 tháng đầu năm, nhiệm  
vụ trọng tâm và các giải pháp thực hiện 6 tháng cuối  
năm 2018.  
3. UBND Xã Bon Phặng (2018). Số 65/BC – UBND,  
Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã  
hội, quốc phòng an ninh 6 tháng đầu năm 2018, phương  
LIVELIHOODS ACTIVITIES FROM FORESTS OF THE LOCAL COMMUNITY  
IN THUAN CHAU DISTRICT, SON LA PROVINCE  
Trinh Hai Van  
Vietnam National University of Forestry  
SUMMARY  
In Vietnam, for many years, livelihoods and sustainable livelihood development have been studied  
by many authors, especially livelihoods for people dependent on forests. This study was conducted in  
3 communes: Bon Phang commune, Pho Lai commune, CoMa commune, Thuan Chau district, Son  
La province. The main methods used are the participatory rural appraisal (PRA) tools such as  
household interviews, group discussions, SWOT analysis combined with the existing survey. The  
results of the study have assessed the status of forest livelihoods of local people, including;  
agricultural production on land without the forest, cattle grazing on forest land, afforestation and  
NTFP development, exploiting forest products, benefiting from payments for forest environmental  
services. On this basis, the paper proposes a number of measures to develop local livelihoods  
associated with forest protection and development.  
Keywords: Capital, household, livelihood, Thuanchau district.  
Ngày nhận bài  
: 20/12/2018  
: 17/01/2019  
: 25/01/2019  
Ngày phản biện  
Ngày quyết định đăng  
150  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2019  
pdf 10 trang yennguyen 17160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoạt động sinh kế từ rừng của cộng đồng địa phương tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoat_dong_sinh_ke_tu_rung_cua_cong_dong_dia_phuong_tai_huyen.pdf