Đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh Hoà

Nghiên cứu khoa học công nghệ  
ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC QUẦN XÃ THỰC VẬT RỪNG  
KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN HÒN BÀ, TỈNH KHÁNH HOÀ  
NGUYỄN ÐĂNG HỘI, KUZNETSOV A. N., KUZNETSOVA S. P.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Việt Nam là nước nhiệt đới có chế độ khí hậu biển, gió mùa phân hoá rõ rệt  
theo vĩ độ và độ cao địa hình. Đây là nền tảng tự nhiên quan trọng hình thành nên  
các quần xã thực vật với sự đa dạng, phong phú theo không gian [3, 4, 5]. Thêm vào  
đó, vị trí địa lý và lịch sử tự nhiên đã làm cho các quần xã thực vật rừng chứa đựng  
nguồn tài nguyên động, thực vật có giá trị. Sự đa dạng của yếu tố thực vật, đặc biệt  
là cấu trúc thành phần loài và cấu trúc tầng tán là cơ sở tạo nên tính đa dạng của  
quần xã, ảnh hưởng đến sự xâm nhập và biến động của các yếu tố sinh thái, từ đó  
ảnh hưởng đến sự tái sinh và tăng trưởng của cây rừng [4, 6].  
Được thành lập năm 2005, Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBT) Hòn Bà là khu  
rừng đặc dụng quan trọng của dãy núi Nam Bình Định - Tây Khánh Hoà. Đây được  
xem là mô hình duy nhất ở Việt Nam còn sót lại với cấu trúc nguyên sinh của nhiều  
quần xã thực vật và cảnh quan rừng. Hơn nữa, đây là lãnh thổ tiếp giáp với khối núi  
Bidoup của Tây Nguyên tạo nên không gian rộng, thuận lợi cho các nghiên cứu đa  
dạng sinh học, sinh thái và công tác bảo tồn.  
Cho đến nay, các nghiên cứu về cấu trúc thực vật KBT Hòn Bà còn hạn chế.  
Một số tài liệu chủ yếu đưa ra các mô tả, đánh giá đặc điểm cơ bản hoặc từng nhóm  
thực vật [1, 7]. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của nhiều năm, bài báo cung cấp  
những số liệu về đặc điểm cấu trúc các quần xã thực vật rừng tự nhiên điển hình;  
phân tích cấu trúc trong mối quan hệ giữa các yếu tố, đặc biệt là cấu trúc thảm thực  
vật với địa hình khu vực.  
2. THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Nghiên cứu về thực vật rừng của KBT Hòn Bà được tiến hành vào các năm  
2003, 2004, 2009. Địa điểm khảo sát chiếm phần lớn diện tích phía đông và phía  
nam của KBT, từ độ cao 150 m đến đỉnh Hòn Bà (1.578 m). Những địa điểm khảo  
sát kỹ và lặp lại tập trung ở phần phía đông từ hồ Suối Dầu lên đến đỉnh cao nhất  
của khối núi.  
Đặc điểm cấu trúc thành phần loài và cấu trúc không gian của quần xã thực vật  
được quan sát và mô tả trực tiếp tại các điểm và lát cắt có tính chất đại diện cho từng  
kiểu quần xã. Sử dụng tài liệu của Phạm Hoàng Hộ (1999) để định danh loài và chi [2].  
Phân tích cấu trúc quần xã thực vật, dạng sống thực vật trong mối quan hệ với đặc  
điểm địa hình, đồng thời đề cập tới chu trình vật chất phát sinh từ quá trình phân huỷ  
của thảm rụng thực vật.  
20  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 07, 10 - 2014  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1. Quần xã thực vật thung lũng - chân núi  
Khu vực thung lũng, ven suối có địa hình khá bằng phẳng, cấu tạo từ đá granit  
dạng phiến, độ cao 200 - 300 m so với mực nước biển. Hình thái đường bờ bất định,  
chỗ thẳng, chỗ gấp khúc. Tại khu vực có nhiều nước, độ ẩm cao, thảm thực vật phát  
triển rất mạnh. Những loài điển hình ghi nhận được là Homonia riparia  
(Euphorbiaceae), Ardisia chevalieri (Myrsinaceae), Ficus sp. (Moraceae).  
Thảm thực vật ở đây có tính phân tầng không rõ rệt. Các loài nền thường cao  
20 - 25 m, gồm chủ yếu là Irvingia malayana (Irvingiaceae), Elaeocarpus darlacensis  
(Elaeocarpaceae), Parkia sumatrana (Fabaceae). Ở độ cao thấp hơn (khoảng 12 - 15 m)  
có Diospyros buxifolia (Ebenaceae), Syzygium sp. (Myrtaceae). Tán cây thường dày,  
hình ô van. Tầng thấp hơn (6 - 9 m) được cấu tạo từ các loài Vatica cinerea  
(Dipterocarpaceae), Barringtonia angusta và B. macrostachya (Lecythidaceae),  
Gonocaryum subrostratum (Icacinaceae). Bên cạnh đó còn ghi nhận được những cá thể đơn  
lẻ của loài Dipterocarpus alatus (Dipterocarpaceae), Hopea odorata (Dipterocarpaceae),  
Podocarpus neriifolius (Podocarpaceeae), Magnolia sp. (Magniliaceae).  
Dọc theo bờ suối Dầu, trong thành phần tham gia quần xã có các loài cây gỗ như  
Garcinia sp., Calophyllum sp., Cratoxylum formosum (Clusiaceae), Artocarpus sp.,  
Ficus sp. (Moraceae), Archidendron sp., Sindora cf. cochinchinensis (Fabaceae),  
Sterculia sp., Pterospermum sp. (Sterculiaceae), Lagerstroemia sp. (Lythraceae),  
Euodia sp. (Rutaceae), Hydnocarpus cf. clemensorum (Kiggellariaceae), Croton sp.,  
Sapium baccatum (Euphorbiaceae), Litsea sp., Cinnamomum sp. (Lauraceae)...  
Thực vật thân thảo thường gặp là Leea cf. rubra (Leeaceae), Donax  
cannaeformis (Marantaceae), Alpinia sp., dương xỉ Taenitis blechnoides  
(Adiantaceae), Dracaena sp. (Dracaenaceae), Một số loài thuộc họ Poaceae,  
Bambusoideae, Poaceae; Pandanus sp. (Pandanaceae) và Mapania sp. (Cyperaceae).  
Các loài dây leo, nổi bật là Flagellaria indica (Flagellariaceae), Ampelopsis sp.  
(Vitaceae). Thực vật bì sinh có Hydnophytum formicarum (Rubiaceae), Vanilla cf.  
albida, Dendrobium sp., Eria sp., Flickengeria sp., Thrixspermum sp., dương xỉ  
Drynaria regidula và Drynaria sp. (Polypodiaceae).  
3.2. Quần xã thực vật trên địa hình sườn và đỉnh núi ở độ cao dưới 1.000 m  
3.2.1. Thực vật trên sườn, độ cao 500 - 900 m  
Địa hình thường có độ dốc lớn. Thực vật phát triển rất tốt cho thấy tính phù  
hợp về điều kiện khí hậu - thổ nhưỡng. Quan sát thấy các loài mối đóng vai trò tích  
cực vào quá trình phân huỷ lớp thảm rụng. Trên mặt đất thường có các dạng vi địa  
hình do chất thải của giun đất.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 07, 10 - 2014  
21  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Thảm thực vật thường có 4 tầng. Tầng trên cùng cao 33 - 40 m, đường kính  
cây 50 - 80 cm, cá biệt 120 сm. Thân cây thẳng đứng. Tán cây gần hoặc sát vào  
nhau, hình trụ, hình cầu và dày, bán kính tán từ 5 đến 12 m. Thành phần loài chủ yếu  
là Swintonia floribunda (Anacardiaceae), Garcinia sp. (Clusiaceae), Gordonia sp.  
(Theaceae), Canarium cf. tramdenus, Gen. sp. (Burseraceae), Syzygium sp.  
(Myrtaceae), Lithocarpus sp, Quercus sp., Castanopsis sp. (Fagaceae), Eberhardtia  
sp. và Madhuca sp. (Sapotaceae).  
Tầng hai cao 20 - 25 m, phân mảnh hoặc liên tục. Đường kính thân cây đạt từ  
30 đến 70 сm, cây thường có rễ bạnh vè. Tán cây nén chặt, bán kính 3 đến 5 m.  
Trong tầng có các loài: Podocarpus neriifolius (Podocarpaceae), Diospyros sp.  
(Ebenaceae), Garcinia sp., Calophyllum sp. (Clusiaceae), Cinnamomum sp.  
(Lauraceae), Castanopsis sp. (Fagaceae), Elaeocarpus sp. (Elaeocarpaceae),  
Polyalthia sp. (Annonaceae), Wrightia sp. (Apocynaceae), Eurya sp., Schima  
wallichii (Theaceae), Adenanthera pavonina, Parkia sumatrana (Fabaceae),  
Scaphium macropodium, Sterculia sp. (Sterculiaceae)...  
Тầng ba cao 7 - 12 m, một vài nơi cao đến 14 m, được hình thành từ các loài  
Aquilaria banaensae (Thymelaeaceae), Gironniera sp. (Ulmaceae), Gen. sp.  
(Lauraceae), Syzygium sp., Tristaniopsis merguensis (Myrtaceae), Mallotus sp.  
(Euphorbiaceae), Wendlandia sp., Nauclea sp. (Rubiaceae), (Symplocaceae)...  
Tầng bốn cao đến 6 m, bao gồm các loài: Ixora coccinea, Pavetta sp.,  
Lasianthus sp., Psychotria sp., Antidesma sp. (Euphorbiaceae), Tabernaemontana  
sp. (Apocynaceae), Gonocaryum subrostratum (Icacinaceae), Barringtonia cf.  
macrostachya (Lecythidaceae), Gnetum gnemon (Gnetaceae), Ardisia spp.  
(Myrsinaceae), Clausena sp. (Rutaceae).  
Tầng thân thảo không phát triển, độ che phủ khoảng 20%. Có rất nhiều dây leo  
kích thước lớn, sống lâu năm như Gnetum sp. (Gnetaceae) và Strychnos sp.  
(Loganiaceae), cũng có cả Ampelopsis sp. (Vitaceae), Bauhinia sp., Abrus sp.  
(Fabaceae). Thực vật bì sinh thường gặp là dương xỉ giỏ lớn Drynaria regidula  
(Polypodiaceae). Trên tán cây những loài thực vật bì sinh nền là phong lan Bulbophyllum  
sp., Cymbidium sp., Dendrobium spp.; đôi khi gặp loài dương xỉ Asplenium nidus.  
3.2.2. Thực vật trên địa hình đỉnh núi thấp ở độ cao 850 m  
Đất dưới rừng là cát pha sét với vi địa hình được tạo thành do giun đất, cao tới  
20 cm, đường kính 5 - 7 сm. Đây là nét độc đáo của cảnh quan rừng khu vực, tạo cơ  
sở thay đổi tính chất trữ ẩm của đất mà chủ yếu là theo chiều hướng tăng lên.  
Quần xã thực vật cấu trúc thành 3 tầng khá rõ rệt. Tầng trên cùng có tính phân  
mảnh, chiều cao của cây tới 25 m, đường kính thân 80 сm. Nhiều cây có rễ bạnh vè  
lớn. Những loài trội ở tầng này là Swintonia floribunda (Anacardiaceae),  
Lithocarpus sp. (Fagaceae) và Schima wallichii (Theaceae).  
22  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 07, 10 - 2014  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Tầng hai khép kín, cây cao tới 18m, trong đó có các đại diện: Elaeocarpus sp.,  
Sloanea sp. (Elaeocarpaceae), Podocarpus neriifolius (Podocarpaceae), Garcinia  
sp., Calophyllum sp. (Clusiaceae), Scaphium macropodium (Sterculiaceae), Quercus  
sp. (Fagaceae), Girroniera sp. (Ulmaceae), Tristaniopsis merguensis, Syzygium sp.  
(Myrtaceae), Illicium sp. (Illiciaceae), Cinnamomum sp. (Lauraceae), Parkia  
sumatrana (Fabaceae).  
Tầng ba cao tới 4 m (có cây cao tới 6m), dày đặc, chủ yếu là các loài cọ  
Licuala glaberrima, Pinanga sp., Areca laosensis, Lasianthus sp. (Rubiaceae),  
Ardisia sp. (Myrsinaceae), Gonocaryum sp. (Icacinaceae) và Barringtonia  
macrostachya (Lecythidaceae).  
Cây thân thảo thường gặp là Dracaena sp. (Dracaenaceae) và Pandanus sp.  
(Pandanaceae). Tại các cửa sổ mọc chủ yếu là dương xỉ Gleichenia truncata,  
Diplopterygium blotiaus.  
3.3. Quần xã thực vật trên địa hình sườn - đỉnh núi ở độ cao trên 1.000 m  
3.3.1. Thực vật trên sườn núi ở độ cao 1.000 - 1.500 m  
Độ dốc của địa hình lớn, thường từ 30 đến 40o, nhiều nơi lộ trơ đá gốc. Trên  
mặt đất phủ đầy lá và các cành nhỏ rơi rụng. Cấu trúc thực vật gồm 2 đến 3 tầng,  
trong đó tầng trên cùng và dưới cùng liên tục, tầng giữa có tính phân mảnh.  
Tầng trên cùng (tầng một) được cấu trúc bởi các đại diện: Gordonia  
dalglieshiana, Schima wallichii, Adinandra sp, Camellia fleuryi, Camellia sp.,  
Ternstroemia cf. kwangtungensis, Anneslea fragrans, Eurya sp. (Theaceae), Altingia  
sp. (Altingiaceae), Symingtonia tonkinensis (Hamamelidaceae), Rhodoleia  
championii (Rhodoleiaceae), Podocarpus imbricatus, Dacrydium elatum  
(Podocarpaceae), Elaeocarpus tectorius, Elaeocarpus spp. Tại những nơi sườn  
thoải, loài Lithocarpus sp. là trội với những cá thể kích thước lớn. Trong khi đó, loài  
Quercus sp. phân bố trên những đỉnh hẹp, độ dốc lớn.  
Tầng hai cao tới 14 m với các đại diện như Euodia pasteuriana (Rutaceae),  
Garcinia sp. (Clusiaceae), Schefflera sp. (Araliaceae), Acer sp. (Aceraceae), Eurya  
sp., Adinandra sp. (Theaceae), Ilex sp. (Aquifoliaceae), Casearia sp.  
(Flacourtiaceae), Hydnocarpus sp. (Kiggellariaceae), Wendlandia sp., Pavetta sp.,  
Gordenia sp. (Rubiaceae), Podocarpus neriifolius (Podocarpaceae), Dillenia sp.  
(Dilleniaceae), Symplocos sp. (Symplocaceae).  
Tầng ba cao đến 6 m, gồm các loài Lasianthus spp., Psychotria sp.  
(Rubiaceae), Antidesma spp., Breyniopsis sp. (Euphorbiaceae), Carallia brachiata  
(Rhizophoraceae), Tabernaemontana sp. (Apocynaceae), Dendropanax chevalieri  
(Araliaceae), Poilannammia allomorphioidea, Pseudodissochaeta sp., Memecylon  
sp. (Melastomataceae).  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 07, 10 - 2014  
23  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Tầng thân thảo được cấu trúc từ nhiều loài, trong đó loài nền là Pentaphragma  
gamopetalum (Pentaphragmataceae), Argostemma uniflorum (Rubiaceae),  
Sarcopyramis nepalensis (Melastomataceae). Điểm đặc biệt trong quần xã thực vật ở  
đây là sự góp mặt của những cây dương xỉ thân gỗ Cyathea salletti (Cyatheaceae) với  
kích thước khá lớn và nhiều cá thể loài Selaginella sp. tạo nên những đám đơn trội.  
3.3.2. Thực vật trên giông - đỉnh núi Hòn Bà (1.578 m)  
Thực vật có cấu trúc gồm 3 tầng cây gỗ. Tầng một cao đến 17 m, đường kính  
thân 20 - 30 сm (đôi khi tới 60 сm). Tán không liên tục, chỉ đôi chỗ tán tiếp xúc hoặc  
đan xen. Tán dạng ô van hoặc ô van dẹt, bán kính khoảng 5 - 7 m. Thực vật trong  
tầng gồm chủ yếu là Lithocarpus sp., Quercus sp. (Fagaceae), Elaeocarpus sp.  
(Elaeocarpaceae), Camellia sp., Gordonia sp., Ternstroemia sp. (Theaceae),  
Archidendron sp. (Fabaceae), Altingia sp. (Altingiaceae), Actinodaphne sp.  
(Lauraceae), Illicium sp. (Illiciaceae) và Rhodoleia championi (Rhodoleiaceae).  
Tầng hai cao đến 10 m, rất phát triển. Những loài ưu thế là Schefflera sp.  
(Araliaceae) và Euodia pasteuriana (Rutaceae), các loài khác nhận thấy có Sterculia  
sp. (Sterculiaceae), Cinnamomum sp. (Lauraceae), Acer sp. (Aceraceae), Memecylon  
sp. (Melastomataceae), Wendlandia sp. (Rubiaceae), Dendropanax sp. (Araliaceae),  
Aporusa sp. (Euphorbiaceae), Barringtonia sp. (Lecythidaceae), Rhododendron sp.  
(Ericaceae), Ilex sp. (Aquifoliaceae).  
Tầng ba cao đến 4 m với sự tham gia của Lasianthus sp., Psychotria sp.  
(Rubiaceae), Pseudodissochaeta sp. (Melastomataceae), Licuala sp. (Arecaceae),  
Carallia sp. (Rhizophoraceae), Ardisia sp., Maesa sp. (Myrsinaceae), Phyllanthus sp.,  
Glochidion sp. (Euphorbiaceae), Eurya sp. (Theaceae), Lindernia sp. (Lauraceae).  
Tầng thân thảo khá phát triển, độ che phủ đạt tới 60%. Loài ưu thế là  
Strobilanthes sp. (Acanthaceae) cao tới 1,2 m; những loài thường gặp là Alpinia sp.,  
Zingiber sp. (Zingiberaceae), Dianella nemorosa (Phormiaceae), Carex spp.,  
Mapania sp. (Cyperaceae), Aspidistra sp. (Convallariaceae).  
3.4. Quần xã thực vật với sự tham gia của các loài lá kim quí hiếm  
3.4.1. Quần xã thực vật với loài Ducampopinus krempfii  
Phân bố ở phía bắc của dải núi chính với đỉnh Hòn Bà, ở độ cao 1.200 - 1.300 m.  
Hệ thống thủy văn rất phát triển, với nhiều suối tạm thời hoặc quanh năm. Địa hình  
có dạng lõm xuống như thung lũng, có những dãy núi nhỏ như là sự tiếp tục của  
mạch núi bậc hai.  
24  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 07, 10 - 2014  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Nét đặc trưng của quần xã thực vật ở đây là sự có mặt của loài hạt trần  
Ducampopinus krempfii (Pinaceae). Các cây mọc thành từng nhóm, cũng có khi  
riêng lẻ. Chiều cao cây tới 40 m, đường kính thân tới 120 сm. Tán thưa khi mọc đơn  
lẻ và đan xen nhau khi mọc thành nhóm. Dưới những cây mẹ của loài D. krempfii  
trong bán kính khoảng 15m có nhiều hạt tự nảy mầm và những cây thông non. Trên  
cành của D. krempfii có rất nhiều thực vật bì sinh, trong đó thường gặp Vaccinium  
spp. (Ericaceae) và những đại diện của họ Lan Orchidaceae. Trên cành cây hình  
thành một lớp thảm rêu phủ khá dày.  
Tầng hai rất phát triển, cao đến 24 m, đường kính thân 30 - 60 сm. Ở gốc một số  
loài cây phát triển rễ bạnh vè. Tán cây khá dày, thường tiếp xúc nhau. Các loài tạo tầng  
là Lithocarpus sp., Castanopsis sp., Quercus sp. (Fagaceae), Rhodoleia championi  
(Rhodoleiaceae), Illicium cf. griffithi (Illiciaceae), Craibiodendron stellatum  
(Ericaceae), Anneslea fragrans, Gordonia sp. (Theaceae), Altingia sp. (Altingiaceae)...  
Tầng ba có tính phân mảnh, thường gặp các loài: Lasianthus sp., Ardisia sp.  
(Myrsinaceae), Euodia pasteuriana (Rutaceae). Độ che phủ của cây thân thảo khoảng 20%,  
thường gặp các loài: Dianella nemorosa (Phormiaceae) và Alpinia sp. (Zingiberaceae).  
3.4.2. Quần xã thực vật với loài Fokienia hodginsii  
Những cây có kích thước lớn nhất trong quần xã là F. hodginsii, mọc ở phần trên  
và phần giữa của các sườn dốc đứng xuôi xuống các con suối. Chiều cao cây 20 - 25 m,  
đường kính thân 100 - 120 сm, tán dày và tỏa rộng với bán kính tới 8 m. Tham gia tạo  
nên tầng trên cùng của thảm thực vật trong quần xã còn có Dacrydium elatum và  
Podocarpus imbricatus (Podocarpaceae), song số lượng cá thể của chúng không nhiều.  
Ngoài những loài lá kim kể trên, tham gia vào tổ thành loài của tầng thứ nhất  
còn có các loài thuộc họ Theaceae (Ternstroemia sp., Camelia sp.), Fagaceae  
(Lithocarpus spp., Quercus sp.), Elaeocarpaceae (Elaeocarpus spp.), Fabaceae  
(Archidendron sp.), và như đã nói ở trên - Podocarpaceae. Chiều cao của các loài  
này 8 - 12 m, đường kính 10 - 25 cm, đôi khi tới 40 cm.  
Tầng hai cao tới 5 m, được cấu trúc từ các loài: Vaccinium braccteatum  
(Ericaceae), Podocarpus neriifolius (Podocarpaceae), Euodia pasteuriana  
(Rutaceae) Illicium griffithi (Illiciaceae), Garcinia sp. (Clusiaceae), Rhododendron  
cf. moulmainense (Ericaceae).  
Tầng ba cao tới 3 m với loài trội là Lasianthus sp. (Rubiaceae) và Poilannammia  
cf. allomorphioidea (Melastomataceae); trong tầng này cũng ghi nhận được các loài  
Eurya sp., Ardisia sp., và thường gặp các cây cọ Pinanga sp. và Licuala spp.  
Tầng thân thảo khá phát triển, độ che phủ đạt 30 - 40% (có nơi 60%). Dây leo  
chủ yếu là Smilax sp. (Smilacaceae) và Embelia sp.; Loài Calamus sp. (Arecaceae)  
cũng thường ghi nhận ở khu vực này.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 07, 10 - 2014  
25  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
4. MỘT SỐ BÀN LUẬN  
Thảm thực vật KBT Hòn Bà có sự phân hóa khá mạnh, song vẫn giữ được  
tính đặc trưng của cấu trúc nguyên sinh, đặc biệt là các quần xã phân bố từ độ cao  
500 m trở lên. Từ kết quả nghiên cứu cho phép nhận định, dải núi chính với phương  
kinh tuyến là lá chắn tự nhiên, tạo cho phần tây của KBT ít chịu ảnh hưởng trực tiếp  
của gió biển. Cùng với địa hình phức tạp đã tạo ra trên các dải núi nhiều quần xã có  
tính đặc thù.  
Cho tới độ cao 800 m, trên những sườn núi thoải đã hình thành rừng cây gỗ  
với những loài chủ yếu đặc trưng cho rừng đồng bằng ở miền Nam Việt Nam với  
những chi đại diện là Swintonia, Irvingia, Canarium, Garcinia, Scaphium, Ficus. Từ  
độ cao trên 1.000 m, trong quần xã thực vật bắt đầu thể hiện tính trội của các loài  
thuộc những họ thực vật núi như Fagaceae, Magnoliaceae, Theaceae,  
Podocarpaceae; nhờ độ ẩm cao tại đây cũng có mặt các loài của họ Illiciaceae.  
Với quá trình hình thành lâu đời, ổn định cùng điều kiện khí hậu - thổ nhưỡng,  
đã hình thành ở Hòn Bà nhóm thực vật hạt trần như Fokienia hodginsii, Podocarpus  
imbricatus, Podocarpus neriifolius, Ducampopinus krempfii, Dacrydium elatum.  
Đây đều là những loài có ý nghĩa quan trọng trong sự hình thành và duy trì cấu trúc  
quần xã thực vật hiện tại ở những nơi chúng xuất hiện.  
Địa hình núi phức tạp, hệ thống thủy văn phát triển tạo điều kiện cho sự hình  
thành những sinh cảnh đặc biệt với điều kiện tiểu khí hậu phù hợp cho một số cây gỗ  
và cây thảo, chúng đạt được những kích thước rất lớn mà ở khu vực khác không có  
được như: Ducampopinus krempfii ở sinh cảnh đồi trong thung lũng;  
Craibiodendron stellatum (Ericaceae) trong thung lũng ở độ cao 1.260 m; dương xỉ  
Marattia pellucida (Marattiaceae) trên bờ suối có nước chảy quanh năm, rợp bóng  
cây rừng ở độ cao 1.400 m; Cọ dừa Caryota urens trong các thung lũng có suối nước  
chảy quanh năm với lòng suối nền đá ở độ cao 1.200 đến 1.400 m...  
Nét độc đáo nữa trong cấu trúc quần xã thực vật Hòn Bà là sự tham gia của  
loài các loài dương xỉ. Từ những loài dương xỉ thân gỗ kích thước lớn xuất hiện từ  
độ cao 800 - 900 m đến các loài bì sinh Aglaomorpha coronans và Asplenium nidus.  
Trong đó, những cá thể lớn nhất của loài Aglaomorpha coronans ưa mọc trên những  
cây to tại các khu vực thoải rợp bóng, còn loài Asplenium nidus phát triển nhiều trên  
dải núi chính, có mặt hầu như trên tất cả các cây gỗ kích thước lớn.  
So sánh với những khu vực khác mà chúng tôi đã nghiên cứu trên lãnh thổ  
Việt Nam có thể khẳng định, những sinh cảnh vùng chân núi Hòn Bà là giới hạn  
phía bắc đối với sự phân bố của khá nhiều loài đặc trưng cho vùng đồng bằng miền  
Nam, trong khi những điều kiện ở khu vực giữa núi lại thuận lợi cho sự tồn tại  
những loài từ phía Bắc mà về phía nam của dải núi không phát hiện được. Đây là  
những ghi nhận có ý nghĩa cho việc hiểu thêm về phân bố của thực vật, là cơ sở cho  
đánh giá các điều kiện thích hợp phát triển và các đặc tính sinh học của loài.  
26  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 07, 10 - 2014  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
5. KẾT LUẬN  
Cấu trúc các quần xã thực vật của KBT Hòn Bà có mức độ đa dạng cao và duy  
trì được đặc điểm cấu trúc nguyên sinh, đặc biệt từ độ cao 500 m trở lên. Sự phân  
hoá của địa hình, khí hậu và thổ nhưỡng đã hình thành nên ở khu vực này nhiều  
quần xã thực vật tự nhiên khác nhau: Quần xã thực vật thung lũng vùng thấp, các  
quần xã trên địa hình sườn ở độ cao dưới 1.000 m, quần xã thực vật đỉnh núi...  
Sự phát triển lâu đời và ổn định đã hình thành nên ở Hòn Bà các kiểu quần xã  
thực vật hỗn giao á nhiệt đới với các loài lá kim quí hiếm, đó là quần xã hỗn giao cây  
lá rộng với loài Ducampopinus krempfii ở độ cao 1.200 - 1.300 m và quần xã hỗn giao  
cây lá rộng với loài Fokienia hodginsii trên các sườn dốc ở độ cao trên 1.400 m.  
Cấu trúc tầng tán của các quần xã thường có từ 2 - 4 tầng, song quy luật liên  
tục hay phân mảnh không thể hiện rõ giữa các quần xã, trong đó tầng trên cùng ở nơi  
này thì phân mảnh, nơi khác lại khá liên tục.  
Tính chất của đất, điều kiện thuỷ văn của khu vực và của đất rừng có ảnh hưởng  
rõ rệt đến cấu trúc thành phần loài và hình thái các quần xã thực vật của KBT Hòn  
Bà. Cùng với hình thái địa hình, đây là những yếu tố có ý nghĩa tạo nên những giới  
hạn phân bố của những loài thực vật đặc trưng cho đồng bằng miền Nam nước ta.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
Trần Thế Bách và nnk., Bước đầu nghiên cứu đa dạng thực vật thuộc ngành  
Ngọc lan (Magnoliophyta) ở Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh  
Hòa, Báo cáo khoa học Hội nghị Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật toàn quốc  
lần thứ 5, Hà Nội, 2013, tr.379-383.  
2.  
3.  
Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam, 1, 2, 3, NXB Trẻ, TP.Hồ Chí Minh, 1999.  
Nguyễn Đăng Hội, Kuznetsov A.N., Vai trò của yếu tố địa hình trong việc  
phân hoá thảm thực vật tự nhiên Vườn Quốc gia Bi Doup - Núi Bà, tỉnh Lâm  
Đồng, Báo cáo khoa học Hội nghị Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật toàn quốc  
lần thứ 3, Hà Nội, 2009, tr.1347-1352.  
4.  
Nguyễn Đăng Hội, Cơ sở địa lý tự nhiên của việc quản lý, bảo tồn đa dạng  
sinh học VQG Bidoup - Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng, Báo cáo khoa học Hội nghị  
toàn quốc lần thứ nhất hệ thống Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Hà Nội,  
2011, tr.386-392.  
5.  
6.  
Lê Bá Thảo, Thiên nhiên Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003.  
Nguyễn Văn Trương, Quy luật cấu trúc rừng gỗ hỗn loại, NXB Khoa học và  
Kỹ thuật, Hà Nội, 1983.  
7.  
Кузнецов А. Н., Кузнецова С. П., Фан Лыонг, Растительность горных  
массивов Би Дуп и Хон Ба - южной оконечности меридинального  
гималайского хребта Чыонг Шон, Материалы зоолого-ботанических  
исследований в горных массивах Би Дуп и Хон Ба, далатское плато,  
южный Вьетнам, Москва - Ханой, 2006.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 07, 10 - 2014  
27  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
SUMMARY  
THE STRUCTURAL FEATURES OF FOREST PLANT COMMUNITIES IN  
HON BA NATURAL RESERVE IN KHANH HOA PROVINCE  
Hon Ba Natural Reserve is considered as an unique area in Vietnam that remains  
relatively primitive structure of plant communities and forest landscape from a height of  
150 m to 1,500 m altitude. The research results provide data on the structural  
characteristics of typical plant communities of Hon Ba Natural Reserve. Accordingly,  
the structure of plant communities has a high level of diversity, including plant  
communities in the lowland valleys, on slopes under 1,000 m, and on the top of  
mountain. The historical and stable development of the area has created several types  
of mixed subtropical plant communities with precious, rare coniferous species, such  
as plant communities of mixed broadleaf species with Ducampopinus krempfii and  
with Fokienia hodginsii. Canopy structure of plant communities usually has from 2 - 4  
stories, but it is not follow clearly rule. In addition, soil properties, hydrological  
conditions of forest soil influence quite markedly on species composition, structure  
and morphology of plant communities of Hon Ba Natural Reserve.  
Từ khoá: Cấu trúc, cây gỗ, loài ưu thế, phân mảnh, quần xã, thân thảo, khu  
bảo tồn.  
Nhận bài ngày 22 tháng 9 năm 2014  
Hoàn thiện ngày 18 tháng 10 năm 2014  
Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga  
28  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 07, 10 - 2014  
pdf 9 trang yennguyen 9140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh Hoà", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_cau_truc_quan_xa_thuc_vat_rung_khu_bao_ton_thien_nh.pdf