Kết quả nghiên cứu kinh tế chính sách lâm nghiệp sau 35 năm đổi mới (1986-2020) và định hướng đến năm 2030

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KINH TẾ CHÍNH SÁCH LÂM NGHIỆP  
SAU 35 NĂM ĐỔI MỚI (1986 - 2020)  
VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030  
Hoàng Liên Sơn, Nguyễn Gia Kiêm, Phạm Thị Luyện, Vũ Duy Hưng,  
Nguyễn Hoàng Tiệp, Bùi Thị Minh Nguyệt  
TÓM TẮT  
Áp dụng phương pháp nghiên cứu tổng quan hệ thống, bài viết đã phân tích và đánh giá kết quả nghiên  
cứu kinh tế - chính sách lâm nghiệp có tác động đến những thành tựu to lớn đã đạt được của ngành Lâm  
nghiệp trong 35 năm của thời kỳ đổi mới. Tại mỗi giai đoạn phát triển của thời kỳ đổi mới, các kết quả  
nghiên cứu đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn làm cơ sở đề xuất các giải pháp chính sách: Phục hồi và  
phát triển vốn rừng; xã hội hóa nghề lâm nghiệp thông qua cách tiếp cận của lâm nghiệp xã hội/lâm nghiệp  
cộng đồng; Giao đất lâm nghiệp; Sắp xếp, đổi mới tổ chức sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp  
lâm nghiệp nhà nước; Chi trả dịch vụ môi trường rừng; Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp theo chuỗi giá trị; Quản  
lý rừng bền vững; và Biến đổi khí hậu... Nội dung nghiên cứu chỉ rõ, nghiên cứu kinh tế - chính sách lâm  
nghiệp có tính kế thừa, liên tục theo các mục tiêu có tính bao trùm và phù hợp trong từng giai đoạn của bối  
cảnh phát triển kinh tế - xã hội trong nước và thế giới. Do đó, nghiên cứu kinh tế - chính sách lâm nghiệp có  
tính dài hạn, ảnh hưởng và tác động lâu dài nên rất cần có sự quan tâm đầu tư vượt trước thời gian. Từ đó, đề  
xuất được 8 hướng nghiên cứu cơ bản về kinh tế - chính sách lâm nghiệp, nhằm góp phần thực hiện thành  
công chiến lược phát triển lâm nghiệp trong giai đoạn tới.  
Research results of forestry economic policy after 35 years  
of the reform period (1986-2020) and orientations to 2030  
SUMMARY  
Based on the research method of the systematic review, the article analyzed and evaluated the results of  
forestry economic policies which have got significant impacts on the great achievements gained by the  
forestry sector in 35 years of the Reform Period. At each stage of this period, the research results provide  
scientific evidence as a basis for proposing forestry policy solutions: Restoring and developing forest  
resources; socialization of forestry sector through an approach of social forestry/community forestry; Forest  
land allocation; Reorganize and renovate forestry production organizations, especially state-owned forest  
enterprises; Payment for forest environmental services; Restructuring the forestry sector along the value  
chain; Sustainable forest management; and Climate change... The content of the study indicates that Forestry  
Economic Policies are inherited and continuously based on inclusive and appropriate objectives in each stage  
of the socio-economic development context in Vietnam and the world. Therefore, forestry economic - policy  
research has long-term effects and impacts, so it is necessary to pay attention to investment ahead of time.  
Since then, eight basic research directions on forestry economics and policies have been proposed to  
contribute to the successful implementation of the forestry development strategy in the coming period.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ12  
Việt Nam có khát vọng mạnh mẽ trở thành một nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng  
tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ mà sự đóng góp của ngành lâm nghiệp là vô  
cùng quan trọng nhằm góp phần đảm bảo môi trường - sinh thái cho sự phát triển bền vững  
của đất nước.  
1 Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.  
2 Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Lâm nghiệp.  
85  
   
Trong những năm vừa qua, ngành lâm nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến rõ rệt. Theo  
Quyết định 1423/QĐ-BNN-TCLN ngày 15 tháng 4 năm 2020 của Bộ Nông nghiệp và PTNT  
về Công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2019, tổng diện tích đất có rừng cả nước là  
14.609.220 ha, trong đó rừng tự nhiên là 10.292.434 ha, rừng trồng là 4.316.786 ha. Tỷ lệ che  
phủ rừng là 41,89%.  
Năm 2018, sản lượng gỗ khai thác nội địa 28,45 triệu m, tăng 6% so với năm 2017, trong đó  
khai thác từ rừng trồng tập trung đạt 20,6 triệu m; khai thác từ cây trồng phân tán, vườn nhà 3,55  
triệu m và gỗ cao su đạt khoảng 4,3 triệu m, gỗ nguyên liệu nhập khẩu quy tròn khoảng 10 triệu  
m. Như vậy, tỷ trọng nguyên liệu chế biến gỗ trong nước đã đạt 74%; nhập khẩu đã giảm xuống  
ở tỷ lệ 26%. Bên cạnh đó, chất lượng nguyên liệu rừng trồng đã từng bước được nâng lên từ  
khâu chọn tạo giống, trồng, chăm sóc đến khai thác, chế biến và thương mại gỗ sản phẩm gỗ  
rừng trồng. Các mô hình đạt tiêu chuẩn cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững và chuyển hóa  
rừng trồng gỗ lớn được thực hiện, với diện tích tương ứng khoảng 220.000 ha và 290.000 ha.  
Báo cáo kết quả ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu gỗ và lâm sản năm 2019 cho biết kim  
ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản Việt Nam đạt 10,3 tỷ USD. Việt Nam đã trở thành quốc gia đứng  
thứ 5 trên thế giới, thứ 2 châu Á, thứ nhất Đông Nam Á về xuất khẩu gỗ và lâm sản. Thị trường  
xuất khẩu gỗ, lâm sản ngày càng được mở rộng, đến hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ...  
Chi trả Dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là chính sách xã hội hóa nghề rừng, thu hút  
mạnh mẽ nguồn lực cho bảo vệ và phát triển rừng, được toàn xã hội đồng tình ủng hộ và đánh  
giá cao. Chỉ tính riêng năm 2018, DVMTR đã thu được 2.937,9 tỷ đồng (Quỹ Bảo vệ và Phát  
triển rừng (BV&PTR) Việt Nam, 2019), bình quân mỗi năm tiếp theo có thể thu được khoảng  
3.000 tỷ đồng, tái đầu tư bảo vệ và phát triển cho hơn 5 triệu ha rừng và có hàng năm có hàng  
trăm nghìn hộ gia đình và cộng đồng dân cư là chủ rừng và người nhận khoán bảo vệ rừng  
được hưởng tiền dịch vụ môi trường rừng. Đồng thời, xây dựng nhiều chính sách về dịch vụ  
hấp thụ và lưu giữa carbon của rừng để nâng tổng tiền DVMTR hàng năm có thể lên tới 4.000  
tỷ đồng/năm cho bảo vệ và phát triển trên 7 triệu ha rừng, chiếm 50% diện tích rừng của cả  
nước. Đây là nguồn tài chính mới, bền vững, khai thác tiềm năng lớn về giá trị môi trường của  
rừng cho phát triển lâm nghiệp.  
Những thành tựu đạt được nêu trên có sự đóng góp quan trọng của các kết quả nghiên cứu  
kinh tế - chính sách lầm nghiệp. Tuy vậy, trong thời gian tới ngành lâm nghiệp nói chung và hoạt  
động nghiên cứu kinh tế chính sách nói riêng phải có những hướng đi phù hợp với mục tiêu bảo  
vệ và phát triển rừng, góp phần phát triển kinh tế nhanh và bền vững, hướng tới nền kinh tế  
xanh. Bài viết này sẽ khái quát bức tranh chung về những kết quả đạt được trong lĩnh vực nghiên  
cứu kinh tế - chính sách lâm nghiệp, cũng như những tác động, ý nghĩa thực tiễn của thành tựu  
đạt được trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2020), làm cơ sở định hướng nghiên cứu kinh tế chính  
sách lâm nghiệp đến năm 2030.  
II. CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH LÂM NGHIỆP SAU ĐỔI MỚI  
Các giai đoạn phát triển lâm nghiệp Việt Nam sau thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay có  
tính kế thừa, liên tục với các mục tiêu có tính bao trùm, phù hợp đối với từng giai đoạn, phù hợp  
với bối cảnh và phát triển của đất nước và thế giới. Các nội dung và định hướng phát triển lâm  
nghiệp Việt Nam trong thời kỳ này có thể được phân thành 4 giai đoạn: Phát triển nghề rừng  
(1986 - 1990) → Phát triển kinh tế lâm nghiệp (1991 - 2000) → Phát triển lâm nghiệp toàn diện  
(2001 - 2010) → Phát triển lâm nghiệp bền vững (2011 - 2020), được tổng hợp tại Sơ đồ 1.  
86  
2.1. Giai đoạn 1986 - 1990: Phát triển nghề rừng  
Đây là những năm đầu tiên bắt đầu công cuộc đổi mới, thực hiện chính sách chuyển đổi nền  
kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế nhiều thành phần, xây dựng và phát triển nền kinh tế  
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, kinh tế hộ gia đình đóng vai trò quan trọng, là  
tế bào của nền kinh tế. Theo chức năng điều tiết của thị trường, các nguồn lực phát triển kinh tế  
dần dần được phân bổ cho các “tế bào” này.  
Tuy nhiên, đối với sản xuất lâm nghiệp, một câu hỏi lớn được đặt ra là các hộ gia đình sẽ  
sử dụng các nguồn lực đất đai để phát triển nghề rừng như thế nào? trong bối cảnh tỷ lệ che  
phủ rừng thấp, tài nguyên rừng đang ngày càng nghèo kiệt, vốn rừng suy thoái không đủ đáp  
ứng nhu cầu phát triển kinh tế và diện tích đất trống đồi trọc nhiều với khoảng gần 6 triệu ha.  
Đặc biệt, an ninh lương thực là vấn đề rất nghiêm trọng trên phạm vi toàn quốc.  
Các giai đoạn và định hướng phát triển của chính sách lâm nghiệp Việt Nam  
(1986 - 1990)  
Phát triển  
(1991 - 2000)  
Phát triển  
(2001 - 2010)  
Phát triển  
(2011 - 2020)  
Phát triển  
nghề rừng  
kinh tế lâm nghiệp  
lâm nghiệp toàn diện  
lâm nghiệp bền vững  
- Tái cơ cấu Ngành  
- Kinh tế đồi rừng, - Giao đất LN  
- QSD đất LN  
NLKH và an ninh  
lương thực  
- SX, KD LN liên kết theo  
chuỗi giá trị  
- LNXH/LNCĐ  
- Hưởng lợi từ rừng  
- Phục hồi và phát - Sắp xếp, đổi mới, cổ  
triển vốn rừng  
- QLRBV&CCR  
- Hội nhập quốc tế và nâng  
cao năng lực cạnh tranh  
- Quản lý rừng theo  
chức năng  
phần hoá DNLNNN  
- Định giá rừng  
- Kinh tế trang trại  
- Dịch vụ MTR  
- BĐKH  
N
1991  
1992  
1998  
2011  
2016  
CT  
2006  
2004  
2017  
Luật  
Lâm  
nghiệp  
Luật  
BV&  
PTR  
DA  
661  
CT  
327  
CL  
PT  
LN  
Luật  
BV&  
PTR  
KH  
BV&  
PTR  
Quá  
trình xây  
dựng và  
phát  
triển  
chính  
8
86  
sách lâm  
nghiệp  
Hệ thống pháp luật vận hành thực hiện các mục tiêu phát triển ngành Lâm nghiệp  
- Chính sách giao đất, giao rừng  
- Chính sách bảo vệ và phát triển rừng  
- Chính sách hưởng lợi rừng  
- Chính sách Thị trường - Chế biến - Tiêu thụ sản phẩm  
Sơ đồ 1. Các giai đoạn và chính sách phát triển lâm nghiệp thời kỳ 1986 - 2020  
87  
Vì vậy, trong giai đoạn này các đề tài nghiên cứu đã được thực hiện để trả lời câu hỏi nêu  
trên, làm cơ sở cung cấp luận cứ khoa học phục vụ xây dựng chính sách phát triển kinh tế đồi  
rừng mà hộ gia đình là chủ thể chính thực thi chính sách này. Điển hình là các công trình nghiên  
cứu về cơ chế chính sách phát triển nông lâm kết hợp vùng miền núi phía Bắc của tập thể các  
nhà khoa học kinh tế lâm nghiệp của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam. Địa điểm thực hiện  
các thử nghiệm chính sách tại Đoan Hùng, Phú Thọ. Kết quả nghiên cứu đã có hiệu ứng tác động  
quan trọng, góp phần thực hiện thành công phong trào “tiến công” lên đất trống đồi trọc xây  
dựng kinh tế đồi rừng bằng phương thức canh tác nông lâm kết hợp được mở rộng cho toàn bộ  
vùng miền núi phía Bắc. Kết quả nghiên cứu góp phần giải quyết cơ bản bài toán an ninh lương  
thực của đồng bào dân tộc miền núi, cũng như các hộ gia đình di dân xây dựng vùng kinh tế mới.  
Nghề rừng với cơ chế lấy ngắn nuôi dài, kinh doanh tổng hợp trên đất lâm nghiệp chính thức  
được hình thành với sự tham gia chủ lực là các hộ gia đình.  
Quản lý rừng theo chức năng cũng bắt bắt đầu được thực hiện theo Quyết định số 1171-QĐ  
ngày 30/12/1986 về Ban hành các loại quy chế Rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng  
có cơ cấu hợp lý nhằm đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và bảo vệ đa  
dạng sinh học; nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm và DVMTR; tăng giá trị sản xuất bình quân  
hàng năm; đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; góp phần tạo  
việc làm, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường sinh thái.  
2.2. Giai đoạn 1991 - 2000: Phát triển kinh tế lâm nghiệp  
Phục hồi rừng và phát triển vốn rừng trong giai đoạn này là nhiệm vụ trọng tâm chính trị của  
toàn ngành lâm nghiệp, khi độ che phủ của rừng giảm xuống thấp nhất (28%), diện tích đất trống  
đồi trọc lớn. Mục tiêu cụ thể là bảo vệ và phục hồi rừng tự nhiên hiện có, đẩy mạnh trồng rừng  
phát triển vốn rừng. Khung pháp lý quan trọng nhất của giai đoạn này là Luật Bảo vệ và Phát  
triển rừng (1991). Theo đó, (1) “Nhà nước giao rừng, đất trồng rừng cho tổ chức, cá nhân - dưới  
đây gọi là chủ rừng”; (2) “Rừng được gây trồng trên đất được Nhà nước giao không phải bằng  
vốn của Nhà nước, thì sản phẩm thực vật rừng thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân bỏ vốn”; và (3)  
“Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn, áp dụng tiến bộ khoa  
học, công nghệ vào việc gây trồng rừng, bảo vệ rừng, khai thác và chế biến lâm sản theo hướng  
phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến”. Để thể chế hóa khung pháp lý  
này, các đề tài nghiên cứu đã được hình thành, với rất nhiều nỗ lực của các nhà nghiên cứu về  
kinh tế lâm nghiệp nhằm cung cấp luận cứ khoa học xây dựng các chính sách cụ thể. Một số kết  
quả nghiên cứu nổi bật về giao đất lâm nghiệp, như: Tổng quan các vấn đề chính sách trong giao  
đất lâm nghiệp, đánh giá hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp sau khi giao và đặc biệt là nội dung  
giao đất lâm nghiệp trong quá trình thực hiện Dự án 327. Giao đất lâm nghiệp được xem là điều  
kiện tiên quyết để thu hút sự tham gia và thay đổi vị thế “làm chủ” theo nguyên tắc dân biết, dân  
bàn, dân thực hiện và dân hưởng lợi thành quả phục hồi rừng của Chương trình 327, tiếp theo là  
Dự án 5 triệu ha rừng (661).  
Lần đầu tiên, một Chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước về lâm nghiệp xã hội mã số  
KN03 được triển khai trên các vùng kinh tế - sinh thái lâm nghiệp khó khăn và trọng điểm,  
như: Tây Bắc; Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Kết quả của chương trình nghiên cứu là cơ sở để  
huy động lực lượng lớn đồng bào dân tộc thiểu số tham gia vào hoạt động lâm nghiệp theo  
phương thức Nông lâm kết hợp (NLKH) nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp bền  
vững miền núi, vùng cao. Đặc biệt, kết quả của chương trình có sự hợp tác nghiên cứu của  
các nhà khoa học lâm nghiệp tiêu biểu. Từ đây, khi nói đến Lâm nghiệp xã hội (LNXH) thì  
không thể bỏ qua các hoạt động phát triển sinh kế của người dân sống gắn bó với rừng và  
NLKH trở thành một phương thức kỹ thuật để thực hiện các dự án LNXH và LNCĐ sau này.  
Ngoài ra, các vấn đề về xã hội trong lâm nghiệp cũng được quan tâm nghiên cứu như:  
88  
Nghiên cứu mối quan hệ giữa di dân với vấn đề bảo vệ và phát triển rừng: tập trung đánh giá  
thực trạng tình hình di dân tự phát, di dân xây dựng kinh tế mới, phân tích mối quan hệ giữa  
di dân với vấn đề bảo vệ rừng; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình định  
canh định cư; ổn định cuộc sống dân di cư gắn với bảo vệ rừng và chiến lược phát triển kinh  
tế xã hội nông thôn, miền núi. Bên cạnh đó, cũng đã có xu hướng mới là nghiên cứu tổng hợp  
vai trò kinh tế, xã hội, môi trường của rừng trong phát triển kinh tế xã hội, hướng tới xây  
dựng các khu kinh tế sinh thái thích hợp với từng địa phương như nghiên cứu về vai trò của  
rừng trong cơ cấu nông lâm-công nghiệp với sự phát triển kinh tế xã hội miền núi; Nghiên  
cứu xây dựng và đề xuất mô hình kinh tế - môi trường vùng núi cao Lâm Đồng; và Công  
trình “Làng sinh thái” trên vùng đất cát ven biển,...  
Một lĩnh vực khác cũng được quan tâm trong giai đoạn này là nghiên cứu về kinh tế trang  
trại. Kết quả của các nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào những vấn đề như: làm rõ cơ sở  
khoa học và thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại lâm nghiệp; đánh giá thực trạng hoạt động  
sản xuất kinh doanh và đi sâu phân tích, đánh giá hiệu quả mô hình này tại một số địa phương;  
trên cơ sở đó rút ra bài học kinh nghiệm, tiềm năng và những vấn đề đặt ra; đề xuất định hướng  
chính sách và giải pháp chủ yếu khuyến khích phát triển và nâng cao hiệu quả của các trang  
trại lâm nghiệp ở nước ta.  
2.3. Giai đoạn 2001 - 2010: Phát triển lâm nghiệp toàn diện  
Sau 15 năm đổi mới, từ 1986, mô hình quản lý rừng trong giai đoạn này đã được định hình rõ  
nét, đồng thời 3 phương thức tiếp cận: (1) Quản lý rừng theo nguồn gốc; (2) Quản lý rừng theo  
chức năng; (3) Quản lý rừng có sự tham gia, bao gồm 10 chủ thể là những “chủ rừng”. Do đó,  
mục tiêu phát triển lâm nghiệp toàn diện, bao gồm về Kinh tế - Xã hội - Môi trường bước đầu đã  
đạt được.  
Diện tích đất lâm nghiệp được giao lũy kế đến hết giai đoạn này cho các chủ rừng đại  
diện sở hữu Nhà nước 7,48 triệu ha; chủ rừng là các hộ gia đình, cộng đồng và doanh nghiệp  
ngoài quốc doanh 3,8 triệu ha; và đất chưa giao 2,11 triệu ha, tương ứng chiếm tỷ lệ 56%;  
38% và 16% so với tổng diện tích đất lâm nghiệp, 13,39 triệu ha. Độ che phủ của rừng tăng  
từ 28% lên 39,5%.  
Các nghiên cứu trong giai đoạn này tập trung luận giải cơ sở lý luận cho các vấn đề về  
quyền sử dụng đất lâm nghiệp; hưởng lợi từ rừng; sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp lâm nghiệp  
nhà nước; định giá rừng; đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến lâm  
sản vừa và nhỏ; và nghiên cứu phát huy nội lực của chủ rừng trong sản xuất, kinh doanh lâm  
nghiệp. Kết quả nổi bật nhất trong giai đoạn này là cung cấp cơ sở khoa học để sửa đổi bổ  
sung Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004; góp phần cung cấp lý luận và nghiên cứu  
điểm để xây dựng Chiến lược phát triển Lâm nghiệp năm 2007. Theo đó, quyền sử dụng đất  
lâm nghiệp của cộng đồng chính thức được ghi trong Luật, cộng đồng được coi là chủ rừng  
và diện tích rừng và đất lâm nghiệp thuộc quyền sử dụng của cộng đồng ngày càng tăng,  
khoảng 0,28 triệu ha. Một số cộng đồng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.  
Mặc dù, các quyền cơ bản về sử dụng rừng và đất lâm nghiệp, các cơ chế hưởng lợi từ rừng  
của cộng đồng đã được thừa nhận nhưng chưa đầy đủ so với các loại hình chủ rừng khác theo  
quy định của pháp luật.  
Sắp xếp, đổi mới và cổ phần hóa doanh nghiệp lâm nghiệp nhà nước (DNLNNN) là một  
chủ đề nghiên cứu rất được quan tâm trong giai đoạn này. Một số nghiên cứu về giải pháp  
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các công ty lâm nghiệp, đánh giá về cổ phần hóa  
công ty lâm nghiệp, xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nước trong sản xuất nông lâm nghiệp  
của đội ngũ giảng viên Trường Đại học Lâm nghiệp đã cung cấp cơ sở khoa học cho việc  
89  
tổng kết đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh và phát triển của các DNLNNN; đề xuất các  
loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh lâm nghiệp phù hợp với xu hướng quản lý rừng bền  
vững và hội nhập kinh tế quốc tế. Kết quả tổng kết Nghị quyết 28 đã đề xuất giải pháp chính  
sách quan trọng để tổ chức lại các nông, lâm trường, có cơ chế, chính sách để sử dụng hơn 2  
triệu ha đất lâm nghiệp được giao cho các doanh nghiệp này có hiệu quả kinh tế, xã hội gắn  
với bảo vệ môi trường sinh thái. Đồng thời, kết quả của một số nghiên cứu cũng chỉ rõ, cổ  
phần hóa là một sự lựa chọn tất yếu có tính khách quan, là một nội dung quan trọng trong  
công cuộc sắp xếp đổi mới DNLNNN và ngày càng trở lên cấp bách khi đất nước chuyển  
sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập vào nền kinh  
tế khu vực và thế giới.  
Những nghiên cứu nổi bật về định giá rừng đã cung cấp cơ sở khoa học quan trọng để  
xây dựng chính sách định giá rừng ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả này đã  
đặt nền móng khoa học và thực tiễn về nguyên tắc và phương pháp xác định giá các loại  
rừng. Các kết quả đã làm thay đổi quan niệm giá trị của rừng. Các giá trị này được tôn trọng  
và làm cơ sở xây dựng các chính sách liên quan đến chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đặc  
biệt, giá trị nhiều mặt của tài nguyên rừng được tiền tệ hóa, góp phần quản lý bền vững rừng  
ở Việt Nam. Quyết định số 380/QĐ-TTg về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường  
rừng (CTDVMTR) được ban hành, thí điểm tại tỉnh Sơn La và tỉnh Lâm Đồng, được sự hỗ  
trợ của Dự án Hợp tác Lâm nghiệp Việt Đức và Tổ chức Winrock International. Việc thực  
hiện thí điểm CTDVMTR có sử dụng Quỹ BV&PTR là một công cụ quan trọng để thực hiện  
các nhiệm vụ chi trả ủy thác tiền DVMTR. Sau 2 năm thí điểm, chính sách đã thu được kết  
quả tốt, đóng góp thiết thực cho công tác bảo vệ rừng và xóa đói giảm nghèo cho người dân  
miền núi. Đến 29/4/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 99/2010/NĐ-CP về  
Chính sách CTDVMTR trên cả nước. Trong giai đoạn 2011-2015, việc thực hiện CTDVMTR  
hầu như qua hình thức chi trả gián tiếp qua VNFF và các Quỹ tỉnh. Ngày 02/11/2016, Chính  
phủ đã ban hành Nghị định 147/NĐ-CP về sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định  
99/2010/NĐ-CP, ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Trong 07  
năm (2012-2018) diện tích rừng được hưởng tiền DVMTR tăng từ 1.286.233 ha trong năm  
lên 5.229.112 ha vào năm 2015 và tiếp tục tăng lên 5.986.000 ha vào năm 2017. Chỉ tính  
riêng năm 2019, diện tích rừng được hưởng DVMTR là 6,4 triệu ha, chiếm 43% tổng diện  
tích rừng của cả nước (Quỹ BV&PTR Việt Nam, 2019).  
2.4. Giai đoạn 2011 - 2020: Phát triển lâm nghiệp bền vững  
2.4.1. Định hướng nghiên cứu cho giai đoạn này tập trung vào các lĩnh vực:  
- Xây dựng và cập nhật hệ thống chính sách pháp luật và thể chế chính sách, pháp luật theo  
hướng phân cấp nhiều hơn cho địa phương và phát triển lâm nghiệp bền vững theo hướng sản  
xuất hàng hóa và xã hội hóa nghề rừng;  
- Xây dựng cơ chế, chính sách tạo động lực thúc đẩy các thành phần kinh tế tham gia bảo vệ  
và phát triển rừng, khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, cộng đồng dân cư  
thôn và hộ gia đình tham gia phát triển kinh tế lâm nghiệp;  
- Tổ chức lại và nâng cao hiệu lực của hệ thống quản lý nhà nước về lâm nghiệp theo hướng  
thống nhất chức năng quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng; làm rõ chức năng, nhiệm vụ  
của tổ chức lâm nghiệp các cấp và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ lâm nghiệp;  
- Xây dựng cơ chế chính sách cho các lâm trường quốc doanh đã tổ chức, sắp xếp đổi mới  
thành công ty và hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, từng bước thực hiện cổ phần hóa  
các công ty kinh doanh lâm nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh  
theo cơ chế thị trường;  
90  
- Xây dựng, thực hiện và mở rộng hình thức quản lý bảo vệ rừng cộng đồng;  
- Thiết lập hệ thống khuyến lâm nhà nước các cấp và có cơ chế hỗ trợ tổ chức khuyến lâm tự  
nguyện cho thôn, xã có nhiều rừng;  
- Xây dựng các đơn vị chuyên trách về giám sát, đánh giá gắn với việc kiện toàn hệ thống  
lập kế hoạch lâm nghiệp các cấp.  
2.4.2. Các kết quả nghiên cứu  
Các kết quả nghiên cứu của giai đoạn trước được tích lũy và kết tinh trong rất nhiều chính  
sách được ban hành và thực hiện trong giai đoạn này.  
Những nghiên cứu phục vụ tái cơ cấu ngành lâm nghiệp và liên kết theo chuỗi giá trị là các  
đề tài về ngành hàng gỗ rừng trồng và mô hình liên kết (MHLK) theo chuỗi giá trị. Kết quả  
nghiên cứu chỉ rõ MHLK theo chuỗi giá trị gỗ rừng trồng cần được tổ chức vận hành thông qua 4  
nhóm nhân tố chủ yếu: (1) Dòng luân chuyển vật chất; (2) Dòng tiền; (3) Dòng thông tin trao  
đổi; và (4) Liên kết ngang, liên kết dọc trong từng khâu. Nếu một MHLK quản trị tốt mối liên hệ  
theo cấu trúc tổ chức 4 nhóm nhân tố này sẽ đủ điều kiện để duy trì và tạo ra giá trị gia tăng cao.  
Kết quả nghiên cứu đã tổng kết được 15 loại hình MHLK, trong đó những MHLK theo chuỗi giá  
trị đồ mộc nội, ngoại thất được đánh giá là tạo thêm nhiều cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho  
người lao động ở khâu chế biến, khoảng 4 lần trên mỗi mét khối gỗ nguyên liệu, thay vì chế biến  
dăm mảnh xuất khẩu. Mặt khác, yêu cầu gỗ nguyên liệu được sử dụng phải được khai thác từ  
rừng trồng có chu kỳ kinh doanh từ trên 6 năm. Phân tích hiệu quả kinh tế cho thấy, kinh doanh  
rừng trồng được cải thiện rất nhiều, nếu kéo dài chu kỳ kinh doanh từ 5 năm đến 6 năm thì lợi  
nhuận dòng (NPV) tăng 1,57 lần và 10 năm thì NPV tăng 4,24 lần. Kết quả nghiên cứu này rất  
có ý nghĩa trong việc xây dựng chính sách phát triển rừng trồng kinh doanh gỗ lớn và thay đổi cơ  
cấu sử dụng gỗ nguyên liệu rừng trồng trong chế biến sản phẩm gỗ để tạo thêm việc làm và giá  
trị gia tăng trong sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp.  
Các nghiên cứu về nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị của rừng trong nghiên cứu về tuổi  
thành thục công nghệ và thành thục kinh tế của các mô hình trồng cây keo lai và Keo tai tượng  
trên một số vùng sinh thái trọng điểm đã cho thấy, độ tuổi thành thục kinh tế của rừng trồng keo  
lai và Keo tai tượng nằm trong khoảng từ 12-13 tuổi, gần gấp đôi chu kỳ trồng rừng phổ biến  
hiện nay. Nghiên cứu đã phân tích được lợi ích của các chủ thể tham gia trong chuỗi cung ứng và  
chỉ ra rằng, nếu trồng rừng gỗ lớn thì lợi ích của các chủ thể tham gia trong chuỗi cung ứng sẽ  
gia tăng cao hơn so với các mô hình trồng rừng gỗ nhỏ hiện nay. Điều này đã khẳng định chủ  
trương đúng đắn của Nhà nước ta trong khuyến khích phát triển rừng trồng gỗ lớn nhằm đảm bảo  
cung cấp gỗ cho chế biến sâu để mang lại lợi ích cho tất cả các chủ thể tham gia vào thị trường  
sản xuất, kinh doanh rừng trồng.  
Các nghiên cứu về thị trường lâm sản và đa dạng hóa các loại hình sản xuất, tăng cường  
ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi  
cho hoạt động sản xuất, kinh doanh theo cơ chế thị trường. Ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt  
Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao về xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ, đặc biệt trong giai  
đoạn 2015 - 2020, và được kỳ vọng tiếp tục tăng trưởng trong những năm tiếp theo. Uy tín của  
sản phẩm gỗ Việt đã từng bước được khẳng định trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, trong bối  
cảnh Việt Nam rất chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và mong muốn  
kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ ngày càng gia tăng thì thách thức sẽ ngày càng nhiều và cơ  
hội có được sẽ là vượt qua thách thức. Tính đến tháng 3 năm 2020, Việt Nam đã ký kết 16 Hiệp  
định thương mại tự do (FTA). Trong đó, Hiệp định EVFTA giữa Việt Nam và EU được ký kết  
đặt ra những thách thức về nguồn gốc gỗ hợp pháp của các mặt hàng gỗ xuất khẩu sang EU. Tuy  
nhiên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã khẳng định rõ ràng rằng, các doanh nghiệp  
91  
xuất khẩu sản phẩm gỗ sang EU sẽ không lo lắng hay bất ngờ về các điều khoản liên quan đến  
nguồn gốc gỗ hợp pháp. Vì, Hiệp định đối tác tự nguyện thực thi Luật Lâm nghiệp, quản trị rừng  
và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) đã giải quyết được vấn đề này. Sự tự tin này là bởi kết  
quả nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong truy xuất và quản lý nguồn gốc gỗ hợp pháp  
(iTwood) đã được Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thực hiện trong những năm vừa qua.  
Kết quả đã chỉ rõ: (1) iTwood là giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin được áp dụng cho quản  
lý chuỗi cung và truy xuất nhanh, chính xác, chứng minh sự minh bạch của nguồn gốc gỗ hợp  
pháp, hỗ trợ đắc lực chủ rừng quản lý tài sản rừng trồng và được cập nhật thường xuyên theo chu  
kỳ kinh doanh rừng trồng; và (2) Đặc biệt, iTwood sẽ góp phần nâng cao thương hiệu uy tín của  
gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam trên thị trường trong nước và thế giới, góp phần chuyển đổi 4,2  
triệu ha rừng trồng gỗ nguyên liệu lên phương thức sản xuất, kinh doanh hiện đại theo kịp cuộc  
cách mạng 4.0 của nhân loại.  
Những nghiên cứu liên quan đến quản lý rừng bền vững (QLRBV) được thực hiện rất nhiều  
trong giai đoạn này. Trong đó, nghiên cứu tiêu biểu nhất được GS-TSKH. Nguyễn Ngọc Lung và  
cộng sự của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thực hiện đã chỉ rõ, QLRBV trong thế giới  
hiện đại đã trở thành một yêu cầu bắt buộc của phát triển bền vững. Trong khi đó, chứng chỉ  
rừng mang tính tự nguyện, nhưng có vai trò là một công cụ mềm quan trọng để chỉ rõ bằng  
chứng về QLRBV, thúc đẩy tiếp cận thị trường, duy trì và mở rộng thị phần xuất khẩu sản phẩm  
gỗ rừng trồng của Việt Nam, hạn chế tối đa chặt phá rừng tự nhiên còn lại. QLRBV còn là cơ hội  
hàng triệu hộ gia đình và công đồng khắp nông thôn, miền núi trong cả nước có cơ hội tham gia.  
Ngoài lợi ích kinh tế cho chủ rừng, cộng đồng dân cư, nó còn đáp ứng nhu cầu đảm bảo môi  
trường sản xuất, đời sống tại chỗ, như: nguồn nước, ô nhiễm, phòng chống bão lụt, hạn hán, bảo  
tồn đa dạng sinh học,..., và các nhu cầu xã hội, an ninh quốc phòng mà các cấp chính quyền địa  
phương đang rất quan tâm trong mục tiêu phát triển bền vững.  
Các nghiên cứu về việc xây dựng cơ chế, chính sách tạo động lực thúc đẩy các thành phần  
kinh tế tham gia bảo vệ và phát triển rừng, xã hội hóa nghề rừng, khuyến khích các thành phần  
kinh tế trong và ngoài nước, cộng đồng dân cư thôn và hộ gia đình tham gia phát triển kinh tế  
lâm nghiệp. Tiêu biểu là một số nghiên cứu như: Nghiên cứu phát triển thể chế trồng rừng sản  
xuất tư nhân 6 tỉnh vùng dự án WB3 (FSDP), Việt Nam; Đánh giá hiệu quả, tác động của  
Chính sách bảo vệ và phát triển rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số... Các chính sách đã  
góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người làm nghề rừng, đặc biệt là đồng bào dân  
tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Các đánh giá về công tác giao đất giao rừng cho các cộng đồng  
dân cư, đặc biệt là các cộng đồng dân tộc thiểu số sống dựa vào rừng là một bước chuyển biến  
căn bản trong chính sách quản lý, bảo vệ rừng, góp phần thúc đẩy các mô hình quản lý rừng  
cộng đồng đã và đang được thừa nhận ở nhiều địa phương hiện nay.  
Các nghiên cứu liên quan đến khai thác các giá trị dịch vụ môi trường rừng nhằm tạo  
nguồn tài chính cho phát triển lâm nghiệp, thực hiện xã hội hóa nghề rừng và quản lý bền vững  
tài nguyên rừng nhất là các khu rừng có nhiều giá trị dịch vụ, hạn chế khai thác giá trị sử dụng  
trực tiếp của rừng. Một số đề tài thực hiện như “Nghiên cứu, đánh giá thực trạng các mô hình  
làm cơ sở đề xuất chính sách cho thuê môi trường rừng ở Việt Nam” của Trường Đại học Lâm  
nghiệp, đã giải quyết các vấn đề vướng mắc trong thực tế như loại rừng cho thuê, dịch vụ cho  
thuê, đối tượng thuê, đối tượng cho thuê, thời gian thuê,... Đề tài góp phần giải quyết các  
khoảng trống nổi cộm nhất về khoa học quản lý rừng hiện nay, nâng cao hiệu quả quản lý rừng  
thông qua những giá trị dịch vụ môi trường rừng, đồng thời có tác động mạnh mẽ đổi mới công  
tác quản lý có liên quan đến quản lý và sử dụng rừng bền vững, hiệu quả đặc biệt là trong bối  
cảnh biến đổi khí hậu. Khung chính sách về thuê MTR sẽ tạo ra động lực mới khuyến khích  
các đối tượng khác nhau tham gia quản lý, khai thác các giá trị của rừng. Đồng thời tạo ra cơ  
92  
chế để các chủ rừng, các bên liên quan chủ động tích cực quản lý và sử dụng rừng một cách  
bền vững và hiệu quả. Việc đề ra những giải pháp chính sách thuê MTR của đề tài có ý nghĩa  
quan trọng cho cách tiếp cận quản lý rừng theo hướng chung của thế giới đó là quản lý cộng  
tác, đồng quản lý, trong đó đặc biệt chú ý huy động sự tham gia của các doanh nghiệp lớn, các  
hợp tác xã nông lâm nghiệp, người dân, cộng đồng quốc tế và các tổ chức xã hội dân sự cho  
chiến lược quản lý và sử dụng bền vững rừng theo hướng đa mục tiêu.  
Các nghiên cứu về các nguồn tài chính mới cho Lâm nghiệp, phát triển hoạt động kinh doanh  
dịch vụ trong lâm nghiệp, đặc biệt là dịch vụ du lịch sinh thái, cơ chế thu phí các dịch vụ, khai thác  
các dịch vụ môi trường rừng,... là những vấn đề được quan tâm trong bối cảnh nguồn vốn đầu tư  
cho BV&PTR hạn hẹp, nhu cầu BV&PTR càng ngày càng tăng, giá trị của ngành lâm nghiệp đang  
bị đánh giá thấp. Những cơ chế tài chính mới trong Lâm nghiệp được nghiên cứu và khai thác đã  
góp phần tăng nguồn thu cho các chủ rừng, tạo điều kiện thu hút nguồn tài chính cho BV&PTR,  
giảm sự đầu tư từ ngân sách Nhà nước. Với tài chính trong Lâm nghiệp được bổ sung đã tạo ra một  
động lực cho chủ rừng đầu tư BV&PTR và khai thác giá trị nhiều mặt của rừng.  
Những nghiên cứu về biến đổi khí hậu (BĐKH) chỉ rõ khi nồng độ phát thải CO2 quá nhiều  
trong không khí sẽ là nguyên nhân chính gây hiệu ứng nhà kính làm nóng lên nhiệt độ trái đất  
dẫn đến BĐKH. Tuy nhiên, khi phân tích sự kiện một khu rừng có khả năng quang hợp tốt sẽ  
hấp thụ được nhiều hơn khí CO2 có trong thành phần không khí sẽ góp phần chống BĐKH. Sáng  
kiến giữ rừng không bị mất, không bị suy thoái gỗ và duy trì tăng trưởng bể chứa carbon rừng để  
chống BĐKH có tên gọi là REDD+ được Việt Nam rất hưởng ứng. Theo đánh giá của nhiều công  
trình nghiên cứu, Việt Nam có tiềm năng lớn để thực hiện REDD+, đặc biệt là kết quả phục hồi  
rừng trong hơn 3 thập kỷ qua. Việc nghiên cứu xây dựng chính sách chi trả DVMTR đối với hấp  
thụ và lưu giữa carbon của rừng sẽ đưa tổng tiền DVMTR hàng năm có thể lên tới 4.000 tỷ  
đồng/năm để quản lý bảo vệ trên 7 triệu ha rừng, chiếm 50% diện tích rừng của cả nước. Đây là  
nguồn tài chính bền vững là tiềm năng lớn cho phát triển lâm nghiệp.  
2.4.3. Một số vấn đề còn tồn tại và hướng giải quyết  
- Các nghiên cứu liên quan đến các quyền sở hữu sản phẩm trên đất rừng phòng hộ và quyền  
hưởng dụng rừng tự nhiên chưa nhiều. Vì vậy, cần đầu tư nghiên cứu về sửa đổi, bổ sung hoàn  
thiện các chính sách về quyền sở hữu, sử dụng rừng nhằm hỗ trợ và thúc đẩy cộng đồng dân cư  
tham gia quản lý, bảo vệ, phát triển rừng.  
- Rừng giao cho cộng đồng dân cư phần lớn là các khu rừng nghèo kiệt, giá trị kinh tế thấp.  
Vì vậy cần có các nghiên cứu về cơ chế chính sách nhằm nâng cao giá trị kinh tế của rừng, nhất  
là các khu rừng tự nhiên nghèo kiệt thông qua triển khai các hình thức nông lâm kết hợp, trồng  
lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng, tăng khoán bảo vệ rừng...  
- Năng suất rừng trồng tuy đã cải thiện đáng kể nhưng vẫn đang thấp so với các nước trong  
khu vực, sản phẩm gỗ chủ yếu là gỗ nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu cho phát triển kinh tế - xã  
hội, đặc biệt là nguyên liệu gỗ lớn cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Vì vậy, cần thiết có  
những nghiên cứu chứng minh được hiệu quả trồng rừng gỗ lớn, thiết kế quy hoạch trồng rừng  
gỗ lớn phù hợp với từng địa phương. Đặc biệt, chưa có những nghiên cứu về cơ chế chính sách  
hỗ trợ trồng rừng gỗ lớn.  
- Thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ khá phát triển, tuy nhiên thị trường trong nước  
vẫn còn bỏ ngỏ. Vì vậy, cần tập trung các nghiên cứu cho phát triển thị trường nội địa gỗ và sản  
phẩm gỗ nhằm thúc đẩy thương mại lâm sản của Việt Nam.  
- Nguồn lực cho công tác bảo vệ và phát triển rừng còn hạn chế, cơ chế huy động nguồn tài  
chính cho phát triển lâm nghiệp chưa đầy đủ, chưa khai thác đầy đủ dịch vụ môi trường rừng để  
93  
tạo nguồn tài chính cho BV&PTR. Vì vậy, cần có những nghiên cứu về cơ chế chính sách nhằm  
chuyển đổi kinh tế rừng từ khai thác sang đầu tư và nâng cao giá trị các sản phẩm, dịch vụ từ  
rừng; Nghiên cứu, lượng hóa các giá trị và chức năng sinh thái của rừng làm cơ sở cho các mục  
tiêu bảo vệ, phát triển rừng và phát triển bền vững nền kinh tế; nghiên cứu cơ chế thu hút vốn  
đầu tư của toàn xã hội, gia tăng giá trị, giảm khai thác tài nguyên, gắn liền với tăng trưởng xanh;  
Cần nghiên cứu, đề xuất chính sách ưu đãi, thuận tiện cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vay  
vốn đầu tư trồng rừng sản xuất; xây dựng chính sách bảo hiểm đối với rừng trồng kinh doanh gỗ  
lớn để người trồng rừng yên tâm đầu tư kinh doanh.  
- Biến đổi khí hậu có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sản xuất lâm nghiệp, do đó vấn đề này cần có  
những nghiên cứu đánh giá những tác động của biến đổi khí hậu nhằm đưa ra được các giải pháp  
thích hợp, đảm bảo mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ môi trường, ứng phó  
với biến đổi khí hậu.  
III. ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU ĐẾN NĂM 2030  
- Nghiên cứu các giải pháp kinh tế - kỹ thuật và cơ chế, chính sách để quản lý bền vững rừng tự  
nhiên ở Việt Nam trong điều kiện dừng khai thác rừng tự nhiên. Các giải pháp huy động nguồn tài  
chính và khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế để bảo vệ rừng tự nhiên.  
- Cơ chế/chính sách đẩy mạnh hợp tác, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị trong lâm nghiệp (từ  
tạo rừng cho tới chế biến, thị trường, xuất khẩu). Nghiên cứu thúc đẩy các hình thức tổ chức mới  
trong sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp.  
- Cơ chế hợp tác công tư (PPP) trong sản xuất lâm nghiệp.  
- Nghiên cứu hoàn thiện các cơ chế chính sách về lâm nghiệp cộng đồng.  
- Đề xuất các mô hình quản lý và phát triển rừng có hiệu quả, gắn với cơ chế quản lý tài chính  
bền vững (bảo vệ rừng, phát triển rừng gắn với du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí, thuê dịch vụ  
môi trường rừng, thuê đất lâm nghiệp...).  
- Nghiên cứu dự báo xu hướng phát triển thị trường gỗ và sản phẩm gỗ quốc tế để làm cơ sở  
định hướng sản xuất trong nước. Nghiên cứu nhu cầu sử dụng gỗ có chứng chỉ quản lý rừng bền  
vững, nhu cầu sử dụng gỗ lớn trong chế biến lâm sản và quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với chế  
biến. Cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển rừng trồng sản xuất gỗ lớn, có chứng chỉ quản lý  
rừng bền vững và đảm bảo yêu cầu gỗ hợp pháp.  
- Tiếp tục nghiên cứu về cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng: Hấp thụ và lưu giữ carbon  
của rừng; giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền  
vững, tăng trưởng xanh; Bảo vệ, duy trì vẻ đẹp cảnh quan tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học  
hệ sinh thái rừng cho kinh doanh dịch vụ du lịch; Cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn, con giống  
tự nhiên.  
- Hệ thống quản lý nhà nước về lâm nghiệp, hệ thống quản lý rừng và tổ chức sản xuất về  
lâm nghiệp, hệ thống các định mức kinh tế kỹ thuật ngành lâm nghiệp... đặc biệt là thể chế,  
cơ chế tổ chức quản lý ngành lâm nghiệp với vai trò là ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù theo  
định hướng Luật Lâm nghiệp 2017 (làm rõ phần cơ chế quản lý cơ sở chế biến, thương mại  
lâm sản).  
IV. KẾT LUẬN  
Lâm nghiệp Việt Nam thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến năm 2020 hướng tới phát triển bền  
vững trong giai đoạn phát triển của đất nước. Trong giai đoạn này, phát triển Lâm nghiệp được  
thực hiện theo các bộ luật, các chương trình và chiến lược phát triển lâm nghiệp lớn, bao gồm: 03  
94  
bộ luật quan trọng, đó là Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) năm 1991, Luật BV&PTR  
năm 2004, Luật Lâm nghiệp năm 2017, đã từng bước điều chỉnh ngành lâm nghiệp theo hướng là  
ngành kinh tế - kỹ thuật bao gồm quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng; chế biến và thương mại  
lâm sản (Luật Lâm nghiệp, 2017); Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020; 04  
chương trình, kế hoạch phát triển lâm nghiệp, đó là Chương trình Phủ xanh đất trống, đồi núi trọc,  
rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước (1992-1997), Dự án Trồng mới 5 triệu ha rừng (1998-2010),  
Kế hoạch BV&PTR giai đoạn 2011-2020, Chương trình Mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững  
giai đoạn 2016-2020. Bên cạnh đó, ngành lâm nghiệp đã tham gia hội nhập quốc tế sâu rộng thực  
hiện các công ước quốc tế và ký kết các văn kiện thương mại tự do có liên quan đến lâm nghiệp;  
trong đó việc tham gia Hiệp định đối tác tự nguyện thực thi Luật Lâm nghiệp, quản trị rừng và  
thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) có vai trò chiến lược quan trọng trong phát triển rừng và  
thương mại lâm sản.  
Những thành tựu nổi bật của ngành Lâm nghiệp trong giai đoạn 1986 - 2020 đã đạt được  
trên nhiều lĩnh vực của ngành, ghi những dấu ấn đậm nét trong sự phát triển nền kinh tế đất  
nước; trong đó, lĩnh vực nghiên cứu Kinh tế Lâm nghiệp trong thời kỳ đổi mới này có vai trò  
quan trọng và đã đóng góp tích cực vào sự phát triển của ngành. Tại mỗi giai đoạn phát triển  
trong các thời kỳ, các nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp đã cung cấp cơ sở lý luận và thực  
tiễn làm cơ sở đề xuất các chiến lược, chính sách và chương trình phát triển theo các lĩnh vực  
như: Giao đất giao rừng, Lâm nghiệp xã hội, phục hồi và phát triển vốn rừng, chính sách  
hưởng lợi, sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp lâm nghiệp nhà nước, cổ phần hóa doanh nghiệp  
lâm nghiệp, cơ chế chính sách về chi trả dịch vụ môi trường rừng, tái cơ cấu ngành lâm  
nghiệp, liên kết theo chuỗi giá trị, thị trường lâm sản, các nghiên cứu về quản lý rừng bền  
vững và biến đổi khí hậu...  
Mặc dù các nghiên cứu về kinh tế chính sách lâm nghiệp đã góp phần mang lại thành quả to  
lớn cho sự phát triển của ngành; để đạt được mục tiêu và định hướng của ngành trong giai đoạn  
tới, các lĩnh vực nghiên cứu cần bao quát toàn diện và cung cấp luận cứ khoa học phù hợp với  
bối cảnh phát triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Các định hướng nghiên cứu về kinh tế  
lâm nghiệp đến năm 2030 cần tập trung vào 08 vấn đề như sau:  
1. Cơ chế, chính sách để quản lý bền vững rừng tự nhiên ở Việt Nam;  
2. Hợp tác, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị trong lâm nghiệp;  
3. Cơ chế hợp tác công tư (PPP) trong sản xuất lâm nghiệp;  
4. Nghiên cứu hoàn thiện các cơ chế chính sách về lâm nghiệp cộng đồng;  
5. Mô hình quản lý và phát triển rừng có hiệu quả, gắn với cơ chế quản lý tài chính bền vững;  
6. Dự báo xu hướng phát triển thị trường gỗ và sản phẩm gỗ quốc tế để làm cơ sở định  
hướng sản xuất trong nước;  
7. Cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, đặc biệt đối với dịch vụ Carbon rừng; và  
8. Hệ thống quản lý rừng và tổ chức sản xuất về lâm nghiệp, hệ thống các định mức kinh tế  
kỹ thuật ngành lâm nghiệp.  
Đặc biệt, kết quả tổng kết những thành tích đóng góp của nghiên cứu kinh tế lâm nghiệp  
cho thấy, kết quả nghiên cứu của giai đoạn trước làm nền tảng cơ sở lý luận phục vụ xây dựng  
và ban hành chính sách lâm nghiệp của giai đoạn sau. Do đó, nghiên cứu kinh tế lâm nghiệp có  
tính dài hạn, ảnh hưởng và tác động lâu dài nên rất cần có sự quan tâm đầu tư dài hạn và vượt  
trước thời gian.  
95  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Nông nghiệp và PTNT, 1996. Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ lâm nghiệp 1991-1995. Nhà xuất bản  
Nông nghiệp.  
2. Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2005. Khoa học Công nghệ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 20 năm đổi mới,  
Tập 5- Lâm nghiệp. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.  
3. Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2013. Kết quả nghiên cứu nổi bật trong lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển nông  
thôn những năm đầu thế kỷ XXI.  
4. Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2019. Quyết định số 911/QĐ-BNN-TCLN ngày 19/3/2019 của Bộ Nông nghiệp và  
PTNT về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2018.  
5. Bùi Thị Minh Nguyệt, 2018. Chính sách cho thuê môi trường rừng: Kinh nghiệm trên thế giới và thực tiễn áp  
dụng ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội nghị Khoa học và công nghệ chuyên ngành lâm nghiệp, giai đoạn 2013-2018.  
6. Đại học Lâm nghiệp, 2019. Kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ 2015-2019.  
7. Đặng Kim Vui, 2017. “Đánh giá hiệu quả, tác động của Chính sách bảo vệ và phát triển rừng đối với đồng bào  
dân tộc thiểu số”.  
8. Đỗ Văn Bản và cộng sự, 2018. “Nghiên cứu xác định tuổi thành thục công nghệ và thành thục kinh tế của  
các mô hình rừng trồng keo lai và Keo tai tượng trên một số vùng sinh thái trọng điểm (Đông Bắc Bộ,  
Trung Bộ và Đông Nam Bộ”.  
9. Hoàng Liên Sơn và cộng sự, 2017. Thực trạng và giải pháp phát triển Mô hình liên kết theo chuỗi giá trị gỗ  
rừng trồng. Nhà xuất bản Nông nghiệp.  
10. Hoàng Liên Sơn, 2019. “Ứng dụng công nghệ thông tin trong truy xuất và quản lý gỗ hợp pháp đối với gỗ  
rừng trồng”.  
11. Nguyễn Ngọc Lung và Hoàng Liên Sơn, 2018. Chương: Giảm phát thải khí nhà kính nhờ không mất rừng và  
không suy thoái rừng. Kinh tế xanh cho phát triển bền vững trong bối cảnh Biến đổi khí hậu. Nhà xuất bản  
Chính trị Quốc gia Sự thật. Số ISBN 978-604-57-3778-1.  
12. Nguyễn Gia Kiêm, Hoàng Liên Sơn, 2017. Liên kết theo chuỗi giá trị dòng sản phẩm đồ gỗ ngoại thất: Nghiên  
cứu trường hợp tại Công ty Cổ phần Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ. Bộ  
Nông nghiệp và PTNT. Số 2, trang 3-10.  
13. Quyết định số 78/2008/QĐ-BNN ngày 01 tháng 7 năm 2008 Phê duyệt chiến lược nghiên cứu Lâm nghiệp Việt  
Nam đến năm 2020.  
14. Tek Narayan Marasenia, Hoang Lien Son, Geo Cockfield, Hung Vu Duy, Tran Dai Nghia, 2017. Comparing the  
financial returns from acacia plantations with different plantation densities and rotation ages in Vietnam. Forest  
Policy and Economics 83 (80-87).  
15. Trần Thanh Cao và cộng sự, 2012. “Phân tích ngành hàng gỗ rừng trồng nhằm đề xuất giải pháp phát triển trồng  
rừng sản xuất”.  
16. Vũ Tấn Phương và cộng sự, 2007. Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ: Nghiên cứu lượng giá giá trị môi trường và  
dịch vụ môi trường của một số loại rừng chủ yêu ở Việt Nam. Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường  
rừng (RCFEE).  
96  
pdf 12 trang yennguyen 11360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả nghiên cứu kinh tế chính sách lâm nghiệp sau 35 năm đổi mới (1986-2020) và định hướng đến năm 2030", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfket_qua_nghien_cuu_kinh_te_chinh_sach_lam_nghiep_sau_35_nam.pdf